- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHUYỆN KHÔNG MUỐN KỂ

23 Tháng Chín 20202:10 SA(Xem: 44646)

TRANH TonThatHai- truyen LD
Tranh Tôn Thất Hải

Vừa đậu xe vô parking lot Hương đã thấy nhiều người nhốn nháo từ trong sân. Xe cứu thương hụ còi ầm ỹ rồi đỗ cái xịch, hai anh chàng cao to lực lưỡng mang cán khiêng chạy vô. Hương lao vội vào căn nhà số 18 có giàn bầu xiêu vẹo, nhà của bà Phước, bệnh nhân từ hơn một năm nay của Hương.

Bà Phước đang nằm dài trên nền xi măng, la lối om sòm “Trả tiền cho tao, tao có mấy trăm tiền già mà tụi nó cũng lấy hết của tao!” Hai anh chàng nhân viên cứu thương ngỡ ngàng không hiểu bà Phước bị làm sao. Hương mở lời:

-Tôi là y tá của bà, để tôi coi có chuyện gì.

Hương chạy tới lay tay bà Phước:

-Bà ơi bà có sao không? Bà kêu 911 có chuyện gì? Bà có đau lồng ngực trái không? Có tê bên tay nào không? Bà trả lời cho con đi...

Bà Phước nhìn Hương chằm chằm rồi nói:

-Sao giờ này cô mới tới? Tui muốn cô nói với cảnh sát là tui bị người ta lấy hết tiền già rồi! Hương sửng sốt:

-Sao chuyện này mà bà gọi 911?

Bà đứng lên chống nạnh:

-Chứ tao biết gọi ai? Tao gọi ai người ta nói gì tao cũng không hiểu rồi họ cúp máy. Chỉ có số này là có người tới.

Thôi Hương hiểu rồi. Bà Phước bị mất tiền, không biết đòi ai kêu ai nên bà gọi số điện thoại khẩn cấp. Người ta nghe tiếng bà già thì tưởng bà bị nguy kịch về sức khoẻ nên cho xe cứu thương tới. Hương đang quay qua giải thích cho mấy anh nhân viên cứu hộ thì đồng thời có viên cảnh sát người Việt cũng vừa mới tới. Anh cảnh sát nhíu mày:

- Bà này trong năm nay đã gọi 911 bốn lần. Mỗi lần vậy là tốn nhiều tiền của nhà nước lắm cô à. Rồi anh quay qua nhìn bà Phước:

- Bà nha, bà cứ kêu người ta hoài, tới nơi thì bà chẳng bị gì, thì lần sau bà kêu nữa họ không tới đâu.

Đám đông giải tán dần dần, ai về nhà nấy. Hương mới đỡ bà Phước tới ghế ngồi, lấy nước cho bà uống, rồi hỏi chuyện. Bà kể hàng tháng bà ra ngân hàng lãnh $670 tiền già. Mà tháng này bà lãnh xong thì mấy cô ở ngân hàng lừa bà, lấy lại tiền của bà. Hương nghe thấy có vẻ vô lý, bèn kêu chị hàng xóm và anh cảnh sát người Việt tới hỏi. Anh cảnh sát mệt mỏi:

-Cô ơi bà này bả quậy banh cái ngân hàng hồi sáng rồi. Người ta cho bả coi clip từ camera, thấy bả rõ ràng nhận tiền rồi bỏ vô giỏ đi ra. Bả để đâu mất hết giờ bả cứ tìm cách đòi lại.

Bà Phước lườm anh cảnh sát: -Mấy người đóng phim giả mạo để cướp tiền già của tui! Hương vuốt lưng bà: -Thôi bà coi như của đi thay người. Bà lớn tuổi vậy, ngân hàng lại có camera, thì ai dám lừa bà? Chắc bà để đâu rồi quên, lát con giúp bà tìm lại nha!

Anh cảnh sát ngao ngán lắc đầu bỏ đi. Hương đo huyết áp, nhịp tim, nhịp thở... khám tim, phổi, bụng... cho bà. Mọi thứ đều bình thường. Hương lấy cho bà ly nước, khẽ khàng:

- Bà thấy đỡ chưa? Sao bà không gọi cho con của bà trước?

Bà nhìn Hương chừng vài giây rồi thở dài:

- Con gái tui ở tiểu bang khác, tui kêu nó nó cũng đâu có tới được.

Hương tần ngần: - Bà có còn người thân nào khác ở gần không?

Bà Phước bỗng dưng bật khóc:

- Đâu có ai đâu cô, chồng con tui chết hết rồi...

Hương đã nghe và đọc những câu chuyện kiểu này rất nhiều, mà từ khi làm y tá đến thăm tận nhà bệnh nhân, mọi thứ cứ như những thước phim sống động trước mắt Hương. Bao nhiêu bi kịch sau cuộc chiến tranh mà một bên thì nói là nội chiến, một bên thì nhất định bảo là chống xâm lược, nhưng là gì thì cũng chỉ có người dân lành vô tội phải gánh chịu tất cả những nỗi buồn và hệ luỵ.

Bà Phước ngày xưa chắc phải là một mỹ nhân một thời. Bà cao khoảng một mét bảy mươi, chân dài, dáng thon thả, mũi cao, mắt sâu... Nhưng theo lời bà thì “Tui cao quá khó lấy chồng cô ơi”. Nhưng rồi thì bà cũng tới tuổi lấy chồng. Người ta mai mối cho bà một anh lính mũ đỏ, hai người lập gia đình và bà sinh được một người con trai. Những năm tháng đó miền Nam chìm trong binh lửa, vợ chồng bà một năm chỉ được gặp nhau vài lần. Rồi có một lần bà chờ mãi chờ mãi... Người ta gửi hung tin cho bà bằng một mảnh giấy báo tử vô tri vô giác. Bà thảng thốt dắt con chạy ra nơi nhận xác chồng, và rồi bà mất đi một nửa con người từ đó, cứ nhớ nhớ quên quên...

Nhưng hình như tạo hoá vẫn chưa muốn bù trừ cho bà. Cuối tháng tư năm 1975 ai cũng sợ hãi bỏ chạy, bà cũng dắt con chạy từ Vĩnh Long lên Sài Gòn. Trong lúc hỗn loạn nháo nhào, bà bị người ta xô té ngất xỉu. Tỉnh dậy thì không thấy đứa con trai đâu. Bà vật vã khóc lóc van xin. Nhưng trong bối cảnh chạy loạn, chẳng ai để ý tới bà. Từ đó bà không tìm cách chạy nữa mà quay về quê cũ. Bà tiếp tục nghề làm nông nhưng lúc này phải làm cho hợp tác xã nên bà nghèo xác xơ. Việc tìm kiếm con của bà coi như vô vọng vì chẳng ai có thể giúp. Tâm bệnh bà càng thêm nặng. Một ngày nọ, em gái của bà tới nhờ bà nuôi giùm đứa con gái lai Mỹ mới 6 tuổi để cô ấy đi lấy chồng. Bà đặt lại tên, làm lại giấy tờ khai sanh cho con bé để nó được đến trường. Cuộc sống của bà khó khăn chật vật như bao con người khác sau những ngày cuối tháng tư 1975, nhưng có con bé thì bà vui hơn một chút. Bà vừa vất vả mưu sinh, vừa làm cha, vừa làm mẹ, vừa bảo vệ đứa con gái lai luôn bị chọc ghẹo ăn hiếp vì làn da đen bóng và mái tóc xoăn tít sát da đầu. Một ngày nọ, người ta chộn rộn bàn tán về việc những gia đình có con lai Mỹ sẽ được chính phủ Mỹ giúp đỡ cho sang Mỹ định cư. Bà Phước thật sự chẳng muốn đi đâu khỏi cái làng bà đã sống hơn nửa đời người, nhưng bà quyết định phải đi cho con bé được đổi đời, được học hành tử tế, và nhất là không bị chọc ghẹo kỳ thị vì vẻ ngoài khác biệt của nó!

Rồi thì mẹ con bà cũng đặt chân tới nước Mỹ phồn vinh hoa lệ. Những ngày đầu có hội nhóm cộng đồng Việt Nam tại Houston Texas giúp đỡ rất nhiều. Mẹ con bà được cho chỗ ở, cho food stamps để lãnh đồ ăn, và cho thẻ đi khám bệnh miễn phí. Do không biết tiếng Anh và không có bằng cấp, người ta cho bà đến làm ở một nông trại thu hoạch cantaloup (dưa lưới). Bà làm nông quen rồi nên công việc cũng phù hợp, có tiền trang trải cuộc sống, và có nơi ăn chốn ở tử tế nên bà thấy rất thoải mái. Con gái bà qua Mỹ tuổi cỡ 14-15, đi học vài năm thì bỏ học, theo học nghề nails và chuyển sang tiểu bang khác làm ăn và lấy chồng sinh con. Từ đó cô rất ít khi liên lạc với bà, và hầu như không về thăm bà vì công việc quá bận rộn. Bà nghĩ xứ Mỹ này con ruột còn bỏ mình đi, huồng hồ là con nuôi, nên bà cũng không mấy nặng lòng. Tới khi tuổi già ập đến, bà cảm thấy thật mệt mỏi khi ngày ngày phải đội nắng ra ruộng dưa, mà nông trại cũng bắt đầu sử dụng nhiều máy móc hơn cho việc thu hoạch, nên bà xin nghỉ là họ đồng thuận ngay. Bà nhờ cộng đồng giúp đưa bà về ở trong một làng Công Giáo dưới chân freeway 91 của thành phố Houston. Ở đây bà được hưởng đầy đủ phúc lợi của một người già. Ngoài tiền trợ cấp mỗi tháng, bà có dịch vụ hỗ trợ giúp dọn dẹp nhà cửa đến mỗi ngày, và y tá đến khám bệnh mỗi tuần. Bác sỹ chẩn đoán bà bị cao huyết áp, cao mỡ, tiểu đường, và rối loạn lưỡng cực (bipolar) nhẹ. Nhưng bà vẫn có thể sống một mình an toàn.

Cuộc sống khá êm đềm thuận lợi, nhưng càng lúc bà càng thấy cô đơn tù túng vì cứ quanh quẩn mãi trong làng tháng tháng năm năm... Có một lần bà bật bếp gas nấu canh mà quên tắt, thế là đám cháy bùng lên. Người ta đến dập tắt lửa và từ đó cấm không cho bà nấu nướng. Bà đã buồn nay còn buồn hơn. Tiếng Anh của bà học lúc còn ở nông trại chỉ đủ xài khi đi thi quốc tịch, sau đó là bà quên sạch. Thêm cái bệnh rối loạn lưỡng cực khiến bà càng lúc càng ngơ ngác nhớ trước quên sau. Mà nghĩ lúc nào cũng ở trong cộng đồng người Việt nên bà cũng chẳng cần trau dồi. Như cái làng này có mấy trăm người, mà đâu được mấy người nói tiếng Anh, dù đã sống khá nhiều năm ở Mỹ, họ vẫn sống tốt đó thôi.

Trong làng có một cô tên Thanh, trạc tuổi 40, trông khá nhanh nhẹn, biết kha khá tiếng Anh và biết lái xe, được coi như vị cứu tinh của người già cả xóm. Ai có việc gì cần điền giấy tờ, ai không biết lái xe mà cần đi đâu, thì cô giúp với giá cả phải chăng. Từ ngày về làng này ở thì bà Phước đi đâu hay cần gì đều trông cậy vào cô. Đến khi không được tự nấu nướng nữa thì tuần nào bà cũng nhờ cô chở ra chợ Việt Hoa mua đủ thức ăn nấu sẵn ăn cho cả tuần. Mỗi tháng cô đều chở bà ra ngân hàng lãnh tiền già. Nhưng hôm nay cô bỗng dưng trở thành nạn nhân của bà! Tiếng bà Phước lại hét lớn làm Hương giật mình:

- Biểu con Thanh lại đây cho tao! Nó là đứa lấy tiền của tao!

Rồi bà giãy dụa la hét om sòm. Hương vội chạy ra kêu mấy người hàng xóm gọi cô Thanh. Cô Thanh bình tĩnh đi vào:

- Sao nữa đây bà? Tuần trước bà kêu 911 đòi kiện chợ Việt Hoa nấu canh khổ qua làm bà ăn bị tiêu chảy. Tuần này bà lại kêu 911 tố cáo người ta lấy tiền già của bà. Giờ bà kêu con qua có chuyện gì?

- Trả tiền cho tao! Từ nhà băng về đây chỉ có tao với mày trên xe, mày không lấy thì ai lấy?

Bà Phước mặt đanh lại, mắt long lên, gằn giọng từng tiếng. Cô Thanh tỉnh bơ quay qua Hương:

- Cô coi chừng nha, lát nữa bả đổ thừa qua cô à.

Rồi cô bước đi nhẹ tênh ra khỏi nhà bà Phước. Như thể đây là một điều thường xuyên xảy ra. Hương cảm thấy thật bối rối vì bà Phước cứ khóc tu tu, mà chỉ còn 30 phút nữa là Hương phải đi thăm bệnh nhân khác. Hương bèn khẽ khàng:

- Thôi bà để con khám tổng quát một lần nữa coi bà có khoẻ không, rồi bữa khác rảnh con quay lại giúp bà tìm số tiền.

Hương nghe tim, phổi, đo huyết áp xong thì thấy bà Phước cũng nguôi nguôi. Hương đỡ bà vô phòng trong nghỉ ngơi cho yên tâm. Căn phòng ngủ nhỏ xíu chỉ để vừa 1 chiếc giường đơn và cái giá treo quần áo. Nghe nói bà không cho ai bước vào nơi này, không hiểu sao hôm nay bà lại không cản Hương. Như một số người già Việt Nam, bà Phước dù nằm giường nệm vẫn thích trải lên đó một tấm chiếu quê nhà. Hương với tay vuốt tấm chiếu lại cho ngay để bà nằm, thì cảm thấy cái gì lộm cộm bên dưới. Hương lật chiếu lên, hàng trăm tờ giấy hai mươi đô la chen chúc trên tấm nệm khiến Hương thật sự hốt hoảng, vì lỡ bà lại đổ vấy gì cho Hương lúc này thì khổ! Có một xấp tiền còn buộc dây thun nằm trong góc, chắc đây là số tiền già bà mới lãnh về hồi sáng. Còn những tờ tiền kia có lẽ là do bà để dành từ lâu rồi. Linh cảm mách bảo Hương phải giả vờ như không hề thấy gì, nên Hương cất tiếng rụt rè:

- Bà ơi, bà lên đây nằm nghỉ...

Bà Phước tỉnh queo:

- Ừa nhưng mà tiền của tao đâu? tiền già tháng này của tao tụi nó lấy mất rồi huhuhu...

Bà Phước quay về chủ đề cũ và lại khóc tu tu khiến Hương ngao ngán. Hương gọi điện cho người quản lý để xin lời khuyên, nhưng tuyệt đối giấu chuyện đã nhìn thấy số tiền dưới tấm chiếu. Người quản lý nói Hương đưa giấy chứng nhận đã thăm bệnh cho bà Phước ký tên vào, và phải rời nhà bà ngay rồi viết tường trình về mọi việc xảy ra để gửi cho công ty. Sau đó bác sỹ và ban quản trị sẽ tính tiếp và ra quyết định về case của bà. Theo kinh nghiệm và hiểu biết của Hương thì những trường hợp quá già yếu mà còn có vấn đề hơi nặng về thần kinh thì sẽ phải vào nhà dưỡng lão ở, để bảo đảm an toàn cho bản thân và người xung quanh. Mà đối với người già Việt Nam thì vô nursing home chẳng khác nào bị chôn vào nấm mồ khi đang còn sống, tâm bệnh của họ sẽ càng nặng thêm.

Hương nhìn bà Phước vừa khóc vừa ký giấy chứng nhận đã được thăm bệnh mà thấy chạnh lòng. Bước chân Hương nặng trĩu đi ngang qua mảnh vườn nhỏ xác xơ trong ánh nắng trưa gay gắt. Chẳng biết ngày mai bà có nhớ ra được bà đang nằm trên những tờ tiền già của bà hay không! Và chẳng biết ngày mai Hương có dám kể thật về những gì mình đã thấy dưới tấm chiếu đó hay không!

Alena Doan

Sep 22, 2002

 

Ý kiến bạn đọc
13 Tháng Mười 202010:37 SA
Khách
Sự thật vẫn là sự thật. Nếu là tôi,tôi sẽ gọi cho người thân và cộng đoàn của bà ấy đến cùng gặp gỡ để nói chuyện cho rõ ràng về những gì đã xảy ra và sự thật trước mắt. Tất cả sẽ do sự quyết định của bà ấy và người thân cùng với cộng đoàn của bà ấy.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 152)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 221)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 329)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 596)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 466)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2652)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1439)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2537)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2044)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1880)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11751)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18349)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17376)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 328)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2537)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2657)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4036)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 596)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2044)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3836)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3327)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2651)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2548)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2918)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2909)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 152)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 462)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1439)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4698)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14920)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31051)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37831)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12761)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14052)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5305)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7859)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6923)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7343)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8303)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 221)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9917)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9105)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi