- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KÝ ĐINH QUANG ANH THÁI, NHỮNG KIẾP PHONG TRẦN...

16 Tháng Bảy 201911:23 CH(Xem: 45861)


dinh quang anh thai

Lần đầu được đọc tập ký hoàn chỉnh của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, một tác giả người Việt hải ngoại, tự nhiên trong đầu tôi nảy ra sự so sánh với hàng ngàn vạn bài ký “mậu dịch” của hơn tám trăm tờ báo dưới sự chăn dắt của Ban Tuyên giáo Trung ương. Hóa ra, đó toàn là những sản phẩm đồng phục được chế tác bởi những tác giả, qua sự đào luyện của hệ thống trường ốc, trong đó, cá tính đã được mài nhẵn, tư tưởng được kiểm soát chặt chẽ, mọi phản biện xã hội đều bị giới hạn trong phạm vi cho phép, vì thế, cái gọi là ký ấy chỉ là những văn bản véo von ca ngợi, tự sướng của những cây bút thủ dâm chính trị, tự huyễn hoặc mình. Loại báo chí ấy chẳng những không có lợi, mà trái lại, rất có hại, bởi nó thực chất là dối trá, lừa phỉnh nhân quần. Dẫn chứng thì không thiếu, chỉ xin nêu ra trường hợp “Trong xà lim án chém” (hồi ký của Phạm Hùng) và “Bất khuất” (hồi ký của Nguyễn Đức Thuận), mà chính người được giao trách nhiệm viết là nhà văn Trần Đĩnh đã hơn một lần khẳng định là bịa đặt theo sự chỉ đạo...

Vì thế, tiếp cận ký Đinh Quang Anh Thái, người đọc nhận ra ngay, nó thuộc một hệ hình thẩm mỹ khác, một đẳng cấp khác, cho dù văn bản vẫn nằm trong phạm trù Chủ nghĩa Hiện thực cổ điển mà những nhà văn Việt Nam tiền chiến viết rất thành công như Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Tam Lang...

Viết ký dễ mà lại khó. Dễ là viết theo kiểu “người tốt việc tốt” ăn theo  Nghị quyết. Ai cũng có thể làm được miễn là đọc thông viết thạo chữ Quốc ngữ. Khó là cần có một tư tưởng nào đó, một cá tính riêng biệt, và cuối cùng là chất văn. Ký dù là báo chí hay văn chương, không có “văn” là vứt.

Theo tôi, ký Đinh Quang Anh Thái sống được trong lòng độc giả là bởi, trước hết nó có tư tưởng, trong đó, bao hàm cả tư tưởng thẩm mỹ bằng thứ văn mang đậm phong cách cổ điển, sang trọng, lịch lãm và cô đọng. Văn bản của Đinh Quang Anh Thái dồn nén, đậm đặc đến mức hàm súc khiến người đọc lắm lúc tiếc nuối bởi ông tỉnh lược đến mức tối đa những chi tiết, tình tiết đáng lý ra phải được trình bày kỹ lưỡng cho dù nó chưa hẳn là cần thiết. Trong ký, có một sự nghịch lý là, đôi khi những sự kiện không mấy quan yếu lại tạo cho tác phẩm một sức hấp dẫn, một trường liên tưởng dẫn dụ người đọc khám phá giá trị ngoài văn bản.

Đinh Quang Anh Thái có thế mạnh để viết ký. Trước hết, ông đã từng lớn lên trong một chế độ xã hội tương đối cởi mở, được tiếp cận một nền giáo dục khai phóng, không bị nhồi sọ những tư tưởng giáo điều. Thứ nữa, ông đã từng là một chính trị phạm với hơn 6 năm bị đày đọa trong các nhà tù “Bên thắng cuộc”. Vì thế, ông hiểu đến chân tơ kẽ tóc bản chất của Chủ nghĩa Cộng sản kiểu Staline và Mao Trạch Đông. Trong cái rủi có cái may.  Về một mặt nào đó, có thể nói, đây là môi trường tuyệt hảo để ông múa bút viết những thiên hồi ký thấm đẫm tinh thần nhân văn như “Nhớ thương cậu Tiến” hay “Bác Năm Tường Phi Lạc náo Chí Hòa”.

