- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Ngày tôi mất tháng 4

20 Tháng Tư 20214:23 CH(Xem: 35831)

Dinh Tu Bich Thuy-Ngay toi mat
Nhà văn Đinh Từ Bích Thúy

ĐINH TỪ BÍCH THÚY

Ngày tôi mất tháng 4

 

LTS: Sinh 1962 và rời Việt Nam tháng 04-1975, Đinh Từ Bích Thúy sinh sống trong vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, hành nghề luật về cổ phần hàng hóa, sau khi tốt nghiệp cử nhân danh dự song khoa văn chương Anh Pháp năm 1984 rồi tiến sĩ Luật 1987 tại University of Virginia, Charlottesville, Virginia. Gần đây, cùng với Martha Collins, đã hoàn tất dịch hợp tuyển thơ Cốm Non (Green Rice) của Lâm Thị Mỹ Dạ (Curbstone Press, 2005). Hồi ký Luggage and Shoes được đăng trong tuyển tập Once upon A Dream: Twenty Years of Vietnamese-American Experience, ed. Andre Lam and De Tran (Andrews McMeel, 1995). Đinh Từ Bích Thúy từng viết phê bình trên Hợp Lưu số 57, Tân Niên tháng 2 & 3 năm 2001 và cho các tạp chí Rain Taxi Review , Amerasia Journal.

 

 

Nghệ thuật đánh mất không khó để nắm vững;

bao nhiêu thứ như có số

mất nên khi mất chẳng có gì thành thiên tai.

                            Elizabeth Bishop, “Độc Nghệ” (“One Art”)

 

Tôi đã thay đổi vì biến cố tháng Tư Bảy Lăm, nhưng cũng có thể tôi đã mất thiên đường từ trước khi ra đời. Đó là câu hỏi mà tôi ngẫm nghĩ gần đây. Năm nay tôi 43 tuổi, mặc dù tôi nhuộm tóc và vẫn thích người ngoài khen tôi trẻ, tôi hiểu mình nhiều hơn, và cũng chân thật với mình nhiều hơn lúc còn trong tuổi niên thiếu. Trên nhiều phương diện, có thể tôi cũng đầy đủ hơn ngày xưa. Nhưng tất cả những câu chuyện mà tôi hay kể với bạn bè để biểu lộ tâm trạng “cá ra khỏi nước” mà tôi vẫn cảm thấy đeo đuổi mình thường trực, đều bắt nguồn từ trước biến cố Bảy Lăm.

Tôi sinh năm 1962 tại nhà thương St. Paul, Sài Gòn, là con gái đầu lòng của một cặp vợ chồng trẻ, lúc đó định mệnh chưa ngã ngũ cho miền Nam cũng như cho cuộc đời bố mẹ tôi. (Bây giờ tôi vẫn tưởng tượng mình như thánh Pao Lô trước khi được tiếng sét của Chúa đánh ngã ngựa, nên vẫn còn trong hôn mê và chưa truyền tin là Chúa đã sinh ra, chết đi và sống lại.) Mẹ tôi không phải là một phụ nữ đòi quyền sống, tính tình lãng mạn, thích được che chở, bây giờ vẫn tin rằng hôn nhân biến hai cá nhân thành một. Bà không vui khi chồng con muốn có khoảng cách riêng. Còn bố tôi—ngay từ lúc bé tôi đã mường tượng rằng tên ông tiêu biểu cho một chối bỏ. Từ Thức là người chưa thức dậy. Từ Thức lạc mất thiên thai. Ông nội tôi, xuất thân nông dân, thành địa chủ, cuối cùng tay trắng khi Việt Minh nắm quyền, sau một chuyến đi xem động Từ Thức ở Thanh Hóa, nhớ thắng cảnh đẹp, trở về Nam Định đặt tên con trai út mới sinh ra là Từ Thức. Bố tôi bỏ quê đi lên Hà Nội học, về sau thành nhà báo, không nói nhiều, chống Thiệu, chống tham nhũng, thuộc phe đối lập. Bút hiệu của bố tôi là Sức Mấy. Về sau tôi tạm dịch Sức Mấy cho các em tôi đã quên tiếng Việt, là Mr. No Way Able. Trong tiếng Anh bút hiệu ấy như mất đi phần mỉa mai thách thức. Các em tôi cũng không còn nhớ nhiều về quãng đời xưa, mà tôi là chị cả vẫn tưởng như lịch sử mới xẩy ra ngày hôm qua.

Ngày xưa bố tôi viết báo, giả vờ như viết lại tích Đông Châu Liệt Quốc của Tàu để chỉnh bọn gia nô Thiệu, lúc chúng hiểu ra, chúng bắt vào tù không cho xử, cũng không biết kết là tội gì. Bây giờ ở Mỹ tôi theo nghề Luật. Tôi tưởng rằng nó sẽ cho tôi những hạn định rõ ràng. Nhưng ngày ngày phân tích từ luật tiếng Anh trong công việc, tôi mới thấy trong ngôn ngữ không có gì nhất định cả. Hiểu thêm một thứ tiếng chỉ làm tôi ngờ vực thêm. Tôi còn nhớ lúc học lớp Luật Công Ty, giáo sư Luật đã hỏi, “tại sao chỉ cho những cá nhân có cổ phần (shareholders) mới được bầu phiếu quyết định cho đường lối của một công ty?’’ Ông giảng rằng căn bản của nền dân chủ tư bản la quyền sở hữu chủ. Dân Mỹ, sinh sống ở Mỹ, trả thuế cho chính quyền Mỹ, bầu cho Tổng Thống Mỹ, cũng giống như những cá nhân có cổ phần mới tự quyết được cho sứ mệnh của một công ty. Tôi thành dân Mỹ hai tuần sau khi tốt nghiệp trường Luật. Đã từ lâu lắm rồi tôi mơ bằng tiếng Anh, nhưng trong những giấc mơ ấy, tôi không ở trong nước Mỹ, mà thường ở trên sân thượng nhìn ra một vùng nhiệt đới ngấm ướt mùi hoa sứ lẫn lộn với mùi nhựa cây vú sữa. Tôi chưa một lần nào về Việt Nam sau biến cố Bảy Lăm. 

Nhiều người nghĩ tôi giống bố vì đôi lúc tôi cũng viết lách, nhưng thật ra tôi muốn giống ông ngoại tôi. Bố tôi viết bình luận chính trị, ông ngoại tôi lúc còn sống không phải là người cầm bút, mà làm thông dịch viên cho văn phòng tùy viên phòng thủ (defense attache office, hoặc DAO) của quân đội Mỹ, chép và dịch mật mã Việt Cộng ra tiếng Anh. Mẹ tôi kể rằng lúc thiếu thời, một hôm ông ngoại tôi nẩy ra hứng tự học tiếng Anh, bèn cạo trọc đầu vào giường, thả mùng học không thèm đi chơi với bạn bè trong một năm liền. Năm 1954, mẹ tôi nói ông chán ngấy cảnh bọn cộng sản “phơi áo quần thả bèo nuôi cá trồng rau làm bẩn thanh cảnh Hồ Hoàn Kiếm,” bèn di cư với gia đình vào Nam. Gia đình ông ngoại mới đầu định cư ở Biên Hòa, lúc đó đã có đại diện cố vấn của quân đội Mỹ dùng làm căn cứ. Mới đầu ông đi dạy học, nhưng chán bọn học trò ngỗ nghịch và tiền lương thấp, ông nộp đơn xin việc làm vào cơ sở Mỹ tại Biên Hòa, được nhận vào làm thông dịch viên nhân sự. Về sau, lúc ông được chuyển về văn phòng trong Phi Trường Tân Sơn Nhất, ông mang gia đình về Sài Gòn, mua nhà trong hẻm đường Nguyễn Trãi đối diện trường Bác Ái gần Chợ Lớn. 

Ông ngoại tôi là hình ảnh của tuổi trẻ đầy tự tin nam tính. Ngoài sáu mươi trong những năm trước khi Sài Gòn mất, ông vẫn nhuộm tóc đen, đánh bồng kiểu pompadour với brilliantine, thích mặc áo sơ mi trắng toanh ủi bằng hồ giắt luồn qua quần lót, đi giầy đen đánh bóng sáng choanh. Lúc tôi còn bé ông hay kể chuyện thời ông còn trẻ, lúc ông vào bưng làm thủ quỹ cho Việt Minh. Nhà chỉ có bà ngoại và hai cô con gái là bác tôi và mẹ tôi, ông kéo họ—suốt đời là những người đàn bà sùng tượng ông, đi khắp những vùng rừng thiêng nước độc, ăn trứng rắn (ông bảo có vị giống trứng gà), học tiếng Lào, dậy người Lào nói tiếng Anh. Lúc người nhà ái ngại, sai người vào bưng nói ông trở về kinh, lãnh tụ Việt Minh muốn giữ ông và gia đình ở lại, ông liều mạng đánh cờ người, noí với lãnh tụ ông phải về đưa tang người thân, nhưng sẽ để bà ngoại và hai con gái nhỏ ở lại làm con tin rồi ông sẽ trở lại, nhưng lãnh tụ phải cam kết cho sự an toàn của gia-đình ông trong lúc ông vắng mặt. Lãnh tụ không muốn chịu trách nhiệm cao như vậy, đành cho ông và gia đình về Hà Nội. Thế là ông hú vía thoát mạng. 

Tôi thích xung phong đi mua thuốc lá Camel (no filter) cho ông ở sạp báo bà Sáu đầu hẻm đường Nguyễn Trãi. Đọc trộm quyển sách dịch danh ngôn của La Rochefoucaud ông để trên bàn, tôi cũng bắt chước bịa viết danh ngôn, nhưng khiêm nhường ký tên là “vô danh.” Ông khen “vô danh” có những quan sát kỳ lạ, nhưng tôi biết ông coi tôi là một con bé vụng về. Tôi tay trái, lúc nào cầm đũa thià cũng lóng nghóng, viết chữ số nhiều khi viết ngược. Ông không dậy tôi đánh đàn tranh như ông dậy chị họ tôi. Tôi không hiểu được động từ to be, không chia được động từ này khi ông dậy tôi tiếng Anh. Ông phàn nàn với mẹ tôi là con bé chậm hiểu, về sau chắc lấy chồng sớm. 

 

Nhà bố mẹ tôi ở trên đường Cao Đạt, không xa nhà ông bà ngoại tôi lắm. Sau Tết Mâụ Thân, tôi nghỉ học mẫu giáo ở Bác Ái. Ở nhà bố mẹ tôi kèm tôi học tiếng Việt. Muà thu năm 1968, bố mẹ xin cho tôi vào học lớp một ở trường Thánh Linh, cách nhà ông bà ngoại bằng một con hẻm. Vào những năm 1972, 73 bố tôi hay đi trốn công an Thiệu, mẹ tôi ở nhà bận bịu hết việc nọ, thường hay gửi tôi ở bên ông bà ngoại qua đêm. Ở trường tôi nói bố tôi phải đi công tác ra ngoại quốc nên ít có nhà. Mẹ tôi ở nhà một mình, bèn đi học lái xe để tự đưa mình đi dạy học, đi chạy tiền, đi đến những địa điểm bí mật thăm nuôi cho bố. Mẹ tôi lái xe không thạo, hay thắng gấp hoặc sang số xe bất thình lình, vừa lái vừa nói chúng tôi lúc nào cũng phải quay nhìn về phía sau để xem có “mật vụ” nào theo không. Đi xe với mẹ, nhiều khi chúng tôi bị xanh xẩm mặt mày, va vật vào những nút xe này nọ.

 Khi tình hình có vẻ bớt căng thẳng, nhưng chưa muốn xuất hiện công khai, bố tôi đưa ý kiến cho cả gia đình lên Đà Lạt chơi sau ngày tôi thi đỗ đệ thất vào Trưng Vương. Ở Đà Lạt, gia đình tôi mướn một căn nhà chalet. Nhà chalet này từ lâu không có người chăm sóc, có mùi mốc ẩm thấp. Đường điện không hiểu sao chạy vào hệ thống nước, mỗi lần mọi người rửa ráy hay dùng phòng vệ sinh đều bị điện giật đau nhói. Ban đêm tôi và các em tôi bị bọ nhện trong chăn nệm cắn ngưá inh, sáng sáng bố tôi lùa chúng tôi ra mảnh vườn trước nhà chalet, nói không khí lạnh sẽ giết bọ và làm cho đỡ ngưá. Mặc dù như vậy, chúng tôi vẫn vui, chạy nhặt những quả thông rớt trên cỏ, ngửi mùi hoa huệ xoè ra như chuông, tối tối xum họp với gia đình bên mâm cơm thịt đông, dưa chua, canh cải cúc nấu giò viên, gia vị thức ăn có phần thêm ngon vì cái lạnh ấm áp như len mịn của Đà Lạt. Về sau tôi mới biết mùa hè 73 là muà hè nghỉ mát cuối cùng của gia-đình. 

