- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TUỔI THƠ ÊM ĐỀM

12 Tháng Tư 202111:48 CH(Xem: 36935)
BINH MINH- Quy SG
Bình Minh - ảnh Quy SG


Lớp học của chúng tôi nằm phía sau đình làng, phần hậu cung. Gian phòng rộng kê hai dãy bàn dành cho hai hoặc ba lớp chung cho buổi học. Lớp  tư, năm (lớp một, hai bây giờ), lớp vỡ lòng. Tôi học lớp tư. Đôi khi lớp học không có cấp học rõ rệt mà tùy theo môn học, nhất là môn toán. Trò nào làm được phép nhân từ ba đến bốn con số trở lên thì được xếp học lớp ba hoặc ngược lại. Có khi nhiều đứa hai năm vẫn còn học lớp ba. Lên lớp nhì, nhất thì qua bên kia sông phố quận nhà.

 

Thầy tôi là anh trai tráng trong làng, học cuối đệ nhất cấp, lớp đệ tứ, tức lớp 9 bây giờ, thầy về làng dạy học. Ngôi trường- đình làng đó cách xa với khu dân cư, nó tọa lạc trong khu đất rộng. Ban ngày, khu đó náo nhiệt với lũ học trò chúng tôi, quậy lên đó không khí của sự sống, vô tư hồn nhiên. Nhưng khi bóng chiều buông xuống thì khu đình đó bước sang một thế giới khác, thế giới của loài dơi, của lũ chim ăn đêm và là thế giới của sự tưởng tượng, hoang tưởng phong phú của con người.

 

Thầy của tôi, ấn tượng về thầy với tôi tới bây giờ, đó là những hình phạt. Mỗi khi bước vào lớp học, trên bàn thầy bao giờ cũng có một nắm thước gạch dùng để “phóng phi tiêu”. Thầy ít nói, không cần nói, những cái thước của thầy thay lời la mắng, quở trách. Khi có tiếng xì xào ở đâu đó, ở cuối góc bàn, đôi mắt thầy nhướng lên thì lập tức có cây thước phóng về phía đó. Vì thế, hai lớp học cùng sinh hoạt nhưng đố có tiếng nào xì xào, hó hé. Tất cả đều im re đến nỗi nghe được tiếng thở của nhau, tiếng va đập của các tập sách và tiếng kéo lê lẹt xẹt guốc dép ở phía dưới.

 

Ngoài trò “ném phi tiêu”, thầy còn có nhiều hình phạt là trồng cây chuối. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cảnh năm ba đứa học trò gác chân trên bàn, chống hai tay xuống đất. Đứa nào cũng mồ hôi mồ kê nhể nhại, máu đổ dồn lên mặt. Chỉ sau đó vài phút là có đứa xỉu, khó bề đứng nổi. Hình phạt thứ hai là quỳ xơ mít, trò này rất khó chịu cho hai đầu gối, khi được thầy cho phép đứng lên, hai đầu gối có đứa rướm máu, sưng phù đi cà nhắc một chặp lâu mới trở lại bình thường.

 

Tôi không hiểu tại sao thầy có nhiều hình phạt quái ác cho học trò của mình.

 

Hình phạt của thầy làm cho chúng tôi sợ nhưng không phục. Có đứa tìm nhiều cách để trả thù thầy tôi, nhưng cách trả thù nào cũng phải lén lút, vì nếu thầy tìm ra thủ phạm, ắt sẽ phạt gấp hai hoặc buộc phải nghỉ học. Riêng tôi, cách trả thù độc nhất vô nhị là hát.

 

Thầy họ Lã, Lã Đại. Gia đình thầy ở cồn giữa, sống bằng nghề kéo rớ.

“Rớ rơ, mẹ con mụ rớ lên bờ đốt than.”

 

Đó là câu hát khi thấy người thân của thầy kéo rớ qua khúc sông làng tôi. Ngoài nghề kéo rớ, gia đình thầy còn có nghề khác, nghề nạy gộp. Những ngày nước cạn, họ kéo cái bè sau lưng mà bắt gộp. Lúc đó tôi lại hát, hát rằng:

 

“Ba đồng một mớ vải ta

Không may mà bận để đầu cha nó ra ngoài.!”

 

“Để đầu cha” nguyên do là, những người đi nạy gộp họ thường trần truồng như nhộng, quần áo vắt trên bè để khi lên bờ có quần áo khô mà mặc, tránh bị rách tươm do ngâm lâu dưới nước.

 

Mỗi lần tôi hát, bà nghe được lại quở trách, bởi hát như thế là hỗn hào, là vô giáo dục, không kính trọng thầy, thiếu tôn trọng người khác. Tuy vậy, mỗi khi bà đi vắng hoặc tôi lén đến chỗ khuất mà hát là để trả thù thầy tôi.

 

Lớp học dưới mái đình vẫn rôm rả mỗi ngày, tiếng ê a ngân nga của lũ học trò vang vang tạo niềm vui, ấm áp, tỉ tê gợi niềm phấn kích vui sống cho người làng tôi. Cái thước khẽ nhịp trên bàn, tiếng đọc bài của các trò theo nhịp gõ như bài đồng ca lảnh lót trong buổi lễ nhà thờ cuối tuần, trong tiếng chuông nhà thờ Đức Hựu tận xã Hoài Châu, Hoài Nhơn, Bình Định mỗi buổi chiều nó lại kêu kính koong vọng lại từ bên kia sông.

 

Tôi có cơ may hơn những đứa học trò khác, hẳn thầy Lã Đại phát hiện ra tôi có âm giọng tốt, biết ngắt nhịp rõ ràng, nổi trội hơn cả những đứa học trò khác trong cách phát âm bài học vỡ lòng, được thầy “để con mắt xanh” và đề bạt lên bảng đen, được đứng cạnh bên thầy đọc bài để cả lớp đọc theo. Những bài học thuộc lòng ghi trong những tập sách giáo khoa thư lớp ba, lớp nhì, tác giả Bảo Vân do nhà sách Khai Trí Sài Gòn ấn hành.

 

“Sài Gòn có bến Chương Dương

Có dinh Độc Lập, có đường Tự Do

Có chợ Quán, có Cầu Kho

Bến xe Lục Tỉnh,con đò Thủ Thiêm…”

 

Cái dinh Độc Lập, bến Chương Dương gây nhiều ấn tượng trong đầu óc non nớt , nó gợi cho tôi bao rộn ràng phố thị. Dinh Độc Lập ắt hẳn nó phải to lớn gấp nhiều lần so với dinh cơ của hai anh em ông Ngô Chấp, Ngô Tuấn, làm xã trưởng ở làng tôi. Tôi lại hình dung thủ đô Sài Gòn xa lạ nào đó, bến xe Lục Tỉnh, cầu Kho, chợ Quán…hoành tráng, rực rỡ, lấp lánh trong từng con chữ lặng lẽ kia.

 

Lối dạy quá nghiêm khắc của thầy Lã Đại gây bất bình với phụ huynh trong làng. Những đứa trẻ mà thầy dạy ít nhiều cũng có năm ba dấu ấn trên người. Mỗi buổi học có đứa chảy máu hoặc đầu gối tím bầm do quỳ xơ mít quá lâu. Lũ học trò mếu máo vì đau, còn phụ huynh lại xót ruột. Dù vậy, họ đâu dám nói ra bởi cái lẽ tôn sư trọng đạo. Đạo đức quân sư phụ đã có nguồn gốc sâu xa, nó tiềm ẩn trong suy nghĩ của mọi người.

 

Quân sư phụ. Ba tiếng đó với thời chúng tôi nó thật cao quý. Thế hệ của chúng tôi không còn vua, chế độ phong kiến được thay thế chế độ công hòa. Người đứng đầu quốc gia là Ngô Tổng Thống. Vị trí của ngài luôn trân trọng trong trí chúng tôi mặc dù chúng tôi chưa bao giờ biết ngài ở đâu và sống ra sao. Ngô Tổng Thống ở tận đẩu tận đâu, ốm tròn mập béo như thế nào chúng tôi nào có biết. Ngài sinh hoạt ra sao, có cắt tóc, cạo râu như thầy Lã Đại, như lão Kiếm xóm đình ở quê tôi. Hay ngài trang nhã, bộ mặt phẳng phiu, trẻ trung béo tốt như ông xã trưởng  mà tôi lúc nào cũng gặp.

 

Ngay những đầu giờ vào lớp, chào cờ buổi sáng, tiếng quốc ca vang lên, lá quốc kỳ đĩnh đạc kéo lên. Khung cảnh lúc đó thật cực kỳ nghiêm trang, không riêng gì lũ học trò chúng tôi mà tất cả người dân, với tấm lòng yêu nước nhiệt thành, dù đứng ở chỗ nào, hay đang đi trên đường cái quan cũng đều dừng lại, đứng nghiêm và ngã mũ chào.  Sự tôn kính đất nước mình bằng hành động cụ thể, tấm lòng yêu đất nước mình không xa xôi, trừu tượng, không huyễn hoặc viễn vông mà xiển dương giá trị nội tại tấm lòng mọi người bằng buổi chào cờ. Ở đó, là hồn thiêng đất nước, là linh hồn, là công sức của bao tiền nhân để lại cho người đời sau. Từ sự tôn vinh những buổi chào cờ, mặc niệm các vị tiền nhân, kính trọng người thầy, tạo giềng mối nền tảng đạo đức xã hội, gắn kết hồn thiêng đất nước, với mỗi cá nhân, với cộng đồng.

 

Âm vang niềm tôn nghiêm, niềm tin rất cụ thể hồn thiêng đất nước. Lúc đó, người ta không nghĩ đến mối lợi riêng cho mình mà luôn nghĩ đến sự phồn vinh của cái chung, người ta không hề nghe lời rao giảng về đạo đức như thế nào, nếp sống ra sao cho có tôn ti trật tự.

 

Một bữa nọ, buổi chào cờ đầu tuần, sau phút mặc niệm các anh hùng tử sỹ, thầy Lã Đại thông báo với lớp học chúng tôi một tin cực kỳ quan trọng. Ngô Tổng Thống sẽ đi kinh lý miền trung và chúng ta có nhiệm vụ đón ngài trên đường đi. Sự háo hức đón ngài tổng thống khuấy động ở làng tôi niềm vui hiếm thấy. Xênh xang cờ hoa, biểu ngữ giăng suốt con đường cái quan. Sự chờ đợi rồi cũng đến. Từ lúc tờ mờ sáng, lũ học trò chúng tôi mặc quần xanh áo trắng tươm tất, sạch sẽ. Chúng tôi tập hợp trước sân đình làng và theo sự hướng dẫn của thầy, mọi người lần lượt đi ra đường cái quan. Xin nói thêm là ở xã tôi có một đội trống, đội thiếu niên và tôi luôn luôn thèm muốn được đứng ở vị trí đó, quá đỗi là thèm. Tiếng trống cuả đội thiếu niên gây náo nức tâm hồn tôi, tiếng trống thùng thình như quyện xoắn không gian lại, đục thủng khối không gian u trầm tịch mịch của làng quê ít hội hè lễ lạt.

 

Dàn trống đội thiếu niên đi trước, theo sau là lũ học trò chúng tôi xếp thành hàng một, cờ xí rợp trời, băng rôn mang khẩu hiệu “suy tôn Ngô Tổng Thống”. Chúng tôi bước đi theo nhịp trống, tiếng trống thùng thình dội xuống dòng sông quê tôi mùa nước cạn. Nước sông lấp lánh như hòa cùng niềm vui với chúng tôi một thời tươi trẻ.

 

Cả một buổi sáng ngài tổng thống chưa tới, chỉ có ông mặt trời là tới trước. Ông mặt trời bắt đầu từ đằng đông, tia nắng dọi qua rằng dừa xanh, cái bóng của nó che bóng cả đoạn đường cái quan. Rồi cái bóng cụt dần, cụt dần đến khi không còn cái bóng nữa mà ngài tổng thống vẫn chưa thấy đến. Trên mặt chúng tôi mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Niềm vui háo hức ban đầu tan biến theo từng giọt nắng. Đội trống như kẻ thất trận, trống đi đàng trống, dùi đi đàng dùi. Những hành vi, cử chỉ nghênh ngang, phấn khởi lúc ban đầu của lũ chúng tôi giờ còn trơ lại những khuôn mặt méo mó, trơ khấc giữa cái nắng ban trưa, những tia nắng nhảy nhót, lăn lóc trên đường đi.

 

Tôi kể chuyện này cho ông Sáu nghe.

 

Tôi gọi là ông Sáu nhưng ông chưa già lắm, cái tuổi nhỉnh hơn bốn mươi một chút, vóc dáng ngư phủ tạo nên con người có sức khỏe dẻo dai mặc dù căn bệnh quái ác từ lúc bị đắm thuyền bởi cơn lốc xoáy bất chợt đã làm cơ thể ông suy nhược đi nhiều. Tôi gọi ông Sáu vì bởi theo bà tôi, chúng tôi có dây mơ rễ má từ thời nào xa lắc xa lơ, dòng họ cật ruột từ thời cụ tổ, đến thời chúng tôi thì, theo cách ví von của bà là “đại bác bắn không tới”. Mặc dù vậy, tình làng nghĩa xóm gắn kết chúng tôi hơn bao giờ hết, bà con xa không bằng xóm láng giềng gần.

 

Tôi miên man chào hỏi ông, ông gật đầu rồi chỉ tôi ngồi cái ghế bên cạnh. Tôi ngắm khuôn mặt ông có già đi nhiều, mắt hốc hác, gò má lõm sâu phơi cái răng cửa vàng khè khói thuốc. Hồi này tôi thấy ông hút thuốc nhiều, toàn thuốc rê, điếu thuốc vấn như hoa loa kèn to bằng ngón tay cái. Mỗi lần vấn thuốc, ông kéo rê lưỡi liếm như keo kết dính. Ông rít thuốc, má lõm sâu, đóm lửa xòe lên, phả khói mùi khét lẹt. Cách hút thuốc này gây tổn hại nhiều thể tạng của ông, bà Sáu nhiều lần khuyên can nhưng ông vẫn chứng nào tật ấy.

 

Ông Sáu ngồi hút thuốc, suy tư nhìn sợi khói bay lơ lửng, sợi khói có màu trắng đục, thi thoảng lẫn màu xanh mơ hồ huyễn hoặc, sợi khói kéo thành sợi ngoằn ngoèo nối dài đến tận nóc nhà rồi tan biến vào cõi hư không.

 

Ông vội lấy cục phấn ghi nghệch ngoặc trên nền gạch:

“Đón rước ông Ngô Đình Diệm đi kinh lý qua đây?”

 

“Phải đấy ông Sáu ạ. Ngô tổng thống không thấy đâu, lũ trẻ chúng cháu một buổi say nắng!”

“ Thật đáng trách, đáng tội!” Tôi nhìn dòng chữ trên nền gạch, rồi nhìn dáng vẻ trầm ngâm của ông Sáu.

“Đáng trách, đáng tội ai, ông Sáu?”

 

Tôi không thể hiểu dòng chữ ngoằn ngoèo kia. Cái nền gạch thì nhỏ nhưng suy nghĩ của ông thì quá lớn với tôi . Tôi hiểu rằng cái suy nghĩ kia luôn cuốn riết trong đầu ông. Ông gạch gạch xóa xóa dòng chữ dưới nền nhà, những câu chữ này không để riêng cho ai.

 

Một triều đại đang đến hồi kết, một nền cộng hòa non trẻ. Một nốt ruồi đen thấy rất rõ trên gò má dưới mắt trái của tổng thống xem như báo hiệu số mệnh buồn phiền, nhiều tang tóc. 29 tuổi làm tuần vũ, 31 tuổi chểnh chệ thượng thư bộ lại. Mái tóc đen nhành, dáng người thấp, chân đi hai hàng, lạch bạch nhưng mau lẹ, gương mặt phúc hậu, tác phong mau lẹ, một giọng Huế ấm áp, một lối nhìn thẳng vào người đối diện. Ôi, phải chi ông khiêm tốn hơn thì đất nước không như thế này mà là thế khác.

 

Nguyễn Thanh Sơn

(trích tập truyện Thương Nhớ Làng Ơi)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 904)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 905)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1238)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1100)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1332)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1409)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1366)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1242)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1818)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 1956)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9326)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16158)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15175)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15515)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 900)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1237)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1330)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1818)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3585)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5403)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4974)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5580)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1099)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1408)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1718)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1692)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1366)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1242)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1491)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1539)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12209)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28583)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35080)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34972)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9732)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11938)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 904)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1237)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1818)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 1956)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2260)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6956)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6388)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8313)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.