- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐÊM TÂN HÔN THẾ KỶ

28 Tháng Giêng 202211:19 CH(Xem: 35881)

thang-long
Thành Thăng Long - ảnh Internet

Mai An Nguyễn Anh Tuấn     

ĐÊM TÂN HÔN THẾ KỶ     

Truyện lịch sử     

 

Trong một ngôi nhà của quan lại ở Kinh thành Thăng Long, có một cuộc gặp kín giữa vài nho sĩ vốn là tôi trung của nhà Lê, cùng đôi người thuộc phe chúa Trịnh. Siêu quận công, danh sĩ Ôn Như Nguyễn Gia Thiều cũng ở đó. Sau mấy câu bàn luận về thời cuộc, một vị cầm tờ giấy viết đặc chữ Nho, đứng dậy vẻ hể hả:

- Tôi xin hiến các vị một bài hành, vừa viết đêm trước đây!

                                           “TÂY SƠN HÀNH

Thời, Nguyễn Chỉnh dẫn Tây Sơn Nguyễn Huệ binh lai Kinh thành, Cảnh Hưng hoàng đế dĩ Ngọc Hân công chúa hạ giá Nguyễn Huệ, cố hữu thử tác… ( Bấy giờ, Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn quân Tây Sơn Nguyễn Huệ tới Kinh thành, Hoàng đế Cảnh Hưng gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ, cho nên có bài thơ này.

… Đấng mày râu không có gan giữ được cung thành

Để bực quần thoa phải gán thân cho giặc mạnh

... Chẳng nói chẳng cười chẳng từ tốn

Gầm lớn một tiếng, mãnh liệt như hổ

Nghìn cân sà xuống

... Bông hoa kiều diễm trên cành bị oanh khùng giày vò…”*

       Mọi người cuời vui, vỗ tay hưởng ứng.

       Ôn Như hầu im lặng khó chịu từ đầu, không đợi tiếng vỗ tay dứt và những lời bình luận kịp tuôn ra, ông đứng dậy, bao nỗi bực tức lâu nay kìm giữ lại giờ ông trút hết vào cái không khí đắc thắng đượm mùi thô tục:

- Lúc này, ta thấy các vị đang tự chứng tỏ là những kẻ thiển cận, hủ lậu, thấp kém hơn cái cái người mà các vị vừa chế diễu, bôi nhọ đấy!

        Rồi ông bỏ đi. Mọi người chưng hửng. Có người thấy xấu hổ, cúi đầu.

        Cũng lúc đó, Nguyễn Huệ sải bước tới phòng tân hôn, ông định đẩy cửa bỗng dừng lại e dè.

        Bên trong, Ngọc Hân cũng đang hồi hộp chờ đợi, với không ít nỗi lo lắng mơ hồ. Những khoảnh khắc sắp tới sẽ vạch đôi hai thế giới của Ngọc Hân – thế giới con trẻ, và thế giới của một người đàn bà, đúng hơn, một cô gái non nớt buộc phải trưởng thành trước tuổi…

       Mới mấy hôm gần đây thôi, Ngọc Hân cùng mấy chị chơi tam cúc, bên cạnh là cái nồi đồng lật ngược lên, cô nào thua thì bị quệt nhọ nồi vào má. Ngọc Hân bị mấy cái quệt vào mặt. Đang chơi vui thì có lệnh của Vua gọi Ngọc Hân gấp. Ngọc Hân cứ mang bộ mặt ngộ nghĩnh ấy trình diện Vua trong ánh đèn dầu lạc. Ngọc Hân đến long sàng Vua. Vua bảo mọi người ra hết, chỉ còn lại có bà Chiêu Nghi và Ngọc Hân.

       Vua lấy hết sự trịnh trọng:

- Nguyên soái… xin cầu hôn công chúa… Ta đã nhận lời...

       Ngọc Hân giật mình, đột ngột, ngơ ngác. Chiêu Nghi cũng ngỡ ngàng.

       Vua im lặng lúc lâu, rồi hỏi Ngọc Hân:

- Con có bằng lòng không?

