- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THƠ NGUYỄN THỊ THANH LƯU

10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 47962)


NGUYEN THI THANH LUU-photo DangTuanSon
Nguyễn Thi Thanh Lưu - ảnh Đặng Tuấn Sơn

LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu.

Tên và cũng là bút danh: Nguyễn Thị Thanh Lưu

Sinh năm 1983

Quê quán: Vinh, Nghệ An
Tốt nghiệp tiến sĩ ngữ văn năm 2012

Đã có thời gian công tác tại Viện Văn học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam)

Tác phẫm đã xuất bản: Làm dâu nước Mỹ - Tự truyện (2015), Nhật kí Cà Kiu- Tập truyện thiếu nhi (2016), Anh chỉ là sực nghĩ của em thôi – Tập thơ (2019)

Hiện đang sống tại Sài Gòn.

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu chùm thơ long lanh như nắng hè nhưng buồn và sâu lắng như mùa đông của nhà thơ Nguyễn Thi Thanh Lưu.

TCHL

 



BIỆT GIAM NỖI BUỒN

 

Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn
Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói
Ăn ăn ăn
thân xác tôi tê mỏi 
Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê

 

Những giờ khắc lê thê
Mạch máu nản sầu buông trôi lũ hồng cầu tái ngắt 
Giá mà máu tôi hoá được thành nước mắt
Tôi sẽ khóc 
cho đến khi xác thân cạn kiệt
Phóng thích sự sống
ròng ròng 

 

Khi gồng mình xoay xở với cô đơn
Tôi quên mất tôi còn ngôn ngữ
Tôi loay hoay giữa những ý nghĩ loã lồ
Chực chờ giải thoát 

 

Người dấu yêu ơi
Xin người tha thứ
Về nỗi im lặng dài mệt mỏi giữa hai ta
Tình yêu chẳng nên là
Một sợi dây cứu chuộc

 

Người yêu dấu của tôi
Người không nên và chẳng cần phải là liều thuốc
Cho một sinh linh ốm yếu buồn sầu 
Ta đã tan vào nhau
Ta đã hứa bạc đầu
Tôi có thể cởi bỏ áo quần trước người không nghi ngại
Tôi có thể nhắm mắt dắt tay người đi ngàn vạn dặm đường xa ngái

Nhưng nỗi buồn này
Cứ để tôi giữ lại
Biệt giam 

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(SG, 13/11/2018)

 

 

 

BÀI CA TUYỆT VỌNG 1

  

Khi những câu thơ cũng quá tải nỗi buồn
Tôi rót tôi vào đáy chén
Khi những bức tranh treo toàn mạng nhện
Tôi gặm nhấm tôi 
Qua ngày

 

Tự uống mình
Quái lạ 
Chẳng say
Tỉnh như sáo nhìn ra xung quanh
Toàn những điều xám xịt

Dưới những ý nghĩ rong rêu câm nín
Tôi thấy tôi rung vai đứng khóc
Khánh kiệt linh hồn

 

Trách chi tôi
Đã chẳng mở lòng
Chẳng phải đời đã quá nhiều ủ dột
Cứ mặc tôi
tù đọng vũng buồn
Cứ mặc tôi
Ngao ngán cô đơn
Cứ mặc tôi 
Cứ mặc tôi
Mai một

 

Rồi rốt cùng
Chỉ trời xanh tê buốt
Rồi rốt cùng
Chỉ gió cuồng ruổi theo mây mải mốt
Chỉ nắng trút sương buông
Tiếng chim chiều xót ruột

Âm thầm 
bầu bạn
Tan rữa
Cùng tôi

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(SG, 11/2018)

 

 

BÀI CA TUYỆT VỌNG 2

 

Trong những giấc mơ tiêu mục

trơ lại mình tôi

Không có chồi hi vọng nào

Mọc lên từ vũng lầy đen đặc của đổ vỡ

Trái tim nghẹt thở

Giãy giụa buồn

Trong hố tối kí ức muộn phiền

Tôi rã rời hơi thở cuối

Đám bụi suy tư thuở hồng hoang hấp hối

Sự sống mê man trong những xác hồng cầu

Này tôi

Tôi ở đâu?

 

Dưới những đám mây tan rữa

Những ý nghĩ về hạnh phúc rời bỏ tôi đi

Dưới bầu trời tan vỡ

Đôi tay tôi chẳng còn gì

Tôi tuyệt vọng nghĩ về những đóa hoa đã từng nở

một vài khi

Trong lòng tôi những ngày u tối

Những đóa hoa dịu dàng quá đỗi

Sao chỉ khiến lòng buồn thêm?

 

Xin em

Nếu tôi có quên

Hãy nhắc nhớ tôi rằng

Chúng ta rốt cùng cũng chỉ là đám cỏ

Những mảy bụi nhỏ nhoi

Thảng hoặc sáng lên dưới ánh mặt trời

 

Em

Xin em

Hãy ôm lấy tôi

Lần nữa trong đời

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(Sài Gòn, sau những cơn mưa đầu mùa, 5/2019)

 

 

DỨT TÌNH

 

Con bướm trắng nôn nao

Đậu bên song cửa mộng

Hoa biết đang tàn ruỗng

Cúi đầu rữa nhuỵ xanh

 

 

Người đàn bà

Quay lưng không đành

Xõa tóc phân vân

Bóc nhớ thương xưa

cắn dần mộng cũ

Đuôi mắt đốt

Tháng năm thăm thẳm

Gạn gùng ngọt cay

 

Thoang thoáng cô đơn

Buông trĩu vai gầy

Người đàn bà gánh gồng kí ức

Tùng tiệm tiếng thở dài

Buốt ngực

Lại mùa chim thiên di

 

Con bướm trắng bay đi

Khung cửa trống màu li biệt

Người đàn bà tự gỡ mình khỏi đám mây mù hối tiếc

Tự vẫn tóc thề

Niệm chú đại bi

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(SG, 27/5/2018 - 19/01/2019)

 

 

NGUYEN THI THANH LUU-photo Duy Nguyen
Nguyễn Thị Thanh Lưu - photo Duy Nguyễn

NỢ CHỮ

 

Tôi viết

Cho những thứ không thể cất lời

Cho cơn gió ngược xuôi

Cho những mắt người

Ngạo cười chữ nghĩa

 

Tôi viết

Cho những nấm mồ im lìm ngoài nghĩa địa

Cho ngọn cỏ tàn chiều đông

 

Tha thứ cho tôi

Tôi lỡ viết ra rồi

Cả những nỗi hổ thẹn anh chỉ hòng giấu diếm

Những sự thật bạn lo âu đậy điệm

Những ngây ngô dối loè

Tiếng tu hú kêu đêm

 

Tha thứ cho tôi

Cây kim đã lộ rồi

Dưới ngăn ngắt chữ tôi ảo não

Sự thực là

đời choàng vào ta quá nhiều tấm áo

Rách tươm

 

Tôi ước bắt đầu được viết về cánh buồm

Khi chẳng còn cây kim nào

Nhẫn nhịn chờ ngày le lói sáng

Khi tôi với bạn lại có thể ngồi với nhau cười con cáo

Rướn hoài chẳng tới chùm nho

 

Mà thôi,

Ước làm gì

Chữ nghĩa vô lo

Buồm sẽ tự căng vào một ngày lộng gió

Đời ba động nhiêu khê nhưng đời vui

Vì đôi điều còn bỏ ngỏ

Những chuyện im im không hối giục phải thành lời

 

Tôi đã bắt đầu viết như một cuộc chơi

Nhưng không biết cách nào kết thúc

Mỗi câu thơ niệm một điều day dứt

Một nghiêm trang im lặng

Trắng giấy

Chẳng nên lời

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(Đà Lạt, 15/01/2019 – Sài Gòn 30/1/2019)

 

 

 

VÔ ĐỀ

 

Xao xót

Ngọt cay

Đọa đày

Tim óc

Vào một hôm mặt trời không mọc

Ngày là một đóa lụi tàn

 

Thiên địa mang mang

Nhân gian úa rũ

Tình yêu không còn là câu phù chú

Hi vọng hấp hối trong cơn ác mộng

Tiếng cười chỉ còn là vọng động của thời gian

 

Loài người bắt đầu biết ăn năn

Nhưng cỏ chẳng còn xanh nữa

Lũ gió thờ ơ lướt qua khung cửa

Chẳng buồn rung động cánh rèm

 

Đừng buồn nữa, em

Cuộc đời vốn là cõi quên

Mong chi nơi tượng đá

Một khắc quay lưng ta sẽ thành kẻ lạ

Trông ngóng làm chi mà bước hụt ngược chiều

 

Em cứ trút vào đây

Tất thảy rong rêu

Thời gian sẽ lấp đầy miệng hố

Nỗi buồn rồi hoá thân rực rỡ

Trời sẽ lại xanh

Màu xanh nức nở

 

Trong mắt em.

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(SG, 10/12/2018)

 

CON BÒ

 

Người ta tưởng

Tôi thãi thừa hạnh phúc

Bơi lội trong tự do

Tôi đâu phải một con bò

Đủ cỏ là hạnh phúc

 

Tôi bắt đầu hoang mang nghĩ

nếu mình là một con bò đích thực

Liệu tôi có tìm cách cày xới luống rau thành một bài thơ?

Liệu tôi có xoay xở sục mõm vào chậu màu

Vẽ những nỗi đau

Tôi tưởng tượng thấy trong trí não bò vốn bị cho là ngu muội

 

Liệu tôi sẽ là một con bò yếu đuối

Chỉ nằm im trong chuồng hoặc ra đồng vẫy đuôi

Đợi cỏ mùa xuân tốt tươi

Tắm nắng hồng

Rồi yên chí rằng mình là con bò hạnh phúc

 

Cuộc đời tôi sẽ đóng khung trong những bó cỏ non thơm phức?

Và những bãi phân hôi?

Khổ đau hay vui hạnh chỉ bấy nhiêu thôi?

Liệu tôi có phải là con bò biết cười

Và ưa nhảy múa?

 

Liệu tôi có phải một con bò tình nghĩa?

Biết nghĩ tới đồng loại bò

Ở một đồng cỏ xa

 

Một buổi sáng

Tỉnh ra

Giữa những bài thơ còn phân vân viết dở

Những bức tranh nghi ngại lem màu

Và cần cổ ran nhức

Vì những cú quay đầu

trong điệu múa còn chưa vào hồi kết

Tôi biết mình

Sẽ đi tìm tự do cho đến chết

Bằng những xoay xoả ngờ nghệch vụng về tự thân

 

Kể cả nếu tôi có là một con bò

Tôi vẫn đi tìm tự do

Ngoài những đống phân và bó cỏ

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(SG, 21/4/2019)

 

 

MỘT CHUYỆN TÌNH

  

Ôi những khoảng trời xanh thiếu thốn

Ngực rỗng

thông thống gió lùa

Ngày đi nhịp nhặt thưa

Như nhịp tim đã lỗi từ độ mùa tàn lá

Biết ta chẳng là gì của nhau

Mà khi trời gió cả

Lòng tay se khô vẫn bịn rịn nhớ những đường vân

 

Ngấn nắng trên tay

Theo chiều xuống nhạt dần

Nếp nhăn trên môi nàng khô hoảnh

Ngày tàn tắt

đôi vai xuôi giá lạnh

Gió mang mang câu chuyện cũ không lời

 

Nàng quay đi

Se thắt bóng mặt trời

Không ai biết chuyện gì xảy ra

Khiến đôi môi nàng cười

Mà buồn thương ướt trên bờ mi lụa

 

Vào những ngày trời rỗng xanh

Tôi chẳng còn thấy nữa

Bóng nàng trong gương

tôi

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(Sài Gòn, khởi viết 11/11/2018, kết thúc 4/3/2019)

 

 

 

TIẾNG CHIM ĐÊM

 

Có con chim nào hót trong đêm thâu
Đêm sâu tối ngoạm lời chim buốt ruột
Giọng hót mảnh như tơ
Đanh như thép
Đẹp như ánh sáng
Bóng tối nuốt không trôi há miệng ọe khan

 

Tôi áp mặt vào ngực nàng
Ánh sáng rưng rưng trên đôi bầu vú nhỏ
Ánh sáng rịn rơi 
Đợi chờ

 

Nàng lặng im cúi đầu
tìm môi tôi bỡ ngỡ
Giọng chim lanh lảnh vỡ
Lồng ngực nàng bỏng rẫy những thanh âm

 

Tôi không định nói gì về mối tình câm
Nhưng con chim trong rừng cứ hót lời buốt ruột
Có lẽ nào vào một đêm không tài nào ngủ được
Nàng đã mở tung lồng ngực 
Nơi trái tim nàng như pha lê trong suốt 
phóng thích chú chim 

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(Berkshire, 2018)

 

NGUYEN THI THANH LUU 2
Nguyễn Thị Thanh Lưu- photo Châu Vũ

 

NGHĨA RẰNG KHÔNG

 

Anh không nói yêu em
Lời thường tình hẳn rồi anh chẳng nói
Trí nghĩ anh ngựa ruổi
Em hụt hơi cũng không theo nổi vết vó cuồng

Em hụt hơi từ bữa trăng suông
Anh nắm tay em thật chặt
Im lặng dâng đầy trong mắt 
Im lặng mĩ miều đến mức
Em đã tin 
Mọi âm động là thừa

 

Nếu trời không chợt đổ mưa
Hẳn lòng em đã không xao xác
Hẳn em sẽ để yên tay mình trong tay anh
Hạnh phúc. Hụt hơi. Câm lặng

Mỉa mai thay, chính giữa khu vườn mộng
Em phải lòng cơn mưa 

 

Mưa rót vào tai em thứ thanh âm em đã ngỡ là thừa 
Mưa lấp kín nỗi trống không mênh mông của một nghìn câu anh quên hoặc chưa từng muốn nói 
Mưa rửa sạch mọi nín câm tội lỗi
Mưa quệt vào mắt em những giọt lệ vui trào không cần chờ đợi

 

Hoá ra em nhầm
Im lặng 
nghĩa rằng không

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(Berkshire - Sài Gòn, 7,8/2018)

 

MỘT ĐÁM MÂY ÊM

 

Em có thấy không

Những đám mây thong dong

Lướt qua ta chiều nay như một kẻ vô tâm

Thực ra là

Triệu triệu giọt cồn cào nhớ bể

 

Em có thấy không

Ánh nắng xiên khoai vô tình bóc mẽ

Những chiếc lá sắp cạn nhựa rồi còn gượng vẻ

mơn xanh

 

Em có thấy không

Em đã không đành

Mặc kệ trái tim anh lạc nhịp

Em đã hôn anh bằng đôi môi cả nể

Em đã ôm anh bằng cánh tay ước lệ

Nhột nhạt ưu sầu

 

Em đã không hiểu vì đâu

Anh cứ ám ảnh hoài bởi loài mây chẳng liên quan gì đến đời em, đời anh và mối tình ta mắc kẹt

Em không thể hiểu vì sao anh lại u uất buồn

Chỉ bởi màu chiều tím chết

Em cũng không hiểu vì đâu mắt môi anh tê liệt

Khi ta chạm vào nhau

 

Anh không muốn em đau

Anh không để em đau

Bởi những thẳm sâu quay cuồng từng nốt nghĩ

Nhưng anh biết nói sao

Để đời em rồi không ủ ê trong mê mị

Khi anh buông tay em

 

Anh, thực tình

Chỉ là đám mây êm

Em chưa từng để ý

 

Nguyễn Thị Thanh Lưu

(SG, 5/8/2018)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 259)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 336)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 428)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 729)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 609)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2817)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1905)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1451)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2556)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2074)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1892)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11777)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18374)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17396)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 428)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2555)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2668)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4070)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 728)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2074)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3955)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3368)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2817)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2628)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 3008)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2966)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 259)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 609)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1904)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1451)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4807)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14942)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31069)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37865)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12781)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14063)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5367)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7994)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 7000)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7427)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8399)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 336)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9950)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9130)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi