- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,462,303

NHỮNG BÀI THƠ MÙA ĐÔNG

13 Tháng Mười Hai 20198:51 CH(Xem: 1859)

TranhDinhCuong-phongcanh
Tranh Đinh Cường

BÀI DANG DỞ MÙA ĐÔNG

Nguyễn Hồng Chí

Anh đi về mùa hạ, em ở lại mùa đông
Bài thơ dang dở bỏ mặc lòng,
Em ướp thơ em mùi hoa cỏ
Cất vào thơm góc tủ tương tư.



Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong (*)



Anh đi về mùa hạ, em ngồi khóc mùa đông
Bài thơ dang dở bỏ mặc lòng,
Em sưởi thơ em ngày nắng lạnh
Đêm về ấm áp nỗi chờ mong.

Không có anh, em làm thơ chi nữa
Ai đệm đàn xao xác ngọn đông phong?
Không có anh, em viết gì cho gió
Sợi tóc thề đo dài ngắn phù hoa?

Không có anh, mây đổi hai màu áo
Ai tô màu xanh - trắng nắng ngày đông?
Em viết gì về vạt nắng bên song
Long lanh mắt lệ chiều đông qua thềm?

Không có anh, đêm mơ gì biên viễn
Bên kia đồi rơm rạ ánh sao thơm?
Không có anh, em viết gì cho hạ
Mộng đá vàng chắc gặp được tình lang?

Không có anh, hàng cây phong xuống tóc
Đứng dựa trời không, trọn kiếp thinh không.
Em sẽ viết bài thơ về chiếc lá
Đo đỏ lòng như máu đỏ mùa đông.

Anh đã về mùa hạ, em còn ở mùa đông
Bài thơ dang dở chẳng đành lòng.
Sớm mai thức dậy cùng kỷ niệm,
Mơ hồ sương khói liệm bài thơ.


Nguyễn Hồng Chí

-----------

(*) Trích trong bài thơ “Cần thiết” của Nguyên Sa

   

RƠI XUỐNG GIỌT SẦU
Biển Cát
 

Ngủ đi những nỗi buồn đầy

Nắng dần lịm tắt cuối ngày mênh mang

Có con chim nhạn bàng hoàng

Chấp đôi cánh gãy liệng ngang lưng trời.

Ngang trời mây trắng buông lơi

Rớt trong hiu quạnh  bao rời rã đau

Một màu man mác giăng mau

Lay hồn ta buốt chênh chao ngậm ngùi.

Ngủ đi cả nỗi rã rời

Tháng năm đọng lại giữa đời hư không

Lắng trong ta những bão giông

Nước mắt chảy xuống từng dòng xót xa.

Xót xa những giấc mơ qua

Chỉ còn vang vọng âm ba xa vời

Thả chùm dĩ vãng chơi vơi

Bên ghềnh đá vỡ sầu rơi theo sầu.

Biển Cát

 

GỞI MỘT NGƯỜI XA
Thái Thanh
t
háng mười hai. chào nhé mùa đông
sài gòn chẳng thấy lạnh và mưa dông còn đó.
buổi chiều ngang qua nhà thờ. nhìn mưa trên mái ngói.
chợt ngẩn ngơ. chợt se sắt cả lòng


sài gòn đó lung linh. lấp lánh
phố phường vui. mừng đón Giáng sinh về
gợi nhớ tôi - về nơi xa đó
nhớ một người. chưa biết nói yêu tôi...


nhớ một người. tôi khẽ bảo đừng yêu
nhưng tự bao giờ - đã tự bao giờ thế!
trong tim tôi lại dành chỗ cho người
dù chẳng một lời. hò hẹn gió mưa.


chẳng chung dòng sông. chẳng cùng ký ức
để chúng tôi có cùng chung kỷ niệm
cớ sao lòng lại mang lòng vương vấn
đến một người xa tít cuối chân mây


xa khoảng cách. nghìn dặm dài xa cách
và xa quá trong trái tim nồng ấm
chỉ riêng tôi. lặng lẽ chỉ riêng mình
bởi giữa người và tôi không chung cầu Ô thước .


nên mãi hoài chỉ cách biệt nhau!!..

tháng mười hai Sài gòn không nắng lắm
đợi dăm ngày tôi lại phải rời đi
tôi lại về thành phố nhỏ rất xa


có mưa đông gió rét cóng tay mềm
tôi sẽ chỉ một mình trong nỗi nhớ
nhưng tôi chẳng tìm quên mất người đâu nhé!
chút hạnh phúc. dẫu mỏng manh dễ vỡ


tôi nâng niu chẳng mong đợi điều gì
người chẳng biết. à thôi không cần biết!
nơi xa này tôi nhớ lắm...

một người xa.

 

Thai Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2531)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6482)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3366)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 897)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1097)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 790)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 949)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 881)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 1083)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 1066)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.