       Ngọc Hân cúi đầu lấy hết dũng cảm thưa lại:

- Bẩm cha, con đâu dám trái lời… Hiềm nỗi con mới mười sáu tuổi, còn đang dở dang việc học. Con không lấy chồng đâu ạ.

       Vua xoa đầu con gái:

- Việc này hệ trọng lắm... Con thấy ông tướng Tây Sơn Nguyễn Huệ rồi chứ gì. Một người trọng lễ nghĩa… Và công của ông ấy lớn lắm…

       Ngọc Hân cúi đầu khóc:

- Con chưa muốn xa cha mẹ…

- Con sẽ làm sứ giả hòa hiếu giữa Đàng ngoài và Đàng trong, bớt được binh đao khổ cực cho dân chúng. Con phải nghe lời cha...

       Nhà vua bỗng hoảng hốt thấy vẻ mặt công chúa. Ngọc Hân vội chạy vào trong nhà rửa mặt và khóc nức nở. Bà Chiêu Nghi đến sau Ngọc Hân, ôm rồi kéo con vào lòng.

- Mẹ không muốn có cuộc hôn nhân này… nhưng số mệnh đã sắp đặt… Mẹ sắp phải xa con rồi… Con đừng lo nghĩ... Ông bà ta đã bảo: “Trai khôn kén vợ chợ đông/ Gái khôn kén chồng giữa đám ba quân”…

       Nói vậy, nhưng mắt bà cũng chảy lệ.

       Ngay trong đêm đó, Ngọc Hân mặc giả trai, vượt sông sang làng Nành, nơi hai chị em nàng đã sống những năm tháng đẹp đẽ nhất của tuổi thơ. Người lái đò là cô gái yêu khúc ngâm “Cung oán” của Ôn Như Nguyễn Gia Thiều mà nhờ vậy Ngọc Hân đã quý mến, gắn bó với cô. Khuôn mặt đẫm lệ, Ngọc Hân tâm sự với cô lái đò, và được cô ta khuyên: “Thưa công chúa, theo tiểu dân, nếu có thể được, người nên từ chối cuộc hôn nhân… Những tấm gương đau đớn của các cung phi, cung nữ, các phận lẽ mọn còn treo đó...” Ngọc Hân bặm môi lau nước mắt. Khi sang tới làng Nành, Ngọc Hân tới ngay chùa, và may gặp được cả hai thầy cũ là Cống Trác và Sư Thanh Quế. Vị Thượng tọa trầm ngâm nói sau khi thông tỏ mọi chuyện:

- Khốn khổ nước Đại Việt đau thương, mấy trăm năm nay huynh đệ tương tàn, máu chảy thành sông, xương chất thành núi. Hôm nay, Đàng ngoài, Đàng trong đã có cơ hòa hiếu… Mà người then chốt nắm giữ hòa hiếu đó... Ngờ đâu, lại là công chúa đây…

       Nhà sư bất ngờ chắp tay vái lạy Ngọc Hân, khiến cô giật mình.

- Ôi, sao thầy lại làm thế?

       Thầy Cống Trác sau một phút bàng hoàng cũng đứng dậy vái Lê Ngọc Hân.

- Xin hai thầy đừng làm vậy, tiểu sinh đau lòng lắm!

- Vừa rồi chúng tôi vái lạy trò chính là vái lạy người nắm giữ cái hòa hiếu ấy, điều mà cả nước Đại Việt mong đợi bấy lâu nay… - Cống Trác ngậm ngùi trước dáng hình còn mang dấu vết nữ sinh và cặp mắt nhòe nước của nàng.

       Ngọc Hân gục đầu xuống bàn khóc. Một lát cô ngẩng đầu lên, lau nước mắt, vuốt tóc.

- Cảm ơn hai thầy. Tiểu sinh xin nghe lời hai thầy. Vài bữa nữa lễ đại Hỷ của tiểu sinh, xin mời hai thầy sang dự ạ…

       Trước mặt vua và hoàng hậu Chiêu nghi, Ngọc Hân đầy nước mắt .

