- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

BẾN CHIA LY

18 Tháng Mười Hai 201912:28 SA(Xem: 45365)


kt 3
Tranh Khánh Trường

Hôm ấy là một buổi chiều đầu đông.

Mây trên trời ngưng trôi, chuyển dần từ màu bàng bạc sang xám chì. Hơi lạnh bắt đầu len lỏi vào trong vạt áo, nhấm nháy da thịt. Vài con quạ già tụ họp với nhau tít trên ngọn cây gạo bên đường, lười biếng hé mắt nhìn xuống một tốp lính trẻ đang đi tới bến sông. Ngang qua cây gạo, mấy con quạ cũng chả thèm nhúc nhích. Chúng đang trầm tư. Tốp lính trẻ mệt mỏi lê bước xuống bờ sông. Con sông Thương nước xanh ngăn ngắt chảy lững lờ dường như đứng yên một chỗ. Đò đang ở bên kia. Một người lính dùng tay làm loa gọi: “Đò ơiiiiiiiiiii....” Tiếng gọi đò vang vọng trong chiều thinh tĩnh lặng. Một con quạ già hé mắt nghển đầu nhìn xuống. Những con khác cũng chả buồn nhúc nhích cái thân hình xác xơ đen nhẻm. Nhưng có vẻ chúng cũng hơi khó chịu khi cái giọng trẻ trung rền vang kia phá dòng suy tư của mình. Bằng chứng là chúng chụm đầu vào nhau gục gặc, hơi có tiếng chí chóe, ra điều bàn bạc gì đó...

Tốp lính có mười hai người. Gọi là một tiểu đội. Con đò gỗ do ông lái già chèo sang, cặp bến.

“Sao các chú lại đi đường này?”

“Nhiệm vụ quân sự, bí mật bố ạ!” Một tay lính có vẻ láu lỉnh nhanh miệng trả lời.

Họ ngồi thành hai hàng, hai bên thành đò. Ba lô, súng để dưới lòng thuyền. Yên lặng nhìn mông lung ra dòng nước. Ông đò không hỏi gì nữa, rướn người chèo. Vừa chèo, ông vừa ngắm khuôn mặt của mười hai người trai trẻ. Trong ráng chiều đang buông nhanh, những khuôn mặt sáng láng trẻ trung như tạc vào dòng sông tím thẫm thành ra một bức tranh đẹp đẽ. Ông lái đò thốt nhiên thấy có gì đó cồn cào trong ruột và quặn nhói lên tim. Ông hít một hơi thở thật sâu rồi phà ra nhè nhẹ. Tay vẫn đều đặn đẩy mái chèo. Con đò chầm chậm sang ngang...

“Hết bao nhiêu tiền bố?”

“Các chú bộ đội không phải trả tiền. Đò này của hợp tác xã.”

“Vâng. Chúng con cám ơn. Chào bố.”

“Đi chân cứng đã mềm nhé.”

Ba lô trên lưng, súng trên vai, tốp lính trẻ đi lên khỏi bến sông. Trời đã tối hẳn. Dòng nước sau lưng đen sẫm phả hơi lành lạnh. Xóm ven sông le lói những ngọn đèn dầu. Tiếng chó sủa, tiếng gà kêu nhóc nhách. Tiếng người lớn gọi trẻ con về nhà ăn cơm í ới, léo nhéo... Tất cả những âm thanh ấy như có một áp lực vô hình dồn thêm xuống những đôi chân trẻ trung đã qua mấy ngày hành quân bộ từ những cánh rừng Đùng Đình, Mai Siu xuống. Những đôi chân thốt nhiên trở nên uể oải, chùng xuống. Đến trước mặt cái quán nhỏ duy nhất cạnh con đường xuống bến, cả mười hai đôi chân, không ai bảo ai, không ai rủ rê câu nào, nhất loạt rẽ vào.

“Các chú vào uống nước.” Một thiếu phụ trẻ vừa vặn to ngọn đèn dầu lên, vừa đon đả mời chào.

“Có nước gì cho mỗi thằng chúng em một bát?”

“Có chè xanh nóng đây, mời các chú.”

Quán nhỏ. Một cái chõng tre trên bày ít quà quê. Vài nải chuối. Mấy gói kẹo lạc, kẹo vừng. Vài bao thuốc lá hiệu Nhị Thanh, Tam Thanh. Mấy cái bánh đa Kế, dăm quả trứng gà và có cả một cái điếu cày cùng mớ đóm ...

Những bát nước chè xanh bốc khói được rót ra. Lính trẻ ngồi quây ba mặt xung quanh cái chõng tre, xì xụp húp. Một tay bỗng hếch mũi lên hít hít: “Như là có mùi ngô luộc sao chị?” “Ngô non, chưa thành hạt, chị xin người ta ít đem nấu nước uống lấy sữa cho các cháu bú.” “À...”

Tốp lính nhìn ra phía sau lưng chị chủ quán. Đằng sau chỗ ngồi bán hàng một chút là cái giường đôi, trên đó có hai bé đang ngủ ngon lành, mặc kệ tiếng ồn ào của tốp khách vừa vào. Như có một phản xạ tự nhiên, tốp lính trẻ trầm giọng xuống. Hơi thảng thốt.

“ Chị sinh đôi sao?”

“Vâng. Hai cháu gái.”

“Bố các cháu đâu rồi?”

“Bố các cháu đang trong chiến trường!”

          Lặng yên.

Ngoài đường không thấy bóng người. Ngoài bãi sông tiếng côn trùng bắt đầu ri rích bài ca ăn sương muôn thủa. Tốp lính trẻ sau bát nước chè xanh nóng hình như bắt đầu tỉnh táo và quan sát nhanh như thường lệ. Không gì lọt qua mắt họ. Một cái quán đứng lẻ loi cạnh xóm bên con đường xuống bến đò. Một người phụ nữ trẻ đang nuôi con nhỏ, dáng vẻ lam lũ nhẫn nhịn nhưng vẫn toát lên vẻ hấp dẫn của đàn bà vừa qua một lửa. Vẫn bập bùng mơ hồ đâu đó hòn than hồng ấp iu trong tro bụi đời thường. Hai đứa con của đồng đội đang ở nơi xa... Dường như có mối liên hệ nào đó bỗng dưng được thiết lập. Họ ngỏ ý nhờ bếp nấu bữa cơm tối.

“Chúng em nấu luôn cơm cho chị cùng ăn nhé?”

“Các chú vào bếp mà nấu đi, chị hết gạo rồi, tối nay ăn sắn luộc.”

“Thôi, sắn để sáng mai chị ăn. Tối nay chị ăn cơm với chúng em.”

Họ mở vung cái nồi to trên bếp ra. Dưới là những bắp ngô non chưa thành hạt để nguyên cả râu, cả áo luộc. Trên hấp vài củ sắn đã lột vỏ, đựng trong một cái rá tre nhỏ. Mùi ngô non hòa quện với mùi sắn vừa chín tới bốc lên theo hơi nước nghi ngút, thơm nức. Họ đậy vung lại, nhấc nồi đặt xuống cạnh bếp tro. Nồi quân dụng được đặt lên. Lửa nổi to. Lính tráng vốn rất nhanh nhẹn trong việc này, chỉ nửa tiếng sau, cơm canh đã sẵn sàng. Có rau su hào vừa vào dân xin được, luộc, nước giầm cà chua. Có thịt hộp mở ra, thái miếng, kho mắm ruốc thơm nức. Vừa nấu ăn vừa nói chuyện, tốp lính đã kịp biết chị chủ quán cũng từng là bộ đội Trường Sơn. Gặp và yêu anh lính lái xe. Họ quá đà. Chị sinh con, giải ngũ về quê chưa lâu. Làng nước ong ve không ở được chị ra đây cất cái quán đợi người về. Bố hai cháu bị điều biệt vào trong chiến trường Đông Nam Bộ gần năm nay không thấy tin, chả biết thế nào. Tình quân dân, tình đồng đội, và hình như là cả tình nam nữ tự nhiên, bỗng hòa trộn vào nhau thành một cái gì đó thân mật khó nói nên lời. Về tối đò nghỉ, quán hết khách, tấm liếp chắn cửa được hạ xuống. Đồ hàng cho thúng đậy lại. Cái chõng tre được dựng lên chèn gọn vào cửa. Tăng võng được trải ra ngay bên dưới nền. Hai mâm cơm lính sẵn sàng. Chỉ có một ngọn đèn dầu được đặt cao trên đầu giường. Hai bé gái sinh đôi đẹp như tranh vẽ vẫn ngủ ngon lành. Mười hai chú lính vừa nấu ăn, vừa tranh nhau đứng quanh giường ngắm nhìn hai thiên thần bé bỏng miên man trong mộng, môi mọng đỏ, chúm chím cười mơ. Họ bảo chị chủ quán, chúng em vào chiến trường, gặp anh ấy sẽ xin cấp trên cho mười hai thằng đánh bù, để bố nó về nuôi con...

          Bữa cơm quân dân đoàn kết tối ấy thật ngon. Cơm xong có chè xanh bốc khói thơm nức.

“Các chú đi về đâu?”

“Bọn em xuống tập kết ở ga Sen Hồ rồi lên tàu xuôi Nam chị ạ.”

“Thế sao không lên tàu từ ga Bắc Giang mà phải vòng vo qua bến làm gì?”

“Bọn em toàn lính sinh viên đại học năm thứ nhất vừa vào, chưa quen gian khổ, trên bắt đi bộ rèn thêm để vào chiến trường.”

“Ừ... vào trong đó ác liệt lắm. Phải nhanh nhẹn mới được.”

“Chị cho chúng em ngủ lại đây, sáng mai dậy đi sớm nhé?”

“Chỉ sợ chật.”

“Mùa đông chật chút không sao. Chúng em trải tăng võng dưới đất, nằm đắp chăn ôm nhau càng ấm.”

Câu chuyện đang vui thì hai bé choàng dậy. Hai đôi mắt tròn vo đen láy ngơ ngác. Các chú lính reo lên: “Ôi xinh quá, ra chú bế cái nào.” Họ vụng về và âu yếm chuyền tay nhau hai thiên thần thơm nức mùi sữa mẹ. Hai bé ọ ẹ đòi ăn. Chị chủ quán bảo, thôi các chú đưa cháu cho chị, trải bạt mà nghỉ, mai còn phải đi một thôi đường nữa. Từ đây xuống Sen Hồ dễ đến hơn chục cây số...

Thiếu phụ ngồi trên giường. Khẽ khàng quay lưng lại, bật cúc áo, hai tay ôm hai đứa trẻ, khéo léo nhẹ nhàng đưa núm vú vào miệng chúng. Vừa cho con bú, vừa bảo, “Một chú gạn cho chị xin một cái âu to nước ngô để trên giá đầu giường, đêm chị uống có thêm sữa cho hai cháu bú. Hai cháu các chú háu ăn lắm.”

        Sáu chú lính nằm bạt đắp chăn dưới đất song song với chiếc giường của ba mẹ con. Sáu chú lính nằm phía đầu giường châu đầu lại hình thước thợ. Họ nằm yên lặng không nói thêm gì nữa. Dường như một ngày hành quân với đủ thứ trang bị trên lưng đã đủ mệt, khiến cho họ chìm nhanh vào giấc ngủ. Những hơi thở đều đặn vang hòa vào nhau tạo ra một thanh âm là lạ. Ngọn đèn dầu vẫn được đặt trên cái giá cuối giường, vặn nhỏ hết cỡ chỉ còn hắt ra chút ánh sáng mờ xanh hư ảo. Thỉnh thoảng một cơn gió lạnh lọt vào rung rinh. Hai đứa trẻ vẫn chùn chụt bú say mê. Bà mẹ trẻ ngồi xoay lưng lại cho con bú hồi lâu chắc mỏi. Không thể nằm xuống giường mà cho cả hai con bú một lúc được. Chị xoay người lại, hai tay vẫn hai đứa, dựa lưng vào bức vách phía sau gian quán cho đỡ mỏi. Áo vẫn mở rộng buông lơi. Cặp vú to mọng của đàn bà đang nuôi con sáng lóa trắng toát trong đêm. Tiếng chóp chép chụt chịt của những cái miệng xinh non đang ra sức mút. Mùi thơm nồng ngậy của sữa mẹ sực nức khắp gian quán nhỏ đóng kín. Hai đứa trẻ quả là những đứa bé háu ăn, chúng vẫn say mê bú. Hai cặp môi xinh non không còn ham ăn cắn dứt chộp choạp như lúc đầu. Dường như đã sắp no. Chúng mơn man trên núm vú như vừa ăn vừa giỡn. Cặp môi xinh của con mơn man dịu nhẹ khiến cho thiếu phụ thốt nhiên có cảm giác là lạ mơ hồ dâng lên trong người. Cơ thể dường như ẩm ướt và râm ran khó tả. Ánh mắt thiếu phụ đang đăm đắm nhìn các con rồi chiếu ra xa mơ màng. Ánh mắt lướt qua những thân hình trai trẻ khỏe mạnh đang nằm ngồn ngộn bên dưới. Hình ảnh người cha hai đứa trẻ bỗng từ trong ký ức chưa xa hiện về sống động. Anh ấy cũng trong bộ quân phục màu xanh quen thuộc, cũng đang nằm nghỉ thế kia sau một chặng hành quân đường dài. Rồi anh ấy đứng dậy. Đến bên. Hôn con. Hôn mẹ. Và... Thiếu phụ chợt rùng mình. Lâu lắm cảm giác của một người đàn bà mới trở về rõ ràng và đột ngột như vậy. Thiếu phụ hơi bặm môi, khẽ lắc mái đầu như cố xua đi một ý nghĩ nào đó vừa rực lên. Nàng rung tay nhè nhẹ à ơi ru: “Ả à ơiiiii..../ bồng bồng cõng chồng đi chơi/ đi đến chỗ lội à đánh rơi mất chồng/ ai ơi tôi mượn gàu sòng/ để tôi tát nước cho chồng tôi à lên... ả à ơiiiii...”

Ngọn đèn dầu leo lét cuối giường bỗng nhiên lóe sáng lên. Soi rõ cả khuôn mặt thanh tú của thiếu phụ đang cúi xuống nhìn ngắm hai con mình đang thiu thiu ngủ, miệng vẫn tóp tép trên vú mẹ chưa rời. Và khuôn ngực căng mọng tràn trề dường như hồng rạng lên trong ánh cuối của ngọn đèn trước khi tắt phụt...

“Ôi, hết dầu rồi!”

Tiếng thiếu phụ rên lên nho nhỏ, than vãn, như là nhận lỗi.

Đêm vẫn yên ắng. Vài nhịp thở bỗng nhiên lộn xộn lao xao đứt quãng. Bên ngoài vẫn chỉ có những khúc ca râm ri bất tận của lũ côn trùng. Những con chuột hay chạy kiếm ăn đêm mọi hôm, nay sợ rét hình như cũng rúc kỹ trong hang. Hai đứa bé được bú no, ủ ấm lại ngủ ngon lành trên chiếc giường duy nhất trong quán. Thiếu phụ nằm nghiêng, quay lưng ra ngoài, xoay mặt về phía hai con. Trên thân mình phủ hờ chiếc chăn mỏng không đủ để che lấp đi một đường cong uốn từ bờ vai tròn, xuống eo, lượn lên nơi hông đầy đặn rồi xoải ra mềm mại thon thả mờ mờ trong đêm...

        Đêm. Vẫn là đêm. Mờ ảo.

Hơi thở của những người trẻ đang nồng lên trong đêm tĩnh lặng của miền quê ven sông. Ngày mai, những người trai trẻ ấy sẽ lên tàu, xuôi Nam. Họ sẽ vào chiến trường. Họ bỏ lại gia đình. Bỏ lại quê hương. Họ có người yêu chưa? Họ đã từng cầm tay một người con gái nào chưa? Họ đã được nếm vị ngọt của nụ hôn tình ái chưa...

