- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

“HỒN MỘNG” NGUYỄN DU TRONG THƠ CHỮ HÁN

24 Tháng Giêng 202210:09 CH(Xem: 34183)
bai moi- NTA

 

 “HỒN MỘNG” NGUYỄN DU TRONG THƠ CHỮ HÁN     

Mai An Nguyễn Anh Tuấn     

 

Nguyễn Du từng viết: Tri giao quái ngã sầu đa mộng - Bạn bè thân thiết lấy làm lạ rằng sao ta hay sầu nhiều mộng? Và ông trả lời luôn: Thiên hạ hà nhân bất mộng trung - Nhưng thiên hạ ai là người không ở trong mộng? (Ngẫu đề). Ông tuyên bố: Trần thế bách niên khai nhãn mộng - Cuộc trần thế trăm năm chỉ là giấc mộng khi mắt mở, và: Mộng trung minh phân kiến - Nay trong mộng thấy rõ ràng (Ký mộng)(1).

Mộng (夢) theo Từ điển Hán Việt Thiều Chửu là chiêm bao, nằm mê. Theo nhiều từ điển khác, thì Mộng cũng là “Chiêm mộng”, hay “Giấc mơ” (Rêve), thường kết hợp với Hồn (魂) tức hồn phách, linh hồn. Cho đến nay tâm lý học hiện đại đã xác định khá rõ bản chất và nội hàm của nó “với tư cách là một phương tiện chuyển tải biểu tượng”(2) và đồng thời là một loại biểu tượng đặc biệt: “Chiêm mộng là biểu tượng của cuộc phiêu lưu cá thể được cất sâu trong tâm khảm đến nỗi nó vượt ra khỏi vòng cương tỏa của người sáng tạo ra nó” (F. Gaussen)(3) - “Biểu thị dòng tâm thức ngấm ngầm và những dữ liệu của một chương trình sống được ghi ở nơi sâu nhất của con người, chiêm mộng thể hiện những khát vọng sâu kín của cá thể và vì thế nó là nguồn thông tin vô cùng quý giá về mọi phương diện đối với chúng ta” (R. Cahen)(4) - “Chiêm mộng thần giao cách cảm, làm cho ý nghĩ và tình cảm của những con người hoặc nhóm người xa cách liên thông được với nhau”(5), v.v. Có thể nói, “mộng” là một phương thức trải nghiệm cá nhân đặc biệt, một kiểu ánh xạ của nhận thức; và nhiều khi bằng mộng, các nhà thơ Đông Tây kim cổ đã hiển lộ được chiều sâu thăm thẳm của nội tâm mình và tạo được sự hoàn thiện tối đa về nghệ thuật ngôn từ. Điều này đặc biệt rõ nét ở Nguyễn Du. Còn trong kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du đã triển khai cả một thế giới của mộng, chuyển “hồn mộng” của mình vào/ qua các số phận nhân vật ông nâng niu bằng “chiêm bao”, “giấc tiên”, “giấc mê”, “thần mộng”, “giấc hòe”, “hoàng lương”, “giấc vàng”, “giấc mai”, “mộng triệu”, “giấc hương quan”, “Trang sinh - hồ điệp”, v.v.

Trong ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, từ “mộng” xuất hiện ngót 30 lần, cũng là từng ấy cảnh ngộ đời và trạng huống tinh thần dẫn đến những giấc mộng kỳ lạ, làm nền cho biết bao suy tưởng, luận giải, thi hứng của nhà thơ! Nhưng trong khá nhiều cảnh ngộ, nhà thơ không nói đến chữ “mộng” mà người đọc cũng có thể hiểu nhà thơ đang sống trong “mộng”, nghĩ về “mộng”… Các giấc mộng - với tư cách là motif hình tượng nghệ thuật, ký hiệu nghệ thuật rất quen thuộc trong thơ chữ Hán Nguyễn Du (cả trong thơ văn chữ Nôm)  và góp phần tạo nên giá trị trường tồn trong di sản văn chương của ông.

