- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

VẾT THƯƠNG CỦA MỘT HẠT BỤI

15 Tháng Sáu 20221:33 SA(Xem: 35790)
 
hình TTKC
Nhà văn Trương thị Kim Chi

 


Tác giả:

Trương thị Kim Chi

 Quê quán: Quảng Ngãi

Tốt nghiệp khoa Việt Văn, Đại Học Sư Phạm Sài Gòn

Hiện định cư tại Hoa Kỳ

 

Truyện ngắn

VẾT THƯƠNG CỦA MỘT HẠT BỤI

Trương thị Kim Chi

 

 

1)       

                Em cúi đầu, giọng thấp hẳn xuống:

-  Cô ơi, theo em được biết, hồi xưa, một trong những hình phạt vô cùng kinh hãi là tứ mã phanh thây.

-  Ừ, chỉ hình dung thôi cũng đủ khiếp sợ.

-  Dạ, tay chân của phạm nhân bị cột vào bốn sợi dây nối vào chân bốn con ngựa. Khi hành hình, các nài ngựa sẽ thúc ngựa phi ra bốn hướng; nếu không có nài ngựa, người ta sẽ thét to lên hoặc đánh ngựa để chúng hoảng sợ bỏ chạy. Và bốn sợi dây sẽ kéo tay chân phạm nhân đến khi thân thể của họ bị xé ra.

-  Ôi thôi! Nghe sợ quá!  Sao bỗng dưng em lại nói đến chuyện đó?

            Em chậm rãi:

-  Dạ, em đã tìm đọc nhiều thiệt nhiều những kiểu hành hình đau đớn nhất để coi cái đau của mình cỡ nào. Cô ơi, em đã từng bị hành hình theo cách tứ mã phanh thây!

-  Hả?

            Em trầm ngâm.

-  Dạ, mà… có thể còn đau hơn, vì em không phải là phạm nhân, em không làm gì nên tội, em hoàn toàn vô tội, bấy giờ em chỉ là một đứa nhỏ chưa đầy tám tuổi.

-  Hả?

-  Dạ, ba em đã đem em ra cá độ, rồi ba bị thua.

-  …

-  Dạ, thực ra chuyện đó không lạ gì ở xứ em.

            Làn gió xuân êm ái thổi qua, giọng em nhẹ tênh:

-  Không hiểu sao em nhớ rõ lắm cô à. Cứ như thước phim được quay rất chậm, chậm đến độ không thể nào chậm hơn được nữa. Đó là buổi xế trưa, nắng quái hắt vào giữa sân, ba em cùng năm người đàn ông đang ngồi nhậu trên bộ vạc tre kê trước hiên nhà. Nhưng thôi, để tuần tới em kể cô nghe tiếp, tới giờ vô lớp rồi.

            Em và tôi cùng nhanh chân xuống cầu thang lộ thiên. Những bậc thang rộng bằng xi măng giả đá nâu với những nét vân đen đẹp tuyệt. Gió biển lồng lộng đuổi theo tóc chúng tôi. Cửa phòng lớp học Yoga đang hé mở. Chúng tôi rón rén bước vào. Vài người khác cùng vào. Chúng tôi khe khẽ, nhè nhẹ trải tấm chiếu nhỏ của mình ra. Cô giáo có mái tóc vàng sáng, đôi mắt xanh lá cây, miệng luôn nở nụ cười tươi vui ấm áp, đón chào cả lớp.

 

 

2)                   

            Khoảng tám năm trước đây, một sáng Thứ Bảy, tôi đang dạy lớp Tiếng Việt trong  nhà thờ, một người đàn bà Mỹ trắng dẫn em vào lớp. Bà tự giới thiệu đơn giản, bà tên Julie. Rồi bà nói, con gái yêu của bà vừa làm xong bài khảo sát trình độ, thầy hiệu trưởng xếp con gái yêu vào lớp nầy. Trước khi ra về, bà bắt tay tôi, vui vẻ nói, con gái yêu của bà rất thích học tiếng Việt, nhất định bà cũng sẽ học tiếng Việt.