Sau đó gia đình tôi mua lại căn nhà ở Hàng Xanh, ngoại ô Sài Gòn, từ một ngừời Mỹ sắp về nước. Nhà rộng, chia làm nhiều phòng, có sân thượng lát gạch, nhưng không khí tịch liêu về ban đêm, làm tôi nhớ căn nhà cũ đường Cao Đạt, với mặt tiền nhan nhản những xe sinh tố, xe mì xực tắc, người đi tấp nập. Chuyển về Hàng Xanh, bố tôi bán xe hơi, mua xe đạp để đi làm toà soạn. Một hôm, xe đạp bị đánh cắp, bố tôi chuyển đi xe buýt công cộng. Lúc bứớc ra khỏi xe buýt về đến bến gần nhà, bị công an còng tay dẫn đi biến, không có dịp báo cho mẹ tôi. Hôm ấy ở nhà chúng tôi đợi cơm thật lâu, cuối cùng mẹ dẹp hết thức ăn mặc dù chúng tôi chưa ai ăn. Mẹ nói, “miếng ăn là miếng nhục. Mình không ăn khi người thân gặp nạn. Thôi, các con đi ngủ đi. Bố sẽ không về nưã.” 

Mẹ tôi chạy tiền, liên lạc với người anh họ là luật sư. Bác G. nói công an đưa bố tôi về khám Chí Hoà. Ít lâu sau tôi theo mẹ vào thăm bố ở Chí Hòa. Tôi hãnh diện vì lúc đó được mẹ coi như người lớn, được chia sẻ với mẹ nhiều chuyện mà những đứa em không được biết. Ngày thăm tù bao nhiêu người chen lấn. Những người vợ trang điểm, mặc quần aó đẹp đi thăm nuôi chồng, mang pa tê gan, jăm bông, nho táo. Ngay lúc đó tôi đã tự hỏi, “làm vậy có nghĩa gì.” Mọi người giống như giả vờ, phớt tỉnh như đây là ngày hội. Bố tôi ra ngồi với chúng tôi, vẫn phong độ cũ, tươi cừời, mặc áo sơ mi mầu da bò bỏ ra ngoài quần. Về sau bố noí bố vứt áo màu da bò, vì nó là aó xui—bố đã mặc áo ấy khi bị công an bắt. Bố chỉ ông Nguyễn Tấn Đời, bị can kinh tài ngồi cách bố hai băng ghế. Ông Nguyễn Tấn Đời trông cũng vui vẻ như bố, cười nói oang oang với người nhà, tay lôi ra chai sâm banh từ giỏ người vợ mang vào. Tôi nhìn quanh, hoang mang không biết trong đám tù nhân ai có tội, ai bị bắt oan. Hai mươi năm sau, một đêm tôi nằm mơ thấy mình ngồi giặt quần áo ven sông với một đám đàn bà. Trên sông có bao nhiêu cỗ quan tài lững lờ trôi qua. Tôi kinh ngạc nhìn bọn đàn bà. Họ vẫn cười nói, tiếp tục giặt dũ. 

Mẹ tôi trong những ngày tháng 74 hay đi sớm về muộn. Ông nội lên ở nhà Hàng Xanh trông nom chúng tôi khi mẹ đi vắng. Ông nấu nướng may vá đảm đang, nhưng sau lưng ông chúng tôi nghĩ ông quê mùa không biết đùa với trẻ con. Ông chăm vườn, nuôi gà, trồng bí. Một hôm ông đan lưới đánh chim sẻ, rồi nứớng chim sẻ cả con, con nào con nấy nằm chổng chân cứng ngắc, làm bữa tối cho chúng tôi. Mùi chim sẻ nướng quyện mùi bơ và mật ong thơm như mùi chả nướng Hà Nội, nhưng chúng tôi nhìn chim nâu thẫm trơ trụi mắt mở trừng mà buồn nôn. Từ đó tôi xung phong làm đầu bếp nấu cho cả nhà. Cơm nát bấy, canh mặn chát, trứng chiên nhầy nhụa lẫn lộn vỏ trứng. Ông nội chỉ lo việc rửa bát. Ông già đã ngoài bẩy mươi, cúi lom khom xuống chỗ lõm có cống thông trong bếp rửa bát, một hôm mất thăng bằng ngã chúi xuống chậu nước nhờn lổm ngổm bát đĩa. Tụi cháu mất dậy thấy vậy cười nắc nẻ. 

Gần cuối năm 74 ông ngoại tôi đến thăm, khuyên mẹ và chúng tôi về ở với ông bà ở căn nhà đường Nguyễn Trãi. Mới đầu mẹ còn do dự, nhưng về sau, mẹ sợ ở Hàng Xanh không được an toàn về đêm, bèn mang chúng tôi về nhà ngoại. Ông nội ở lại nhà Hàng Xanh trông nhà đợi “cho đến khi bố Thức nó về.” 

No-en cuối cùng ở Viêt Nam—lúc đó tôi đã gần 13 tuổi nhưng là lần đầu khám phá ông già No-en không có thật. Đi mua sắm No-en, mẹ tôi lơ đãng đưa cho tôi xem một bộ bát đĩa đồ chơi bằng nhựa đen giả sơn mài, nói con có thích bộ bát đĩa này không? Mẹ mua tạm làm quà No-en nhé, năm nay mình không như những năm trước . Tôi ngớ ra (thấy mình thật thộn khi đã tin vào chuyện huyền thoại quá lâu) rồi gạt phắt, thôi mẹ, mua làm gì. Con lớn rồi, từ lâu đâu có chơi bát điã nữa. 

Những ngày tháng mùa xuân 75 trôi qua như một giấc mơ. Tôi bắt đầu thấy mẹ và ông ngoại nói chuyện thầm thì trong đêm hôm khuya khoắt. Chiều chiều tôi thấy ông ngoại mang về những đồng tiền xanh thẳng tắp mà từ xa tôi biết là không phải tiền Việt Nam. Thỉnh thoảng mẹ tôi hỏi chúng tôi những câu hỏi khó hiểu: “Nếu mẹ lo cho tụi con đi máy bay với trẻ mồ côi qua Mỹ, tụi con thấy thế nào?’’ 

Lúc đó ông bà ngoại chỉ có mẹ và chúng tôi là con cháu thân cận nhất ở Việt Nam. Bác K., con gái lớn của ông bà và chị của mẹ, đã theo bác trai là tuỳ viên sứ quán Việt Nam đóng nhiệm kỳ bên Úc. Một đêm tôi bất chợt thức dậy, nghe lỏm được câu chuyện giữa ông ngoại và mẹ. Ông có trên 20 năm với quân đội Mỹ nên đã được Mỹ cam kết cho đi trong trường hợp Sài Gòn mất. Ông nói, bây giờ chưa tưởng tượng được là Sài Gòn sẽ mất, nhưng mình có cơ hội, con nên chuẩn bị mang trẻ con theo ba mợ qua Mỹ. Mẹ tôi do dự, còn nhà con thì sao. Ông nói, thằng Thức nó về nếu chỉ có một mình nó thì đi còn dễ, chứ mà đèo bồng một vợ sáu con thì xoay xở thế nào. Mẹ im một lúc, sau nói, nhưng nếu nhà con ra muộn, bị kẹt ở lại, thì con và các cháu nếu đi chắc chẳng bao giờ gặp mặt lại. Ông thở dài, con nghĩ kỹ lại đi. Bây giờ khó nhìn được tương lai, nhưng thử tưởng tượng, con có muốn các con mình làm cu li cho Việt Cộng không? 

Tôi không nghe thấy mẹ tôi trả lời. Nhưng tôi đoán là mẹ nghe theo lời ông, vì sau đó mẹ tôi đi sắm cho chúng tôi mỗi đưá một túi hành lý nhỏ. Mẹ nói, mỗi đưá bỏ vào đây hai bộ quần áo và đồ dùng cần thiết, mình sẽ đi xa trong một ngày gần đây. Tôi hỏi thẳng mẹ, mình sẽ đi Mỹ với ông bà phải không mẹ? Mẹ nói, đừng nói cho ai biết cả, hễ hàng xóm tò mò con nói mình sắp ra biển nghỉ mát. Trong lúc này, những thành phố lớn của miền Nam đã dần dần thất thủ. Họ hàng bên ông bà ngoại tản cư từ Ban Mê Thuột về Sài Gòn, xin ở nhà ông bà vài hôm. Họ không biết rằng, trong vòng hai tuần sau, Sài Gòn cũng sẽ mất. 