Cái “mộng” của Nguyễn Du thường gắn với nỗi buồn nhân thế và đậm màu sắc Lão Trang xem kiếp sống như một trò phù du huyễn mộng. Nam Hoa Kinh chép: “Có người nằm mộng thấy được uống rượu ăn tiệc, tỉnh dậy tiếc mà khóc; lại có người nằm mộng thấy mình khóc rồi thức dậy vui như đi săn. Mà hai hạng người đó trong khi nằm mộng không biết rằng mình nằm mộng, đôi khi nằm mộng thấy rằng mình nằm mộng, tới khi tỉnh mới biết rằng mình nằm mộng. Và chỉ khi nào đại giác (cuộc tỉnh lớn) mới biết rằng đã qua một “đại mộng” (giấc mộng lớn)(6). Đạo Phật cũng cho rằng cuộc đời này chỉ là những “đại mộng” và “tiểu mộng” mà thôi! Đó cũng là quan niệm của thi tiên Lý Bạch: “Xử thế nhược đại mộng” (Sống ở đời như một giấc mộng lớn). Với Nguyễn Du, nỗi ám ảnh về cái hư vô của đời cũng rất rõ: Bách tuế vi nhân bi thuấn tức/ Mộ niên hành lạc tích tu du - Cuộc đời trăm năm thương thay chỉ là chớp mắt-Cuộc vui chơi lúc tuổi già, tiếc chỉ là thoáng chốc (Mạn hứng); ông coi kiếp “sinh ký” này là ngắn ngủi, đổi thay chóng vánh, hư ảo khôn lường: Du du vân ảnh biến thần tịch/ Cổn cổn lãng hoa phù cổ câm - Sáng và chiều đổi thay theo bóng mây trôi lờ lững-Xưa và nay lênh đênh như hoa sóng cuồn cuộn (La Phù giang thuỷ các độc toạ). Nhưng sự lăn lộn vất vả trong đời sống cần lao đã mang lại cho những giấc mơ của Nguyễn Du một nội dung xã hội - thẩm mỹ đáng quý. Tự gọi mình là “hành nhân”, “chinh nhân”, “chinh khách”, “trệ khách”, “du khách”, “cô lữ”, “du tử”, “Nam Hải điếu đồ”, “Hồng Sơn liệp hộ”, v.v, ông thường đóng một “vai” trong giấc mộng của chính mình và trong giấc mộng của người khác để thám hiểm cõi đời nhiều ghềnh thác.

Có thể dùng trải nghiệm của thi hào Đức V. Goethe để tham chiếu “hồn mộng” Nguyễn Du: "Trong đời tôi có nhiều lần đau khổ, nuốt nước mắt. Nhưng sau khi tôi lên giường nằm, cảnh mộng có thể dùng mọi hình thức dẫn dắt và an ủi tôi, làm cho tôi siêu thoát khỏi nỗi bi thương mà đổi lại được sự nhẹ nhàng vui vẻ..."(7) .

Nhà phân tâm học người Áo S. Freud sau khi phân biệt "nội dung hiển nhiên của giấc mơ" và "nội dung tiềm ẩn của giấc mơ", đã viết những dòng có thể giúp chúng ta hiểu thêm về “hồn mộng” Nguyễn Du: "thường những suy nghĩ trong Giấc mơ gần nhất lại dễ thu hút chúng ta nhất bởi vẻ ngoài khác thường của chúng. Chúng được diễn đạt không bằng ngôn ngữ đời thường mà chúng ta quen tư duy, mà bằng thứ ngôn ngữ biểu tượng đầy những sự so sánh và phép ẩn dụ, và giàu hình ảnh như ngôn ngữ thi ca"(8). Và phải chăng, Nguyễn Du khi lấy mộng để gửi gắm xúc cảm thi ca tức là đã tìm được “tình huống thú vị” của Mỹ học, như Hê-ghen từng nói: “Từ lâu, nhiệm vụ quan trọng nhất của nghệ thuật vẫn là tìm những tình huống thú vị. Tức là những tình huống nào cho phép ta bộc lộ những hứng thú quan trọng và sâu sắc, cũng như cái nội dung chân thực của tâm hồn”(9)?