Lúc nãy, khi trò chuyện, cùng ăn bữa cơm với những người lính trẻ, thiếu phụ cảm thấy mình như vẫn đang sống trong binh trạm Trường Sơn hồi chưa xa. Bên đồng đội. Và bên người yêu của mình. Cũng chỉ mới đây thôi mà nay đã là ngàn trùng xa cách, không biết có còn được gặp nhau nữa không. Chiến tranh ác liệt chả ai nói trước được điều gì. Mấy năm trong chiến trường thiếu phụ đã kịp chứng kiến vô vàn cái chết, với muôn vàn kiểu chết khác nhau mà chỉ lão thần chiến tranh hung bạo mới nghĩ ra được. Mười hai người trai trẻ trung kia, mai họ sẽ vào trong đó. Và rồi...

Và rồi họ có trở về không?

Thiếu phụ bỗng thấy trào lên trong lòng một tình thương da diết. Ứa nước mắt. Thương những người trai trẻ mai sẽ vào tuyến lửa. Thương bố của các con mình giờ này không biết còn hay mất. Và thương mình...

Những câu hỏi, những suy nghĩ mông lung, như những sợi tơ trời, tung lên không gian đặc quánh hơi thở nồng nàn của gian quán nhỏ. Vấn vít vào nhau như một mớ bòng bong. Có lúc không gian như ngưng lại. Tĩnh lặng tuyệt đối. Nghe rõ cả những hơi thở dài sâu thăm thẳm đã cố kìm nén của thiếu phụ trẻ...

“Chị ơi...”

Run rẩy và nhẹ bẫng...

“Gì em...”

Thoảng nhanh không hề ngái ngủ.

“Em... em... nhớ mẹ...”

“Sao...?”

“Chị cho em ôm một tí...”

“Vào đây. Ôm chị đi...”

Thiếu phụ với tay chèn chăn cho hai con. Xoay người lại đón. Cậu lính trẻ rúc gọn vào ngực người đàn bà đang nuôi con nhỏ. Bộ ngực to dập dềnh ấm nóng. Mùi sữa thơm nức. Chút sữa thừa ứa ra lần áo. Cậu lính trẻ rúc mặt xuống, thè lưỡi nếm. Ngọt lành. Cái lưỡi mềm mại chạm vào đầu ti qua lần vải mỏng. Chỉ thế là đủ cho một dòng điện chạy xoẹt từ đỉnh đầu đến gót chân. Tê dại. Hai thân thể cong lên, dính chặt vào nhau trong vô thức.

“Chị ơi...”

“Em nhớ người yêu...”

“Em nhớ bạn gái...”

“Em nhớ cô hàng xóm...”

“Em nhớ bạn học...”

“Em nhớ....”

“Em nhớ....”

“Em cũng nhớ...”

“Chị ơi!”

Thiếu phụ mở to mắt, long lanh.

Những đôi mắt trẻ trai sáng rực trong đêm quây quanh giường từ lúc nào. Khẩn thiết. Đợi chờ. Van xin. Thiếu phụ hiểu họ muốn gì. Nàng ra hiệu cho họ về chỗ nằm. Nhẹ nhàng ngồi dậy. Chèn thêm chăn cho hai con. Tuột hẳn chiếc áo xuống giường. Phần thân trên và bộ ngực to căng tràn trắng lóa tỏa ra một thứ ánh sáng mơ màng thần bí trong đêm. Nàng luồn xuống, thả mình vào giữa những người trẻ trai đang khao khát cực điểm. Những tiếng rên rỉ sung sướng cất lên át cả tiếng côn trùng ăn đêm. Tiếng hơi thở dồn dập nóng bỏng nồng nàn. Những thanh âm đứt quãng xôn xao. “Mẹ em đây...” “Chị em đây...” “ Người yêu em đây...” “ Bạn gái em đây....” “ Của em đây...”. Hối hả. Gấp gáp. Nóng rực. Cả gian quán nồng nàn hương đàn bà, hương trai trẻ thanh tân, hương sữa mẹ...  Ba thứ hương ấy hòa trộn với nhau thành một mùi hương thơm lạ lùng đê mê trong đêm. Nó như một thứ hương thơm thần thoại trong cổ tích làm cho con người ta mê mụ. Nó khiến con người ta làm những việc điên rồ theo tiếng gọi của bản năng mách bảo. Những thân thể trẻ trung quấn riết chặt lấy nhau thành một khối. Rồi họ cùng nhau bay lơ lửng trên thiên đường của hoa thơm trái ngọt, của ánh sáng rực rỡ và hạnh phúc tột cùng. Họ cùng nhau bay về miền cực lạc. Tưởng như những phút giây ngọt ngào ấy sẽ không bao giờ chấm dứt...

Nhưng bên ngoài trời đã bắt đầu rạng sáng. Vài chú gà trống chăm chỉ trong xóm đã bắt đầu cất lên bài ca muôn thủa của mình.

         Mười hai chú lính chia tay thiếu phụ.

Trong ánh sáng mờ của ngày mới sắp đến, hai bé gái vẫn ngủ say như thiên thần. Không ai bảo ai, họ lấy trong ba lô ra, gạo, thịt hộp, lương khô... Và cả những bánh xà phòng giặt của Liên Xô viện trợ đen sì, rắn đanh, để trên giường. Họ để lại cho hai bé. Họ cùng ôm lấy thiếu phụ không muốn dời. Họ hứa sau chiến tranh, dứt khoát sẽ quay trở lại bến sông. Nếu anh ấy không về, họ sẽ nuôi hai bé...

Tiểu đội lính lên đường lúc rạng sáng. Họ đi bộ xuống ga Sen Hồ, lên tàu xuôi về Vinh. Họ hành quân trong đội hình đi về phía Nam.

Đến đầu năm Ất Mão (1975), họ đã hầu như đi dọc chiều dài đất nước. Họ trong đội hình dự bị chiến lược của quân đội nên luôn ở phía sau. Tháng tư năm ấy, khi những khẩu AK mới tinh, nòng còn nguyên ánh thép xanh chưa kịp bắn viên nào thì họ đã có mặt trên chiếc xe quân sự tiến vào Sài Gòn. Vẫn nguyên một tiểu đội mười hai người. Họ mỉm cười hân hoan nghĩ ngày chiến tranh sắp kết thúc. Họ sắp trở lại giảng đường đại học. Và họ sẽ cùng nhau trở lại bến sông...

         Bỗng một tiếng nổ kinh trời và một quầng lửa da cam bùng lên.

Một quả mìn chống tăng còn sót lại trên đường phát nổ, đúng vào chiếc xe chở mười hai chàng lính trẻ.

         Họ bay lên, bay lên, bay lên mãi mãi....

Trên môi họ, nụ cười chưa kịp tắt. Họ vẫn đang mơ về giảng đường và cái bến sông đêm nào. Cái bến sông họ đã để lại một phần tuổi trẻ, mà họ cũng còn chưa kịp biết tên của nó là Bến Chia Ly trong huyền thoại.

Nhưng cũng đúng lúc linh hồn mười hai chàng trai trẻ bay lên, thì tại bến sông xưa, đàn quạ già vẫn đậu trầm mặc trên ngọn cây gạo, bỗng hốt hoảng tung mình bay loạn xạ lên trời cao. Vừa bay vừa kêu những tiếng thê lương ai oán... quạ... quạ... quạ....

TRẦN THANH CẢNH

                                                                   

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 869)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 920)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 777)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 678)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2976)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1903)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2816)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2357)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2743)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2518)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9757)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16600)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16033)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 918)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2976)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2815)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2743)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 777)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5003)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6892)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6174)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 869)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2356)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2518)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2756)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2240)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2068)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2220)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2260)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 677)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13210)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29260)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35567)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10522)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12430)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1903)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2815)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3053)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3106)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3858)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7556)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6918)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9460)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.