- Thưa hai đấng sinh thành, vì đại nghiệp của quốc gia, con xin vâng lời… Con đã kính trọng chàng, và con sẽ cố gắng để yêu thương được chàng…

- Giờ thì trẫm có thể yên tâm nhắm mắt được rồi…

       Ngọc Hân chợt nhớ lại mồn một cái ngày cô ngơ ngác đi trên một góc phố, thấy mọi người xem lính Tây Sơn dán bố cáo chữ Nôm “Phò Lê diệt Trịnh”, cô bước tới hòa với đám đông đọc bố cáo: “Hai trăm năm nay, các đời chúa Trịnh vơ vét của cải, chìm ngập xa hoa, lấn át vua, gây đau thương khôn xiết cho chúng dân! Vì thế, các nghĩa dũng Tây Sơn dựng cờ đại nghĩa, vượt ngàn dặm ra Bắc Hà, diệt bè đảng chúa Trịnh, giúp vua Lê khôi phục vương triều. Đội quân của Tây Sơn tam kiệt thề không xúc phạm tới chúng dân dù chỉ một cành cây ngọn cỏ…” Một thị nữ hớt hải đi khắp nơi tìm kiếm, nhìn thấy Ngọc Hân bèn chạy tới, nói không ra hơi: “Tôi đi tìm công chúa mãi! Trong cung, bà Chiêu Nghi đang lồng lên lo lắng đấy! Về ngay đi, đang loạn mà!” Đúng lúc đó có tiếng trống diễu hành vang lên rộn rã. Một đoàn người ngựa oai phong đang diễu trên đường phố Kinh thành. Tiếng trong đám đông: “Kia, hình như là ông tướng Tây Sơn Nguyễn Huệ?” - “Lời đồn quả không ngoa” - “Chúa làm sao chọi nổi với đội quân này?!” Ngọc Hân giật mình, rồi chăm chú theo dõi. Nguyễn Huệ và các Đô đốc dũng mãnh trên mình ngựa, vẻ uy phong rạng rỡ. Ánh mắt Ngọc Hân đầy vẻ ngưỡng mộ.

       Nàng nhớ lại những giờ phút cuối cùng của vua cha, Ngọc Hân và Nguyễn Huệ được gọi tới bên ngài. Vua Hiển tông thều thào:

- Ta trao hòn ngọc quý cho Nguyên soái… Và vận nước giờ đây trông mong vào khanh…

       Huệ rập đầu tuân chỉ.

- Ta muốn gặp riêng con gái ta…

       Huệ kính cẩn cúi đầu, lùi bước đi ra. Ngọc Hân bước tới, cúi gập người bên long sàng.

       Vua dốc tàn lực trước khi trút hơi thở cuối cùng:

- Con ơi… Là người làm cha, ta rất xót cho con vì con đã không có quyền lựa chọn hôn nhân… Cả một đời ta đã bất lực để giang sơn nghiêng ngả… Ta phải trốn chạy trong vui chơi hưởng thụ cho bớt nhục nhã… Giờ, may có con… Con sẽ thay ta gìn giữ non sông này… Đại nguyên soái là người đáng để con trao thân gửi phận đó con… Ta hy vọng tuổi xuân con không uổng phí…

       Nguyễn Huệ cũng hồi hộp chẳng kém người ở trong phòng. Ông chợt nhớ lại cái duyên cớ ngẫu nhiên mà giống định mệnh trong lễ triều đình tiếp đón tướng lĩnh Tây Sơn. Khi viên Thái giám tuyên: “Bây giờ, xin mời quý khách Đàng Trong thưởng thức Âm luật đặc sản của Kinh thành!”, Huệ nghe thấy công chúa cả tâu Vua: “Thưa phụ hoàng, giáo phường ca trù vừa chạy loạn hết rồi ạ” – “Thế không có ai thay được à?” – “Thưa, lúc này may ra chỉ có Ngọc Hân thôi ạ!” Vua lưỡng lự, rồi gật đầu. Công chúa cả đến chỗ Ngọc Hân, nói gì đó. Ngọc Hân ngần ngừ một lát rồi cầm chiếc đàn nguyệt miễn cưỡng bước ra .

       Ngọc Hân gảy đàn và hát :

Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ,

Quán thu phong đứng rũ tà huy.

Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.

Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy,

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

Trăm năm còn có gì đâu,

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì !**

       Huệ thấy Ngọc Hân đàn hát mới được một câu, có một viên quan già bước tới, cầm bộ phách gõ nhịp cho cô, hình như mắt ông ta rớm lệ, còn Ngọc Hân nhìn ông vẻ biết ơn. Hỏi ra, Huệ được biết đó là danh sĩ Thăng Long Ôn Như Nguyễn Gia Thiều.

       Trong lúc Ngọc Hân hát, Huệ chăm chú lăng nghe, và nhìn mỗi lúc một say đắm… Sau khi triều đình tiễn khách về Quán dịch, Huệ ngồi chìm trong ảo ảnh về người đẹp lạ lùng mà ông vừa quan sát suốt cả canh giờ, miệng lẩm nhẩm: “Tang thương đến cả hoa kia cỏ này, sao buồn thế, thấm thế”... Khi Nguyễn Hữu Chỉnh ướm hỏi: “Tướng quân thấy nàng công chúa đàn hát ra sao?”, Huệ ngơ ngác một lúc chưa hiểu ông ta nói gì. 

- Nàng tên gì?

        Lời Chỉnh như chuông ngân nga: “Ngọc Hân”… “Ngọc Hân”… “Ngọc Hân”...

- Trong đời, ta chưa gặp một cô gái nào như nàng… Nàng đẹp, và tài hoa, lẽ đương nhiên. Công chúa nào của Bắc Hà cũng đẹp như hoa, gấm… Song ở nàng hình như có một sức thôi miên bí ẩn hiếm thấy…

- Thưa chủ tướng, đó chính là người đàn bà sẽ chắp thêm đôi cánh thống trị thiên hạ của người…

 - Ngươi vừa nói gì vậy? Thống trị ai?

         Chỉnh vội vã:

- Tôi muốn nói rằng, tôi đã tâu Vua: bệ hạ, đệ nhị Tây Sơn tam kiệt, người vừa được phong Đại nguyên soái xem ra đã để ý tới cô công chúa này rồi đấy ạ… Tôi sẽ sang ngay cung vua để cầu hôn cô công chúa ấy cho người…

        Chỉnh vừa quay đi, Huệ gọi một người hầu thân cận tới.

- Nghĩ về công chúa Ngọc Hân, ta càng nhận ra sự thô thiển, lố bịch của tay Chỉnh! Điều đó có thể làm ô uế thanh danh của nàng… Người hãy giúp ta làm mai mối, thay cho tay Chỉnh…

        Viên hầu cận:

- Vâng, con sẽ chuẩn bị đồ ăn hỏi, cùng với quà cho tất cả các công chúa.

       Dường như hồi ức nhỏ kia giúp viên võ tướng có thêm lòng dũng cảm. Ông gõ nhẹ ba tiếng vào cánh cửa.

Tiếng run rẩy gần như thầm thì phía trong vọng ra: “Xin mời phu quân”.

       Huệ đẩy cửa bước vào. Ngọc Hân trùm đầu bằng một miếng vải đỏ thưa, đang ngồi trên mép giường. Huệ bước nhẹ tới, hơi thở ông nén lại:

- Ta muốn ngắm nhìn dung nhan nàng lần nữa…

       Huệ định gỡ tấm vải đỏ, Ngọc Hân giữ tay Huệ. Nàng còn muốn thử thách thêm người sẽ là chồng nàng. Dù sao, nàng cũng mới thoát thai từ một cô bé.

- Đừng vội, phu quân… thiếp muốn ngắm nhìn người anh hùng của thiếp qua làn vải này thêm chút nữa…

       Huệ bỗng dưng cười khẽ:

- Những ước muốn kỳ quặc nhất của nàng giờ đây, đối với ta cũng đều đáng yêu, đáng trọng…

       Ngọc Hân không cảm thấy bất ngờ trước những lời lẽ có đôi cánh xã giao nhưng chứa đựng sự chân thực kia, và nàng thấy cần đáp lại bằng sự chân thực mà vẫn giữ được nghi lễ trang trọng:

- Không kỳ quặc đâu ạ! Bởi công đức của đại Nguyên soái đối với Lê triều, với Quốc gia khiến thiếp phải chói mắt, nên thiếp cần vật này để tập nhìn chàng như một vị lang quân…

       Ngọc Hân từ từ tháo bỏ tấm vải che mặt ra. Huệ bật cười lớn một hồi:

- Thế nàng đã hết chói mắt vì ta rồi chứ?

- Cũng đỡ nhiều rồi ạ… Có lẽ, bởi tấm vải này được nhũ mẫu thiếp dệt tại quê Nành, nơi có các Mẫu thần phù trợ…

       Huệ vẻ ngưỡng mộ say đắm:

- Ta nghĩ rằng: các công chúa đất Bắc Hà ai cũng nói năng như một nhà thơ… Mà nàng lại là người nổi bật nhất. Ta thực may mắn…

       Ngọc Hân che miệng cười nhẹ, và nàng đáp theo bản năng của một công chúa được thụ hưởng sự giáo dục cao nhất thời bấy giờ:

- Thiếp ngượng quá! Chị em thiếp được học thi phú từ lúc mới biết đi… Nhưng, từ ngày được học thầy Cống Trác quê Nành, lại được biết các chiến công của chàng, thiếp mới ngộ ra: những thi phẩm hay nhất không phải nằm ở từ chương, sách vở …

       Huệ ngây ngất:

- Chao ôi! Sự chân thật của nàng mới duyên dáng làm sao! Và nàng khiến ta cũng quý trọng hết mực ông hương sư của nàng…

       Ngọc Hân đứng dậy chỉ vào bộ bàn ghế:

- Xin mời phu quân ngồi. Thiếp sẽ đưa chàng sang gặp thầy, ông ấy cũng kính phục chàng vô hạn…

Ngọc Hân rót rượu ra hai chén:

- Giờ xin mời chàng chén rượu Hợp cẩn!

       Họ nâng chén kính cẩn.

       Nguyên soái mải mê nhìn Ngọc Hân, như dò tìm cái gì.

- Lúc đón nàng xuống kiệu và cùng nàng ngồi tiếp khách, ta thấy ở nàng toát ra mùi thơm giống mùi hoa huệ có phải không?

- Vâng, đúng thế, chàng lại để ý đến những chuyện vặt ấy nữa ư?

- Quả không hổ danh là người Thăng Long, chắt lọc được cả hương hoa huệ cho nàng trong tiệc cưới. Mà Huệ là tên ta...

- Thủa nhỏ tướng công còn có tên là Ba Thơm, phải không ạ?

       Huệ gật đầu:

- Nàng hiểu về ta kỹ quá!... Ta biết thiên hạ nhiều người căm tức ta, tô vẽ ta là kẻ phàm phu tục tử... Họ đâu biết cái gánh nặng của ta, người đang muốn tìm sự bình yên cho dân chúng cả nước… Nhưng nàng hãy giúp ta làm theo các nghi lễ, đúng thủ tục của đàng Ngoài…

       Ngọc Hân dè dặt:

- Vâng… Thế người vợ chính thất của tướng công thế nào? Liệu trong nhà có hòa thuận được hay không?

         Huệ lại bất ngờ trước câu hỏi này. Ông lưỡng lự một lúc:

-Ta rất tiếc là đã không gặp được nàng sớm hơn, bởi ngôi chính thất phải là của nàng…

       Ngọc Hân cười:

- Sớm hơn, thì thiếp chỉ là một cô bé hỷ mũi chưa sạch!

       Huệ mừng vì đã “thoát hiểm” trước câu hỏi kia, ông thốt lên thay một lời reo thắng lợi:

- Nhưng, giờ nàng đã là bậc mẫu nghi thiên hạ rồi...

-Thiếp còn lâu mới quen được với cương vị đó...

       Làm sao ông đoán nổi câu trả lời ngây thơ, có chút nũng nịu đáng yêu và rất thật thà của cô gái nhỏ này, vì thế ông ngây người ra. Rồi những ấn tượng và cảm xúc mới mẻ tích tụ lại, thăng hoa, đưa ông tới một trạng thái căng thẳng. Người ông run lên. Ngọc Hân thoáng quan sát và nhận ra.