            Con gái yêu của bà là em, người Việt, dáng gầy guộc, da hơi ngăm tái, đôi mắt to mênh mang ánh nhìn xa vắng, đôi môi không hề nở nụ cười. Khuôn mặt buồn bã của em được ôm kín bởi mái tóc đen dày xõa ngang vai.

            Giờ ra chơi, em không rời khỏi chỗ. Tôi đến bên em.Em đang lần giở những bài học tiếp theo, chăm chú đọc.

-  Chào em!

            Em hơi giật mình, ngẩng lên, vẻ dè dặt:

-  Em chào cô!

-  Cô rất vui khi có em trong lớp. Em chăm học như thế nầy chắc vài bữa nữa em sẽ được lên lớp Năm.

-  Dạ… em… em muốn học lẹ thiệt lẹ… để đọc sách tiếng Việt dễ dàng hơn.

-  Tuyệt lắm. Nếu em có gì cần hỏi, cô sẵn sàng giúp em.

-  Dạ… Cám ơn cô.

            Em tiến bộ rất nhanh. Những bài tập làm văn tả cảnh tả người của em khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Ẩn chứa trong đôi mắt u buồn xa vắng của em là cả một khoảng trời nồng ấm tình yêu thương đằm thắm dịu dàng.

            Rồi mùa học qua nhanh. Sau đó em cũng mau chóng rời trường Tiếng Việt của nhà thờ.

            Em:

-  Em đã đọc ngốn ngấu sách báo tiếng Việt, như thể người đói được ăn, người khát được uống. Như thể khi lạnh run quơ được tấm mền để đắp. Em thường đọc trên Internet. Cô ơi, được đọc sách là một hạnh phúc lớn của em.

            Em đọc sách tôn giáo, sách văn chương, sách lịch sử. Em lên mạng hàng ngày theo dõi tình hình bên Việt Nam. Hễ rảnh là em đọc. Bởi em muốn biết nguồn cội mình. Em muốn biết tại sao ba em và nhiều đàn ông ở Việt Nam nghiện rượu. Em muốn biết tại sao má em và nhiều đàn bà ở Việt Nam cúi đầu nhẫn nhục chịu đựng khổ đau. Tại sao tại sao tại sao? … Em muốn biết quá nhiều, mà em hiểu thời gian thì trôi quá nhanh nên em không thể phí phạm. Lắm khi nhức đầu quá, em chỉ muốn quên quên quên…, tất cả tất cả… nhưng rồi em không thể nào quên. Cái buổi xế trưa nắng quái hắt vào giữa sân, ba em thua cá độ.

-  …

-  Ba em cùng năm người đàn ông đã nhậu suốt từ sáng. Họ nhậu tơi bời. Lưỡi họ dường như đã cứng lại nên giọng họ nhừa nhựa. Họ nói năng bậy bạ, hát xướng bậy bạ. Em là người đi mua rượu. Cứ chừng một hồi, ba em kêu em đi mua rượu. Em  không nhớ bao nhiêu lần em đã phải lội bộ vô trong ấp để mua rượu.

-  …

-  Và lần cuối cùng, khi em, một tay vịn thanh cầu, một tay ôm bình rượu, từng bước chân men trên cây cầu tre dẫn vào nhà, em thấy ba em chỉ tay vào em, lè nhè: “Nó đó”. Rồi ba đổ sụm xuống như cây chuối bị chặt gốc. Sau nầy em mới hiểu “Nó đó” tức là ba em đem em ra cá độ. Họ cá nhau chuyện gì em không biết. Vậy là năm người kia kéo em xuống chiếc xuồng. Lúc đó em vẫn chưa hiểu gì ráo. Em kêu khóc, em giằng co, em giẫy giụa. Ba em vẫn gục trên bộ vạc tre. Má em đang nấu cơm chiều, nghe tiếng kêu khóc, nách bé Út chạy ra, ngơ ngác, líu quíu xà quần quanh sân bởi vướng mấy cái lu, cái khạp đựng nước mưa. Má vấp té mấy lần trước khi chạy men theo bờ sông, mặc cho bé Út đang bò lê khóc thét trên vũng nước. Anh Hai em hơn em ba tuổi, đứng chỗ sàn nước cạnh chân cầu, miệng há hốc, ngơ ngác nhìn. Không ai hiểu chuyện gì đang xảy ra. Hình bóng má cuối cùng trong trí nhớ em là tóc má xổ tung ra, xấp xải, bước chân trần của má liêu xiêu tuyệt vọng dọc theo bờ. Em nghe rõ tiếng gào khóc của má, của anh Hai, của bé Út đuổi theo, chạy dài dài theo khúc sông một đỗi rất lâu. Chỗ nhà em vắng, không ai nghe tiếng kêu cứu. Chuyện diễn ra nhanh như một ánh chớp.

            Tôi ôm trán, rên rỉ:

-  Ôi!

            Biển muôn đời vỗ sóng. Biển nơi đây bình yên vỗ sóng. Giọng em như bị cắt thành từng lát mỏng dính trong thoáng gió biển lướt qua:

-  Cô ơi, đó chỉ là bắt đầu. Chỉ là bắt đầu.

            Em dừng lại. Không dưng em và tôi cùng nhìn ra xa. Bờ Thái Bình Dương vào chiều xanh thăm thẳm. Trời cũng xanh thăm thẳm nên biển và trời như tan hòa vào nhau. Xa xa, những con sóng trắng phau nhấp nhô lấp lóa dưới ánh nắng trông như dát bạc. Xa tít, giữa biển trời xanh ngát, thấp thóang vài cánh thuyền buồm nhỏ xíu như những chiếc lá, lấp lánh. Chỗ chúng tôi ngồi xa biển nên không nghe tiếng sóng vỗ, nhưng gió thì lồng lộng. Gió thổi tung mái tóc em và tôi. Ước gì gió cũng thổi tung hê tất cả những bất hạnh đời em. Giọt nước mắt vẫn cứ trào ra dù tôi cố nén, nhưng gió biển đã kịp thổi khô.

-  Cô ơi, giá như ngày đó, họ cầm dao giết em, coi bộ đỡ độc ác hơn là họ đã tứ mã phanh thây em. Dày vò hành hạ tâm hồn em. Em đã mấy lần tìm cái chết, nhưng không thành, cũng qua đó, em hiểu rằng, chết không phải là điều dễ dàng.

-  …

-  Em đã qua nhiều ngày điều trị tâm lý sau khi được cứu ra khỏi hang ổ bọn buôn người. Ngay cả khi được sang đây, em vẫn  tiếp tục được điều trị,  nhưng làm sao em quên được.

            Càng về chiều, biển càng sẫm màu, đẹp dịu dàng trong vẻ đẹp vĩnh cửu. Nắng đã nhạt màu. Gió bắt đầu lạnh. Tận chân trời đằng tây, xa tắp, mặt trời màu vàng cam vừa tựa cằm trên đường chân trời, nhuộm đỏ tía một vùng rực rỡ. Em dừng lại, trầm ngâm nhìn biển.

-  Mẹ Julie thường đưa em đi tắm biển ở đây. Mỗi lần em ngập người trong biển, em cảm thấy dễ chịu lạ lùng. Nước biển mênh mông, sóng biển lúc êm ái vỗ về, lúc mạnh mẽ dữ dội dường như muốn xóa sạch mọi vết thương, vết hằn trên thân thể em. Biển bao la dường như nhắc nhở rằng em chỉ là hạt bụi. Và vết thương của một hạt bụi thì có nghĩa gì đâu.  Phải không cô? Ngâm mình trong biển, ngữa mặt nhìn trời xanh trên cao, em tự nhắn nhủ rằng em còn nhỏ hơn một hạt bụi, nỗi đau của cái chưa bằng hạt bụi thì có đáng gì.

-  …

-  Mẹ Julie thương em lắm. Có những đêm khuya, cơn ác mộng ngày xưa hành hạ em, em ú ớ, vùng vẫy, gào khóc, cào cấu. Mẹ Julie chạy qua, ôm em vào lòng, vỗ về em, thì thầm cầu nguyện.

 

 

3)                   

            Nhớ hôm đầu tiên vào lớp Yoga, tôi ngỡ ngàng, vui mừng, em đó phải không? Em chạy ùa đến bên tôi, dạ em đây, em chào cô. Lâu quá gặp lại cô, cô khỏe không? Cô khỏe, cám ơn em, còn em? Dạ em cũng khỏe, em đã vào đại học. Ừ, cũng lâu rồi, mà em xinh quá, nhìn mãi cô mới nhận ra em. Cám ơn cô.  Quả thật cô và em có duyên với nhau ha, cuộc gặp lại hiếm có đó em. Dạ.

            Từ đó, em và tôi hay đến trường sớm độ vài chục phút, cô trò cùng leo lên tầng hai, ngồi trên chiếc ghế đá chỗ hành lang hướng về biển. Cô trò đều yêu thích nơi nầy. Hành lang thênh thang rộng, thênh thang nắng gió, cấu trúc rất nghệ thuật, đẹp mê hồn. Có bữa biển chuyển mình, gió nhiều, lạnh thấu xương, cô trò vẫn co ro trong chiếc áo khoác, thưởng thức hương gió, thưởng thức vẻ đẹp kỳ vỹ của trời biển, và chuyện trò.

            Rồi khi vào lớp, cô trò trải tấm chiếu cạnh nhau. Chúng tôi thở chậm, đều, sâu và nhẹ. Chúng tôi mềm mại trong những động tác căng duỗi người và cân bằng.

          Phần cuối của buổi học rất dễ chịu. Cả lớp nằm im trên sàn, thả lỏng người. Cô giáo sẽ kéo kín tấm rèm cửa hướng ra biển chiều đang phai nắng, và tắt tất cả các ngọn đèn, để ru mọi người bằng tiếng chuông nhẹ êm ngân nga.

 

4)                   

-  Hè năm ngoái, em về Việt Nam. Em đã đi qua gần như suốt chiều dài của đất nước mình. Em đã xuống tận mũi Cà Mau và lên đến Lạng Sơn. Những dấu ấn lịch sử, Tây Sơn Bình Định, núi Nưa... Em đã được đi qua nhiều dòng sông lịch sử, sông Bến Hải, sông Bạch Đằng, sông Hát…

-  Ồ, Tuyệt quá! Cô chợt nhớ hồi nọ khi học tới bài Bà Triệu, em giơ tay xin đọc câu nói của bà: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình  ở  biển đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người.”

-  Dạ. Cám ơn cô. Cô nhớ hay thiệt!

-  Điều đáng nhớ thì phải nhớ, em à.

-  Dạ, cô ơi, em đã đi qua nhiều thành phố, nhiều miền nông thôn. Ô thôi! Đất nước thì bé nhỏ mà quán nhậu thì nhiều vô kể, em cứ tự hỏi tại sao tại sao?

-  Rồi… em đã tìm được gia đình?

-  Má em, sau khi em bị người ta mang đi, đã bị điên, rồi mất vì uống nhầm phải chai thuốc trừ sâu. Anh Hai em buồn giận ba em, bỏ nhà đi xa, nghe đâu đi xuất khẩu lao động gì gì đó, không ai biết tin tức. Bé Tư lên Sài Gòn đi làm thuê để kiếm tiền gửi về quê nuôi ba. Rồi ngày nọ, bé bị người ta dụ dỗ đi lấy chồng Đài Loan… Nghe kể, không bao lâu sau, người ta đưa cái hủ tro cốt của bé về… Bữa đó ba em nhậu xỉn, ôm hủ cốt bé Tư chạy qua cây cầu, trợt chân rớt xuống sông chết đuối. Chuyện gia đình em đó.

-  …

-  Giờ em vẫn còn đang học, và em đã định hướng cuộc đời mình. Em đã hiểu ra nỗi đau của em. Cô ơi, nỗi đau của em chưa bằng hạt bụi, sá gì với nỗi đau của má, của anh Hai, của bé Tư; thấm tháp gì với nỗi đau của biết bao nhiêu những đứa trẻ, những cô gái đang bị đày đọa trong các chợ buôn người rải rác trên nhiều quốc gia trên thế giới, và còn nhiều nữa... Nỗi đau của em đã dạy em bài học sống. Phải sống như thế nào, phải làm gì? Em không muốn nỗi đau của em trở thành vô ích.

 

5)       

                Chúa nhật, một chị bạn rủ tôi đi nhà thờ Mỹ. Chị nói, bữa nay ở đó có một vị mục sư nổi tiếng được mời về giảng. Nghe nói lời giảng, cách giảng của vị mục sư ấy có lửa, đầy sức lan tỏa, thuyết phục.

                Tôi ngỡ ngàng trước cách trang trí thanh nhã và trang trọng của nhà thờ. Tôi lặng im chiêm bái những bức tranh minh họa cuộc đời Đấng Cứu Thế trên các khung cửa sổ kính màu phỏng theo phong cách Gothic.

                Tôi rảo mắt tìm kiếm người quen, và bỗng hết sức kinh ngạc. Kìa! Có phải là em? Tôi đeo mắt kính vào, rồi gỡ mắt kính ra, có phải là em? Một cảm xúc rất lạ trào dâng khiến tôi rưng rưng.

                Đúng là em! Em đang đứng trong ban hát dẫn trên bục giảng. Em bé nhỏ giữa các cô gái Mỹ trắng, Mỹ màu cao lớn. Em xinh xắn tinh khôi trong chiếc đầm trắng, giày trắng, dây buộc tóc màu trắng. Em như một đóa huệ trắng nuốt. Em thanh khiết trong sáng như thiên thần. Em hát hết lòng hết dạ. Thỉnh thoảng em nhắm mắt như để lắng sâu tâm hồn vào lời ca thánh.

                Kìa là bà Julie, mẹ em. Tôi vừa bắt gặp đôi mắt long lanh hạnh phúc của mẹ Julie đang ngồi dãy ghế cạnh tôi. Tôi biết lát nữa đây, khi nói về em, bà Julie sẽ vô cùng sung sướng “con gái yêu của tôi, con gái yêu của tôi…”

                Em đó ư? Đứa bé đã từng quằn quại dưới gánh nặng quá khứ đau buồn tủi hờn.

                Em đó ư? Đứa bé mà ngày nọ, trước giờ vào học, thường ngồi ủ rủ trong góc nhỏ chỗ chân cầu thang nhà thờ, đôi mắt vô hồn, vẻ mặt lạnh lẽo, môi không bao giờ nở được nụ cười.

                Ừ, đó là Em! Em ngày xưa đã từng bị hành hạ đau đớn như cách tứ mã phanh thây và đã học được rằng đó chỉ là vết thương của một hạt bụi.

Trương thị Kim Chi   

 


 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 104)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 62)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 64)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 171)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 852)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 930)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1508)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1749)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1451)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2218)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 171)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10948)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17611)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16659)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 104)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 64)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1749)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2379)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 62)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2204)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2058)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2636)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 852)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 930)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1451)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2218)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1508)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2108)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3963)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 4109)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2995)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14325)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30410)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36641)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12095)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13436)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3684)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5533)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5292)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 5856)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6458)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8895)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8190)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11151)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.