Dân gian quan niệm khi người ngủ là linh hồn xuất đi, đến được nhiều nơi chốn, khi thức giấc cũng là lúc linh hồn trở về nhập vào thể xác. Với Nguyễn Du, linh hồn xuất đi để vào giấc mộng cũng là những lúc “trí tưởng tượng trôi nổi, có lúc thanh thản bồng bềnh, có khi ngụp lặn tắm táp nơi đáy suối… trong giây lát có thể quán thông kim cổ, trong chớp mắt có thể bốn biển rong chơi”(10). Rõ ràng, những ảo ảnh, những tưởng tượng trong mộng đã làm phong phú thêm thế giới cảm xúc và hình tượng thơ chữ Hán Nguyễn Du.

Nỗi buồn thương cho bản thân và cho cuộc đời khi nằm trong “hồn mộng” lại càng trở nên thấm thía, day dứt, và góp phần tạo thành nhãn quan nghệ thuật, tư tưởng nghệ thuật riêng biệt của Nguyễn Du. Cái tấc lòng không thể giãi bày được (Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ), ông gửi vào đáy “hồn mộng” của mình. “Hồn mộng” ấy không chỉ đeo đẳng cái đói, cái khổ cực của bản thân và những người thân (Thập khẩu đề cơ Hoàng Lĩnh bắc - Phía Hồng Lĩnh mười miệng ăn đang kêu đói), mà còn  mênh mông lòng thương cảm với bao kiếp người cùng niềm day dứt khôn nguôi về chí hướng lớn của đời chưa thực hiện, được giữa sự thôi thúc về mưu sinh (hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên - chí lớn và sinh kế đều mờ mịt cả hai). Ở trong thế “cùng đường” (cùng đồ), nơi “góc bể chân trời” (hải giác thiên nhai), Nguyễn thường mong có bạn hữu để tâm sự song lại “sợ người” (Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân - Thời loạn muốn giữ mạng mình, mãi đâm ra sợ người. U cư 1), hơn nữa “không có tài giao thiệp với đời” (vô thiệp thế tài) - như Nguyễn Đề từng viết về em trai yêu quý của mình, nên chi bằng hãy tìm người trong mộng! Dường ông có ảo tưởng rằng, chỉ có thể gỡ được mối u sầu ám ảnh mình suốt đời (nhất sinh u tứ vị tằng khai) bằng giấc mộng, trong giấc mộng…

“Hồn mộng” Nguyễn Du chất chứa bao nỗi trăn trở, lo âu về nhân tình, thế sự. Đó là những giấc mộng, những mảnh “hồn mộng” của kẻ bộ hành bất đắc dĩ, kẻ “đào thoát” khốn khổ cũng lang thang vất vưởng cùng thi nhân trên những chặng lữ hành dài dặc và khúc khuỷu. Cái “đa sầu đa mộng” như một thứ định mệnh gắn với người “đa bệnh” sớm bạc đầu mà phải làm kẻ “phiêu linh”, người ”cô lữ” đi như ngọn cỏ bồng lăn không gốc rễ (hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng. Tự thán1). Nhưng người thường chìm trong mộng để mong quên nỗi buồn cũng là người khuyên mình và những ai học lối tìm say để quên kiểu Lưu Linh: Sao bằng cứ tỉnh táo mà xem việc đời-Để như cánh bèo trôi giạt đáng thương thay (Hà tự thanh tinh khan thế sự/ Phù bình nhiễu nhiễu cánh kham ai. Lưu Linh mộ). Đó là những giấc mộng của người tự nhận: Bình sinh chưa hề có ý nghĩ của loài ruồi nhặng-Xưa nay ai lại cùng chung tổ với lũ mối? (Bình sinh bất khởi thương dăng niệm/ Kim cổ thuỳ đồng bạch nghĩ oa? Tạp ngâm1).