Tối tối tụi trẻ con chúng tôi hì hục xếp hành lý. Chúng tôi không định được những gì là đồ dùng cần thiết cho một chuyến đi vượt ngoài sức tưởng tượng. Ông ngoại dự định mang cây đàn tranh, nhưng chính ông lại bảo không ai được mang đồ cồng kềnh. Em gái tôi muốn mang đi quyển truyện tranh Tintin—quà sinh nhật vừa được mẹ cho. Mẹ nhất định nói không. Tôi bèn đi gói bát đũa bỏ vào túi ba lô, mẹ nói con này ngớ ngẩn, ở Mỹ không thiếu gì bát đũa. Ông ngoại nói đồ dùng cần thiết là giầy da. Ở bên Mỹ giầy bán đắt, nên cho tụi nhỏ đi mua giầy tốt. Mẹ tôi đi sắm cho chúng tôi giầy diện có đế mỏng dính. Đến Guam một tháng sau giầy tụi tôi cùn đế hoác mõm. 

Ngày 21 tháng Tư ông ngoại gọi điện thoại từ văn phòng Tân Sơn Nhất về, nói mọi người phải đi ngay. Ông đón ở cổng phi trường, dẫn vào cơ sở làm việc. Đến đó chúng tôi đã thấy một đám đông đang đợi. Chiều xuống chậm. Ông nói mọi người sẽ ở qua đêm trong cơ sở DAO, nên phải triệt để im lặng vì không muốn cảnh binh bên ngoài biết. Trẻ con nếu ồn ào sẽ phải uống thuốc ngủ. Văn phòng có maý lạnh đến đêm lạnh ngắt, một vài cô gái chưa chồng làm trong sở ông đến nói với mẹ, chị chị cho em mượn mấy cháu ôm cho đỡ lạnh. Một vài người kéo những bản đồ Việt Nam trên tuờng xuống đắp thay chăn, suốt đêm tiếng giấy sột soạt giày xéo không ngơi. Thỉnh thoảng trong đêm có những tiếng chân người đi bên ngoài, nghe ngóng, như theo dõi, chờ đợi, làm một vài người đàn ông yếu vía bên trong chạy trốn vào phòng tắm, đứng thắt nút chật cứng không sao đóng được cửa phòng tắm, có người chửi đổng, người khác cự nự, suýt soát ầm ĩ trong bóng tối. Sáng hôm sau chúng tôi ra con vườn đằng sau văn phòng ông ngoại, bên cạnh một con lạch nhỏ ngôì đợi xe cam-nhông đến chở ra máy bay. Trẻ con đồng lưá tuổi chúng tôi lôi tiền Việt Nam mang theo xếp thành thuyền giấy đủ màu xanh đỏ tím, thả thuyền chạy trên con lạch. 

Máy bay chúng tôi đi ngày 22 tháng Tư là chiến hạm vận tải C-141 của quân đội Mỹ. Có ai đã cài nòng súng hai bên cưả sổ máy bay. Máy bay cất cánh lên thật nhanh, làm đa số người đi bị đột ngột không đủ khí thở ngất đi. Tôi cũng thấy khó chịu ngộp thở, cảm tưởng như mình đang đứng trên bờ vực thẳm, nhưng không thể nào lao xuống sâu vào quên lãng--cái cảm giác mà hai mươi ba năm sau tôi sẽ nếm lại khi đẻ đứa con gái đầu lòng.

 

                                                                                    ĐINH TỪ BÍCH THÚY

                                                                    Hoa Thịnh Đốn, mùa xuân 2005

(Nguồn HỢP LƯU 82)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 210)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 175)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 328)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 278)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 390)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 565)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1017)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1083)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1685)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1981)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 563)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11055)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17691)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16757)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 327)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 389)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1981)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2527)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 275)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2416)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2183)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2771)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1017)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1083)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1622)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2401)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 210)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 175)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1685)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2247)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3079)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14404)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30478)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36755)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12177)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13520)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3944)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5962)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5452)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6011)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6661)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8987)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11226)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.