Ngọc Hân:

- Tướng công hẵng từ từ... Nhất định thiếp sẽ làm tròn đạo phu phụ... Song, hãy để thiếp dần làm quen với hoàn cảnh mới đã... Thiếp vẫn còn là một thiếu nữ yếu đuối, mỏng manh lắm...

       Huệ nuốt nước bọt:

- Lời nàng còn hơn là quân lệnh trước ngàn tinh binh. Mà với ta, quân lệnh như sơn...

       Ngọc Hân cuời nhẹ, Huệ cũng chợt cười lớn, vang động cả gian phòng tân hôn, giải tỏa mọi lo âu, thăm dò, toan tính giữa hai người.

       Huệ dần thôi cười, trở lại nghiêm nghị, nhìn Ngọc Hân đắm đuối.

- Thầy giáo cũ của ta có dạy về đạo vợ chồng, là phải “tương kính như tân” - kính trọng nhau như khách, hôm nay ta mới thực hiểu... Cảm ơn nàng… Quả là ta phải tu vạn kiếp mới gặp được nàng…

       Câu nói sau cùng này đã chinh phục được tâm hồn Ngọc Hân hơn mọi chiến công của người võ tướng mà nàng hằng ngưỡng mộ, người lẫy lừng thiên hạ mà nàng đang tập làm quen sẽ là chồng mình…      

 

***

Cuộc hôn nhân đó chỉ kéo dài 5 năm. Năm 1792, vua Quang Trung băng hà vì bạo bệnh, ở ngôi được 4 năm, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Triều đại Tây Sơn còn tồn tại được 10 năm nữa, tuy ngắn ngủi, song đã lưu lại trong lịch sử những dấu ấn oanh liệt về Võ công và Văn trị. Sau khi quân Tây Sơn đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh, các sự nghiệp khuyến khích phát triển kinh tế, giáo dục, trọng dụng nhân tài, đặt chữ Nôm vào một địa vị quan trọng, nối lại hòa bình bằng ngoại giao với các nước từng xâm lược Đại Việt, v.v, đều có công đóng góp không nhỏ của Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Khi chồng chết, bà đã khóc chồng bằng bài “Ai Tư Vãn”, một tác phẩm văn học chữ Nôm đặc biệt của nền văn học cổ điển Việt Nam thế kỷ 18 đầy đau thương biến loạn:

…Mà nay áo vải cờ đào

Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng,

Nỗi đoạn trường còn sống còn đau.

Mấy lời tâm sự trước sau,

Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho!

Ngày 4 tháng 12 năm 1799, Bắc cung Hoàng hậu qua đời, hưởng dương 29 tuổi. Mấy năm sau, cả hai con bà - công chúa Ngọc Bảo và hoàng tử Quang Đức cũng gặp nạn. Bà Chiêu Nghi bí mật nhờ người đem hài cốt công chúa Ngọc Hân và hai con từ Huế về táng ở làng Nành. Mấy năm sau, mộ bà và các con bị đào lên, hài cốt thả xuống sông Hồng, dạt vào bến Bồ Đề. Tại đó dân tưởng nhớ, xây thành Đền Ghềnh.

Tại Ninh Hiệp nay, ngôi mộ tượng trưng của ba mẹ con đã được sửa sang lại, đền thờ “Bắc cung linh từ” đã được xây dựng khang trang, hàng ngày đón khách thập phương tới thăm viếng và tưởng nhớ nàng công chúa tâm hồn cao quý, có công với Đất Nước mà số phận bất hạnh…


Mai An Nguyễn Anh Tuấn



_____________________

* Theo Tư liệu của TS. Nguyễn Xuân Diện

** “Cung oán ngâm khúc” của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều

         

 

                               

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 222)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 673)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 597)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 701)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1475)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1402)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1338)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1326)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17222)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16271)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16746)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 700)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1483)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2230)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 597)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1402)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1260)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 673)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1475)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1338)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1326)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 222)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3045)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2942)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3413)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2116)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13922)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30047)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36107)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11572)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13048)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2837)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4001)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3984)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4496)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5034)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8283)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7665)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10617)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.