Mặc dù không ít lần Nguyễn Du than vãn: Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng - Người ta đến bước đường cùng thì cũng hết mộng đẹp (Trệ khách), nhưng là người thuộc “giống hữu tình”, mang nặng “gánh tương tư”, mà “nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều” nên chẳng lúc nào ông thôi tưởng nhớ, tưởng tượng ra trong mộng những người thân yêu, những cảnh vật, những sự biến từng làm ông suy nghĩ và xúc động. Nhà thơ Không thể không rơi lệ vì những điều trông thấy (mục trung sở xúc năng vô lệ) đã đành, ông còn rơi lệ trong nhiều giấc mộng. Các giấc mộng đến với một con người luôn cảm nhận nỗi bất an trước bao hiểm họa rình rập ở cuộc đời, trong “một cuộc tìm kiếm mải miết (trong lo âu day dứt, trong xót xa tuyệt vọng) không gian, thời gian, người đồng hành - thế giới an bình ấm áp mà Nguyễn Du thiếu vắng. Bên cạnh giấc mơ giải thoát là giấc mơ kết nối, chúng là những đối cực song hành trong cả ba tập thơ chữ Hán”(11).

“Hồn mộng” Nguyễn Du tỉnh táo, sâu sắc, chí lý chí tình biết bao trong cuộc rong ruổi ở “cõi hồn” nơi thành quách, lăng tẩm, đền đài cổ Trung Hoa, trong các cuộc đối thoại, gặp gỡ, tranh luận với nhiều hạng người xưa, để ngỡ ngàng nhận ra: tất cả những phú quý vinh hoa, danh vọng tột đỉnh cũng đều là “vạn cảnh giai không”, là “mảnh tàn hồng” trong “kiếp phù sinh như hình bào ảnh” (Văn tế thập loại chúng sinh); và cũng là dịp để ông rút ra đâu là nghĩa lý thực sự của cõi “sinh ký” này - ít nhất là đối với bản thân ông: Phù lợi vinh danh chung nhất tán/ Hà như cập tảo học thần tiên - Danh lợi hão huyền cuối cùng sẽ tiêu tan hết-Sao bằng kịp thời theo đạo thần tiên (Mộ xuân mạn hứng); Nhân sinh quyền lợi thành vô vị/ Kim cổ thuỳ năng phá thử mê - Trong đời người, quyền lợi thật là vô vị-Xưa nay ai phá được điều mê muội đó? (Tô Tần đình kỳ 1).

Trong mộng, Nguyễn Du gặp người quen lẫn người chưa quen, người còn sống lẫn người đã chết, người cùng thời và cả người sống cách ông hàng bao thế kỷ (Ký hữu, Phúc Thực Đình, Ngô gia đệ cựu ca cơ, Điếu La thành ca giả, Đề Vi-Lư tập hậu, Nhạc Vũ Mục mộ, Tỉ Can mộ, v.v). Đó là khi mộng hòa vào sự thực lịch sử, Nguyễn Du kính cẩn “hạ mã” để tỏ lòng ngưỡng mộ các “vầng chính khí” như Văn Thiên Tường, Liễu Hạ Huệ, Lạn Tương Như, Bùi Tấn công, v.v. (Độ Hoài hữu cảm Văn thừa tướng, Liễu Hạ Huệ mộ, Lạn Tương Như cố lý, Bùi Tấn công mộ). “Hồn mộng” như tận mắt nhìn thấy bóng người đẹp Dương quý phi bị thắt cổ ở gò Mã Ngôi và nhỏ nước mắt khóc thương nàng: Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ/ Đông phong thành hạ bất thăng tình - Tìm đâu cho thấy những cánh hồng tan tác-Dưới thành gió đông thổi, khiến lòng ngậm ngùi không kể xiết (Dương Phi cố lý); hay tận tai nghe thấy âm thanh vọng từ cõi âm nỗi uất hận của Hạng Vũ: Phong vũ do văn sất sá thanh - Trong gió mưa còn nghe như tiếng la thét (Sở Bá Vương mộ II), v.v.

Giấc mộng đưa nhà thơ về miền thương nhớ khi đang lận đận ở những phương trời xa xôi: Bồi hồi chính ức Hồng Sơn dạ/ Khước tại La Phù giang thủy biên - Chính lúc bồi hồi nhớ đến đêm nao ở non Hồng-Thì mình lại đang ở bến sông La Phù (Sơ nguyệt); Hồng Lĩnh cách niên hư túc mộng/ Bạch đầu thiên lý tẩu thu phong - Hơn một năm qua chỉ mộng mị về dải non Hồng-Mái đầu bạc vẫn lặn lội trong gió thu ngàn dặm (Nhiếp khẩu đạo trung)

Có giấc mộng của nhà thơ phiêu diêu miền nguyên khí cùng cõi Hư không, cả những khi mơ về “lai khứ” hoặc những khi ngẫm về sự nghiệp văn chương: Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt/ Điểm điểm tinh thần du thái sơ - Dưới song nhiều khóm lan, ngâm nga vừa dứt tiếng-Thì tinh thần thư thái dần dần rong chơi cõi thái sơ…

Có không ít giấc mơ đẹp hiếm hoi, huyền ảo, mơ hồ tựa ảo ảnh có nụ cười nhân hậu của người mang “hồn mộng”: Thuỷ trung hữu nhân ảnh…/ Bất tri lai bất tri/ Cách hoa văn tiếu ngữ - trong nước có bóng người… Chẳng biết đến lúc nào không biết-Sau khóm hoa nghe tiếng cười nói (Mộng đắc thái liên I, III); Hoa dĩ tặng sở úy/ Thực dĩ tặng sở liên - Hoa để tặng người mình sợ-Gương để tặng người mình thương (Mộng đắc thái liên II).

Có giấc chiêm bao gặp người vợ đã khuất trong thoáng chốc mà buồn ướt lệ mãi, khiến lòng rối như tơ vò, nhà thơ Ghi lại giấc mộng đầy sương khói hư thực, ngổn ngang những bất an: người vợ sợ nỗi hổ báo thuồng luồng, ngán nỗi đường đi hiểm trở, dù chẳng biết đường mà phải vượt núi băng sông đến với nhà thơ trong tiếng khóc thổn thức: Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn/ Kế ngôn cửu biệt ly/ Đái khấp bất chung ngữ - Thoạt đầu kể khổ vì ốm đau- Rồi than thở nỗi lâu ngày xa cách-Sụt sùi không nói hết lời. Sau đó nhà thơ miêu tả cảnh ngộ điển hình của mộng mà ông thường gặp: Mộng lai cô đăng thanh/ Mộng khứ hàn phong suy - Mộng đến, đèn cô đơn rọi sáng-Mộng tàn, gió thổi lạnh lùng (Ký mộng). Mộng đến và mộng đi tác giả đều thấy cô đơn; và khi mộng đến, có ánh đèn càng sáng lại càng làm tăng nỗi cô đơn! Trong văn chương cổ trung đại, ít có dòng thơ nào nói về nỗi buồn, sự cô đơn một cách giản dị mà thấm thía đến thế!

Gặp lại người anh cách xa nghìn dặm trong giấc mộng mà cũng đầy trắc trở, thơ không nói tới nước mắt mà xúc cảm như đẫm lệ: Nhất biệt bất tri hà xứ trú/ Trùng phùng đương tác tái sinh khan/ Hải thiên mang diểu thiên dư lí/ Thần phách tương cầu mộng diệc nan - Một lần từ biệt, nay không biết ở nơi nào?-Gặp lại nhau, hẳn phải đợi kiếp sau-Trời biển mênh mang, đường xa nghìn dặm-Hồn phách tìm nhau trong mộng cũng khó (Ức gia huynh).

“Hồn mộng” Nguyễn Du khóc trước mộ “bậc thầy muôn đời về thi ca” Đỗ Phủ: Đại dị tương liên không sái lệ - Sống khác thời, thương ông chỉ biết nhỏ lệ (Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ), và Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi - Hồn mộng tôi đêm đêm nhập vào thơ Đỗ Thiếu Lăng (Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên). “Hồn mộng” đã xoá nhoà ranh giới thời đại, âm - dương để Nguyễn ân cần dặn dò hương hồn Đỗ Phủ: Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị? Địa hạ vô linh quỷ bối xi - Chứng lắc đầu cũ đã chữa khỏi được chưa?- Dưới đất đừng để cho lũ ma quỷ cười mình (Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ I).

“Hồn mộng” Nguyễn Du khi đứng trước dòng Tương giang như nấm mồ lớn chứa đựng oan hồn Khuất Nguyên đã giúp ông đồng cảm cao độ với “đồng tâm nhân” vĩ đại của mình, hình dung ra người hai ngàn năm trước đeo hoa lan để cách biệt với lũ người ô trọc, rồi cùng nhà thơ - nhà ái quốc lớn nước Sở ngâm Ly tao và bay tới các vùng đất thần tiên… (Tương Đàm điếu Tam Lư Đại Phu 1,2; Tương Âm dạ; Phản Chiêu Hồn, v.v.)

