- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,195

NHỮNG BÀI THƠ THÁNG TÁM

07 Tháng Chín 20219:38 CH(Xem: 675)

HuynhLieuNgan-thang 8
Nhà thơ Huỳnh Liễu Ngạn

 

 

Huỳnh Liễu Ngạn

NHỮNG BÀI THƠ THÁNG TÁM

 

THƯƠNG MÃI BẦU TRỜI

 

anh lỡ tay gói tình em rất kín

rồi đem chôn vào tận đáy cuộc đời

anh chia tay không buồn vui gì nữa

để cuộc đời đen trắng cũng thế thôi

 

anh lảm nhảm một mình vì mất ngủ

của đêm rồi của đêm nữa chơi vơi

anh cố dấu một chút buồn muôn thuở

để thấy lòng nhẹ nhỏm lúc chia phôi

 

tình của anh như gió mưa đầu núi

không bướm hoa không chim chóc lượn lờ

em bỏ đi như cây rừng xa cội

tiếng chim rền vào cổ độ trăng mơ

 

một giọng hát đã tan vào nhức nhối

bay lên trời thành trầm bỗng đơn côi

anh không nói chỉ lặng thầm không nói

bởi còn thương về mãi tận bầu trời

 

thôi nhờ gió đưa linh hồn anh tới

chút ngọt bùi làm kỷ niệm xa xôi

nếu gió hỏi tà áo dài em mặc

nhớ trả lời em là đám mây trôi

 

này em nhé bài thơ anh viết vội

một lần thôi dù âm điệu xưa rồi

bởi tình em đã đi vào cổ tích

đã trở thành lịch sử của lứa đôi.

 

26.8.2021

 

LÒNG MUỐN HẸN

 

lòng muốn hẹn- cùng em- về một chuyến

qua bên nhà- thăm hỏi- ngọn mù u

em bờ ruộng- anh bờ mương- máu đỏ

màu đất nâu- màu rạ lúa- đui mù

 

chiều vỡ giọng- khàn hơi- lên tiếng gọi

màu cau non- màu trầu nụ- héo mòn

tìm đâu dấu- hoàng lan- trên bâu áo

của bầu trời- em về nhé- tơ non

 

dấu bụi lấm- hao mòn- hun hút mãi

ngã ba nào- mây trắng- sẽ sang ngang

con nước cạn- trơ nhánh gầy- xương cốt

mà trường giang- cứ hẹn- ở suối vàng

 

em bỏ lại- trăng ngàn- rồi biệt dạng

anh tiếc đời- tóc rẻ- thuở băng tan

em cài áo- che chắn- lòng đã mỏi

tro tàn bay- về kỷ niệm- thưa rằng.

 

17.8.2021

 

THUỞ ẤY BĂNG TÂM

 

mắt em vừa độ chín trong đêm

anh lắng hồ sen thả ngắm nhìn

vắng em đời cạn màu nguyên cớ

tím cả đồi nương gió năm thìn

 

thuở về chưa lật bàn tay ngửa

để thấy em tan cõi vô thường

sớm hôm chiều tối còn đâu nữa

một vạch đong đưa ngã ba đường

 

gió thì lây lất ngoài muôn nẻo

máu chảy về tim mạch máu ngầm

em cũng tơ tằm lên vạn dặm

trăng còn châu thổ thuở băng tâm

 

khuyết tật hồn anh ai che nón

xuôi ngược bàn tay em một con

chao ơi mưa bay không đầy tuổi

nắng sớm đời khuya cây bông gòn

 

lòng anh tựa gió phơi thây mãi

em bỏ đi quanh một vòng tròn

ngàn khơi anh cứ ngờ em chết

để hỏi mây đưa vạn dặm mòn

 

để hỏi đời sau em núi non

tim xem mùa gạo mới vẫn còn

thế gian mở nhắm sao cô quạnh

tạnh vắng đời em cứ dập dồn

 

đứng trước thềm đông mưa lục địa

cây còn ra trái giữa ban trưa

anh chờ gì nữa bên phía phải

rẻ một cành mương lạnh xuống vừa

 

ngó hoài đường xưa chưa quen mắt

thảng thốt em đâu trời giăng mùa

có kịp tay trao vàng bông khế

anh tìm trái ngọt lẫn trái chua

 

rồi thôi ngàn kiếp em tiêu tán

che trời nội địa một lần đưa

anh qua sống tiếp bên này biển

thì đã lạc nhau cả bốn mùa

 

bởi thấy môi kia đá cũng mềm

lòng anh hớn hở phổi và tim

có khi ngưng thở vài ba phút

cũng tại trăng non chín độ thèm.

 

8.8.2021

HUỲNH LIỄU NGẠN

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1130)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1192)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1883)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5913)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5890)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13229)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30158)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81257)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20272)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 376)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down