Mộng nhà thơ cũng biến hoá thực - ảo qua các vùng không gian của mộng tưởng, khi phảng phất sau song cửa, lúc bảng lảng trong mây khói chốn tịch diệt, hoặc phiêu diêu nơi góc bể chân trời... Mộng tưởng hiện ra trong các trạng thái mơ màng nửa thức, nửa ngủ, và bất kể thời gian nào: Ngũ canh tàn mộng tục hương quan - Trong giấc mộng tàn canh nằm vẫn còn mơ về quê hương (Thuỷ liên đạo trung tảo hành); Ngọ mộng tỉnh lai vãn - Tỉnh giấc mộng trưa trời đã muộn (Sơn Đường dạ bạc); Ngọ song vô mộng đáo thiên nha - Trong giấc ngủ trưa bên cửa sổ, không còn mộng đến chân trời (Tống Nguyễn Sĩ Hữu Nam quy), v.v.

Nhưng nhà thơ chiêm nghiệm về bản thân và suy ngẫm về “mối hận kim cổ” (cổ kim hận sự) qua mộng nhiều nhất là vào lúc Đêm tối - thời gian mộng và không gian mộng có thể nói đặc trưng của thơ Nguyễn Du: Tịch liêu kim dạ vọng - Đêm nay vời trông khung cảnh hiu quạnh (Tương Âm dạ); Hoang giao tĩnh dạ loạn phi huỳnh - Giữa cánh đồng hoang, đêm vắng, đom đóm bay tứ tung (Vị Hoàng doanh); Bạch địa đình trì dạ sắc không - Sân thềm trống trơn, màn đêm tĩnh lặng (Ngẫu đề); Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy - Suốt đêm bận lòng khổ tâm không ngủ được (Thăng Long I); Vô hạn thương tâm nhất dạ trung - Trong một đêm xiết bao nỗi đau lòng (Sơ thu cảm hứng); Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê - Suốt đêm bồi hồi, nghĩ ngợi mê man (Ngẫu hứng I)Khi vạn vật chìm vào màn đêm tĩnh lặng, những mộng mị đầy hư ảo của nhà thơ dường mới có thể kết nối kỳ diệu nhất với những trải nghiệm bản thân và lắng sâu vào nguyên khí của vạn vật cũng như lòng người. Trong những đêm cô tịch như thế, có những “bóng ma” ám ảnh nhà thơ: U thất thu hàn hiện quỷ lân - Ngôi nhà tối mùa thu lạnh sẽ hiện đom đóm ma (Giản Công bộ Thiêm sự Trần II); Hàn đăng lưu quỷ ảnh - Ngọn đèn lạnh như lưu lại bóng ma (Quế Lâm công quán)… Nhưng có lẽ chỉ khi đó, cả trong nỗi buồn thương, Nguyễn Du mới có thể tìm gặp được và trò chuyện với những bóng dáng thân yêu nhất của đời ông bằng đôi cánh ảo mộng.

Mỗi khi bóng tối ập xuống không gian, Nguyễn Du thường tự thu mình lại với cái bóng của mình - người bạn tâm tình tin cậy duy nhất của ông. Với con người chìm trong suy tưởng và luôn “thiên vấn” (hỏi trời) giống Khuất Nguyên như Nguyễn Du thì hơn ai hết, bóng là người bạn chung thuỷ, là sự phân thân của ông, dù nó chẳng bao giờ lên tiếng. Bóng luôn đối diện với Nguyễn Du, là một thứ “mộng trong mộng” nằm ở hầu hết mọi giấc mộng có chức năng “tự vấn”, và cũng góp phần tạo nên “bè trầm” trong toàn bộ sự nghiệp văn chương của ông: Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh/ Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh - Trong đêm khuya cô tịch buồn rầu một mình đối bóng-Nghe mưa dầm đầy giường không sao chịu nổi (Tống nhân); Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ/ Bạch phát sổ hành thuỳ ngã khâm. Bồi hồi trước bóng mình một mình yên lặng-Mấy sợi tóc bạc rủ xuống vạt áo (La Phù giang thuỷ các độc toạ). Không ít đêm, Nguyễn Du tự ngữ đáo thiên minh - mình nói chuyện với mình mãi cho đến sáng (Quế Lâm công quán), khi mà bách chủng u hoài vị nhất sư - trăm mối u hoài chưa dẹp được (Bát muộn) giữa bao trăn trở và mộng mị…

Cũng trong đêm, với những giấc mộng khi thao thức, Nguyễn thường suy ngẫm, tổng kết về lẽ hưng phế của các triều đại, nhất là cuộc thăng trầm dâu bể của thời đại mình bằng những “bức tranh đời” sống động thấm máu và nước mắt lặn sâu trong đáy hồn mộng: Thập tải trần ai ám ngọc trừ/ Bách niên thành phủ bán hoang khư/ Yêu ma trùng điểu cao phi tận/ Trĩ uế càn khôn huyết chiến dư/ Tang tử binh tiền thiên lý lệ/ Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư… Cát bụi che mờ thềm ngọc mười năm nay-Thành phủ xây dựng trăm năm trước, một nửa thành gò hoang-Các loài chim nhỏ bé đều bay lên cao hết-Sau các cuộc huyết chiến, cõi càn khôn trở nên nhơ nhớp-Quê nhà trong cơn binh lửa hẳn đã tiêu điều-Ở xa muôn dặm nghĩ đến mà rơi nước mắt-Bạn bè, bà con chỉ còn lại mấy hàng thư dưới đèn…(Bát muộn).

Và hiếm có “Hồn mộng” nào xưa nay đã nhìn thấu cảnh tang thương khốn khổ của người dân lành gây ra bởi biết bao kẻ Không để lộ nanh vuốt nọc độc-Mà cắn xé thịt người ngọt xớt như đường (Bất lộ trảo nha dữ giác độc/ Giảo tước nhân nhục cam như di - Phản chiêu hồn) từ hai nghìn năm trước cho đến khi được “mục sở kiến” trên đường “Bắc sứ”: chết lăn nơi ngòi rãnh-Máu thịt nuôi béo lũ sói lang (Nhãn hạ ủy câu hác, Huyết nhục tự sài lang. Sở kiến hành). “Hồn mộng” Nguyễn Du khi giao thoa với oan hồn Khuất Nguyên đã có lúc phẫn uất đến độ biến thành tiếng thét đau đớn có tác dụng phanh phui đến tận cùng bản chất của hiện thực: Hồn ơi, hồn không còn chỗ nương tựa nào nữa đâu, đừng có trở về cõi đời độc ác này nữa! (Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan/ Đại địa xứ xứ giai Mịch La/ Ngư long bất thực, sài hổ thực - Đời sau đều là Thượng Quan-Khắp mặt đất đều là sông Mịch La-Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt. Phản chiêu hồn). Khoảnh khắc “hồn mộng” này khiến nhà thơ Xuân Diệu dường cũng “căm giận trên đầu tóc dựng” như tác giả Phản chiêu hồn(12), và một nhà nghiên cứu hiện đại phải thốt lên: “Đại địa xứ xứ giai Mịch La! Bi phẫn biết chừng nào! Sao Nguyễn Du, con người hay sầu mộng và đa cảm nữa, lại có thể bất ngờ vút lên một câu thơ khái quát vĩ đại đến thế?”(13)

Mộng Nguyễn Du - đó là Mộng của người có Cái nhìn gom trời đất (Nhãn trung thu đại địa). Và “Hồn mộng” Nguyễn Du, phần quý giá nhất, rung cảm nhất chính là mối “thương tâm”, “sái lệ”, là nỗi ám ảnh về dòng đời bất trắc, hiểm nguy và kiếp người đau khổ, bi thương - được trải nghiệm bằng chính những đoạn đời phong trần luôn lo toan trăn trở thế sự của nhà thơ trong cõi nhân gian, và trở thành một kiểu triết lý nghiệm sinh sâu sắc trong “tòa lâu đài”(14) thơ chữ Hán Nguyễn Du.

***


Trước nay, đã có không ít bài viết về cái “mộng” hay “thế giới tâm linh” của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều, có nhiều phát hiện chính xác và thú vị. Song, hầu hết các bài viết giàu tính bác học đó hình như đã quên giúp người đọc rộng rãi phân biệt cái “mộng” của Nguyễn Du trong sự trải nghiệm cá nhân như một nguồn cảm hứng thi ca và cái nhìn vào nội tâm sâu sắc; “mộng” mà lại “chọn cách tác động bằng sự thức tỉnh”(15) - khác rất xa với bệnh mộng du và bệnh ảo mộng mà nhiều văn nghệ sĩ thế giới đã cảnh báo, tiêu biểu là G. Flaubert: “Anh đừng đồng nhất cái nhìn bên trong của người nghệ sĩ với cái nhìn bị ảo mộng hóa thực sự. Tôi rất quen biết với cả hai trạng thái ấy, giữa chúng có cả một vực sâu ngăn cách. Ở trạng thái ảo mộng thật sự có một sự sợ hãi, anh cảm thấy cái “tôi” của anh đang lẩn đi, và có cảm giác anh đang chết dần. Còn trong cái nhìn thơ ca thì ngược lại, có một sự vui sướng, đấy là một cái gì đang đi vào anh”(16).

“Sự vui sướng” đó, chính là khát vọng sáng tạo, là sức mạnh nội tâm của Đại thi hào, giúp ông vượt lên những nghịch cảnh bi thương đôi lúc kinh hoàng, đáng kinh sợ, để có những giấc mộng mị như “là con đường vương giả để đạt tới hiểu biết lòng người”(17) nhằm tạo ra những áng văn chương bất hủ.

Mai An Nguyễn Anh Tuấn



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thơ trích dẫn chủ yếu lấy từ: Mai Quốc Liên - Vũ Tuấn Sán (Dịch nghĩa và chú thích). Nguyễn Du toàn tập, tập 2, NXB Văn học, HN 2015.

2, 3, 4, 5. Jean Chevalier - Alain Gheerbrant. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, 2015, tr.164 - 165.

6. Nguyễn Hiến Lê (Giới thiệu và chú dịch). Trang Tử Nam Hoa Kinh, NXB Văn hoá - Thông tin HN, 1994, tr. 179.

7. Dẫn theo: Diêu Vĩ Quân. Bí ẩn của Chiêm mộng, NXB Văn hóa -Thông tin, HN,1996, tr.192

8. S. Freud. Các bài viết về giấc mơ & giải thích giấc mơ, NXB Thế giới, HN, 2005, tr. tr. 56, 72.

9. Hêghen. Mỹ học, Tập I, Phan ngọc giới thiệu và dịch, NXB Văn học HN, 1999, tr.18

10. Lục Cơ, dẫn theo: Khâu Chấn Thanh. Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Mai Xuân Hải dịch, NXB Văn học, HN 2001, tr.198.

11. Đỗ Thị Mỹ Phương: “Câu hỏi trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: bức chân dung một thế giới nhiều bất ổn”. Những tiếp cận mới trong nghiên cứu-giảng dạy về Nguyễn Du và Truyện Kiều (Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia), NXB ĐHHQG HN, 2021, tr.161

12. Xuân Diệu. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb Văn học, HN 2009, tr.153.

13, 14. Mai Quốc Liên, “Lời nói đầu”, Nguyễn Du toàn tập, tập 2, Sđd.

15. Vương Trí Nhàn: “Nguyễn Du như một thi sĩ” - Nguyễn Du - Thơ và đời, NXB Văn học, HN 2016, tr.202.

16. Theo: M. Arnauđốp. Tâm lý học sáng tạo văn học, NXB Văn học, HN 1978, tr.291.

17. S. Feud, dẫn theo: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Sđd. tr.164.

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 744)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 788)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 648)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 574)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2932)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1867)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2769)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2323)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2708)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2466)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9745)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16589)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15590)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16016)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 788)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2932)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2769)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2708)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 648)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4954)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6835)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6120)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 744)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2323)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2466)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2698)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2215)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2023)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2187)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2225)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 574)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13192)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29166)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35523)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10503)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12401)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1867)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2769)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3020)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3087)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3805)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7537)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6900)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9381)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.