Cũng như “Nguyễn Tất Nhiên, chiếc quần mới và bữa thịt chó cuối năm cũ” hay “Đỗ Ngọc Yến, con người bí ẩn”, các bài về Như Phong Lê Văn Tiến hay Hồ Hữu Tường đều là tác phẩm ký họa chân dung nhưng mỗi bài tác giả lại có cách diễn dịch riêng, khi thì khái quát, khi lại rất chi tiết, cụ thể chỉ với mục địch khắc họa cho được cá tính nhân vật, đặc biệt là nhân vật lớn có tầm ảnh hưởng trong xã hội.

Sự độc đáo của các nhân vật ấy lại được tác giả chọn đúng hoàn cảnh nên hiệu ứng thẩm mỹ càng tăng lên gấp bội. Ấy là hoàn cảnh trong tù. “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Phải đặt vào tình trạng cùng quẫn như thế ta mới thấy nhân cách của họ “cùng tắc biến” như thế nào. Chi tiết bác Năm Tường nâng tô canh tù sứt mẻ lõng bõng nước húp cũng như phải chia đều gói đậu phộng rang muối ít ỏi cho nhiều bữa ăn mới thấy chế độ nhà tù Cộng sản khắc nghiệt, coi thường tính mệnh và nhân phẩm con người như thế nào.

Về mặt phương pháp sáng tác, ký Đinh Quang Anh Thái không thiên về đổi mới hình thức, thậm chí còn cổ điển hơn cả cổ điển, nhưng về nội dung biểu đạt, tác giả đã “kể” về nhân vật của mình thông qua một hệ giá trị mới mà trọng tâm là sự trung thực đến tận cùng, tính nhân bản và nhất là tạo được một dòng chảy ngầm chuyên chở tư tưởng thẩm mỹ. Bởi lẽ, ký Đinh Quang Anh Thái luôn lược bỏ những chi tiết rườm rà, chỉ giữ lại phần tinh chất, nên khi đọc, ta phải đào bới vào chiều sâu không gian, thời gian, thậm chí cả chiều sâu tâm lý nữa mới nhìn ra bản chất sự kiện.

Cách “kể” của Đinh Quang Anh Thái cũng không có gì khác người, chủ yếu vẫn nương theo trình tự thời gian tuyến tính kết hợp với những đoạn hồi tưởng, nhưng ông toàn chọn được những chi tiết đắt làm xương sống cho bài viết của mình. Với ký, càng nhiều chi tiết đắt tác phẩm càng sáng giá. Chính vì thế, cái làm nên diện mạo Nguyễn Tất Nhiên đọng lại trong ký ức chúng ta tất yếu phải là giấc mộng Nobel văn chương và bữa thịt chó cuối năm bằng số tiền bán chiếc quần ông bố mới mua cho. Cái chết của Nguyễn Tất Nhiên sau khi đã vượt biên sang Mỹ cũng là một bi kịch của lớp trí thức bị sang chấn tinh thần sau khi đã nếm trải đủ nỗi cay đắng của một kiếp người nơi cố quốc.

Cũng như vậy, hai nhân vật thuộc vào hàng tinh hoa dân tộc, trí tuệ mẫn cán, nặng lòng với vận mệnh đất nước là Lê Văn Tiến và Hồ Hữu Tường, được tác giả viết với thái độ vô cùng trân trọng nhưng đâu đó vẫn chen vào những dòng hài hước, phúng dụ về sự     hoang tưởng hay quá tự tin vào bản thân mà chưa nhìn nhận thấu đáo về hiện trạng xã hội. Theo tôi, nguyên nhân là bởi, cả hai ông đều sống dưới chính thể Việt Nam cộng hòa, ít nhiều đã được hưởng không khí dân chủ, tự do bày tỏ chính kiến của mình mà không hiểu được bản chất của nhà nước độc tài toàn trị núp dưới danh xưng “Chủ nghĩa xã hội”. Đó là một thể chế chính trị luôn phủ nhận những giá trị phổ quát của nhân loại tiến bộ, chưa bao giờ tôn trọng những giá trị cơ bản của con người, và, điều cốt lõi là, họ không bao giờ chịu nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho bất thế lực chính trị nào. Những dự án về tương lai đất nước của Lê Văn Tiến hay Hồ Hữu Tường thật ra đều chỉ là giả định. Đương nhiên hai ông không phải là chính khách xa lông nhưng vì không hiểu thời cuộc nên cách hành xử giống như chính khách xa lông.

Câu chuyện về Lê Văn Tiến và Hồ Hữu Tường là những chuyện buồn, một người chết bởi chế độ hà khắc của nhà tù trong nước, một người chết nơi tha hương, đều đươc tác giả kể lại với tư cách người trong cuộc nên có độ tin cậy cao qua những chi tiết đắt giá. Chẳng hạn như chuyện “bắt gà” trong trại giam. Từ chuyện “bắt gà" chuyển trại, chúng ta hiểu thêm được cách thủ tiêu trọng phạm cũng như sự xáo trộn luân chuyển qua các trại giam cách xa nhau là một chủ trương đã được lên kế hoạch từ cấp có thẩm quyền, chỉ với mục đích cô lập, khuất phục làm tiêu ma ý chí phản kháng của người tù. Trong hoàn cảnh bi đát như vậy mà Lê văn Tiến, Hồ Hữu Tường vẫn ung dung tự tại, vẫn lạc quan truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ để họ tiếp tục đấu tranh vì một Việt Nam tươi sáng trong tương lai thì quả là đáng kính phục. Đúng là bạo quyền không khuất phục được những nhân cách lớn.

Với những người bạn cùng trang lứa thì ngòi bút Đinh Quang Anh Thái đôi khi  nhấn mạnh vào những tính cách khác thường, có khi nghiêm túc nhưng cũng không hiếm trường hợp tỏ ra hài hước. Câu chuyện Nguyễn Tất Nhiên mê con gái Bắc Kỳ đến nỗi phải làm thơ để ký thác “lời nguyền truyền kiếp” là một ví dụ khá điển hình. Còn Đỗ Ngọc Yến, “cháu Đỗ Mười” thì đúng là “con người bí ẩn”. Chính con người lịch lãm, lễ phép ấy đã đặt nền móng cho “Người Việt”, tờ báo lớn của cộng đồng người Việt Hải ngoại mà sau này Đinh Quang Anh Thái là người trong ban quản trị. Theo tác giả, Đỗ Ngọc Yến là một tài năng thiên bẩm, giỏi biện thuyết, giỏi lập kế hoạch, là kẻ tử thù trong mắt những người Cộng sản nhưng lại có tật... đánh trống bỏ dùi. Với Đinh Quang Anh Thái, dù là vĩ nhân cũng không bao giờ hoàn hảo, bởi như thế mới chính là con người. Tôi cho rằng, đó là bản lĩnh của người cầm bút chân chính.

Ngoài những chân dung nhân vật từng sống dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, hoặc bị tù đày sau khi Sài Gòn thất thủ, hoặc đã vượt biên đến xứ sở tự do, được khắc họa từ nhiều góc độ khác nhau làm nổi bật tính cách của họ như một kỷ niệm khó quên, Đinh Quang Anh Thái còn có những trang hồi ký về cộng đồng lưu học sinh hay công nhân lao động miền Bắc trên đất Đông Âu hay nước Nga sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Về mặt này, phải ghi nhận tác giả là một tay lãng tử, một kẻ theo chủ nghĩa xê dịch còn hơn cả Nguyễn Tuân. Chỉ riêng việc, đã nhiều lần, cứ vào dịp cuối năm, Đinh Quang Anh Thái lại sang Tiệp ăn tết với đám bạn bè thậm chí chưa biết mặt cũng đã làm chúng ta ngả mũ cúi chào.        

“Đêm giao thừa trên đất Tiệp” và “Về một chuyến đi Nga” là hai thiên ký sự nói về cuộc sống của cộng đồng người Việt sau khi hệ thống Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ và nước Nga Xô Viết giải thể sau 74 năm tồn tại. Khác với nguời Việt thuyền nhân trên lãnh thổ Hoa Kỳ, người Việt Đông Âu và nước Nga thời Hậu Cộng sản hầu hết là lớp trẻ, trước khi “xuất ngoại” đã được sàng lọc về thành phần giai cấp, “lý lịch trong sạch” và lập trường cách mạng kiên định, nhưng sau một thời gian tiếp xúc với nền văn hóa, văn minh nước sở tại, họ mới nhận ra rằng, hệ thống truyền thông đồ sộ trong nước đã làm cho người dân ngu đi. Vậy là họ tự phản tỉnh, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Họ cũng tham gia biểu tình, cũng ra báo cổ xúy cho “Cách mạng Nhung”. Quá trình vận động dân chủ Đông Âu đã thức tỉnh người Việt, thậm chí một Bí thư chi bộ, xuất thân từ một gia đình “có truyền thống cách mạng” lại là người hăng hái nhất chủ trường tờ “Điểm tin báo chí”, hay một anh bạn dân tộc thiểu số Nông Đình Bửu còn giải thiêng thần tượng bằng bài hát “chế” trong đó có câu “Bác kính yêu đang cùng bác gái hành quân” rồi rú lên “đéo tin thì thôi”.

Cũng qua các thiên ký sự, người đọc thấy được thân phận người Việt xa xứ đầy bất trắc, mỗi người một số phận, và cũng không hiếm trường hợp bế tắc phải tìm đến cái chết để giải thoát như Cù Lần Trần Hồng Hà kết thúc cuộc đời bằng cách treo cổ trong một khu rừng gần Praha.

Qua cách kể của Đinh Quang Anh Thái, hẳn là có dụng ý nhưng không phải ai cũng nhận ra về sự khu biệt giữa người Việt ở Nga và người Việt Đông Âu. Các nước Đông Âu Xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế khá hơn, công nghiệp tiêu dùng phát triển hơn nước Nga Xô Viết nên con người sống bớt nhếch nhác hơn. Và điều cơ bản là, ý thức đấu tranh dân chủ của Đông Âu mạnh hơn Nga Xô Viết, tác động sâu sắc hơn đến tâm lý người Việt. Chính vì thế Đông Âu (bao gồm cả Đông Đức) mới có “Cánh én”, “Diễn đàn” rồi “Điểm tin báo chí”...

Trong khi ấy, nước Nga Xô Viết, sau khi tan rã, cuộc sống cộng đồng người Việt vô cùng phức tạp. Chỉ riêng chi tiết tác giả bay từ Mỹ sang mà không tìm được đồ ăn ngay cả trong khách sạn bốn sao tại thủ đô Moscou cũng làm người đọc giật mình về sự nhếch nhác của một cường quốc từng cầm đầu phe Xã hội chủ nghĩa.

Những đáng sợ nhất vẫn là những hệ lụy phát sinh sau khi chính thể Xã hội chủ nghĩa Liên Bang Xô Viết cáo chung. Tệ nạn tham nhũng hoành hành ngay tại phi trường quốc tế. Nhân viên hải quan, nhân viên an ninh vòi ngoại tệ, bọn lưu manh được công an bảo kê bắt chẹt khách, chúng sẵn sàng đâm thủng lốp taxi, thậm chí giết người mà vẫn vô can. Trong khách sạn thì nhân viên lễ tân kiêm gái điếm, chèo kéo khách bằng ngoại tệ mạnh với giá trên trời. Nước Nga trở thành một nhà nước vô chính phủ do bọn mafia điều hành. Đó chính là nguyên nhân, đồng thời cũng là động lực để cộng đồng người Việt  biến ốp Búa Liềm thành một cái chợ tạp pí lù với đủ loại hình kinh doanh kể cả nấu rượu lậu, thịt chó và gá bạc. Các mánh khóe làm ăn của người Việt tại nước Nga thời Hậu Cộng sản nổi tiếng đến nỗi, một phụ nữ Nga, cô Janna Menshikova đã phải thốt lên khi tác giả hỏi về đồng bào mình: “Có chứ, chẳng có gì tốt đẹp về họ cả. Buôn chui bán lận, gấu ó lẫn nhau là tất cả chuyện về họ”.

Nhưng thật ra, “Về một chuyến đi Nga”, Đinh Quang Anh Thái không chủ trương nói về người Việt mà chỉ dùng người Việt như một nhịp cầu để phản ánh về một nước Nga tàn tạ, suy sụp bởi hiệu ứng domino “Bức tường Berlin sụp đổ”. Chỉ cần nhìn qua 5 tiểu mục người đọc dễ dàng nhận ra điều này: “Aeroflot: Một lần cho biết”, “Intourist: Có tiền mua tiên... thì được; thực phẩm... thì không”, “Ốp Búa Liềm: Một khía cạnh sinh hoạt của người Việt trên đất Nga”; “Ở tận sông Hồng em có biết... quê hương Nga hổng có gì ăn”; “Quảng Trường Đỏ và phố Arbat”. Ở mỗi tiểu mục như vậy, tác giả đều ghim một điểm nhấn qua cái nhìn khái quát về thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội Nga vào lúc chính trị khủng hoảng. Ở đó, trong mọi lĩnh vực sinh hoạt, đồng rouble mất giả thảm hại, người Nga đói ăn, bất chấp sĩ diện, coi “tờ xanh” (dollar) như là biểu tượng của nền văn minh thế giới nhưng vẫn biểu tình và rủ nhau giật đổ tượng đài Lenine.

Ký Đinh Quang Anh Thái luôn có cái nhìn sắc sảo bằng cặp mắt của người từng trải, hiểu rộng, biết nhiều nhưng khi viết không bao giờ cực đoan mà ngòi bút luôn độ lượng ngay cả với những kẻ đã hành hạ mình trong nhà tù Cộng sản. Văn ông đầy nội lực nhưng không đao to búa lớn, đầy tâm trạng nhưng lại hóm hỉnh trào lộng tạo nên sự liên tưởng đa chiều về kiếp người trong cõi nhân gian dâu bể. Qua những trang văn, dù là thấp thoáng vài chân dung bạn bè tha hương hay những con số thống kê cơ học về một xã hội tôn sùng bạo lực, giam cầm, đày ải chính công dân của mình, chúng ta đều nhận ra phẩm chất đáng quý của một người cầm bút có trách nhiệm với đất nước và dân tộc Việt Nam.

 Sống ở miền đất hứa, quyền con người được tôn trọng đến mức tối đa nhưng Đinh Quang Anh Thái không quên Tổ Quốc, cho dù chính mảnh đất quê hương đã buộc ông phải trở thành “thuyền nhân”.

 

ĐẶNG VĂN SINH

Chí Linh, 10.7.2019, những ngày hè nóng bỏng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 204)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 497)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 394)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2577)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1760)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1426)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2508)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1975)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2627)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11735)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18321)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17357)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 204)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2508)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2627)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4016)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 496)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1975)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3797)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3288)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2577)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2516)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2896)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2843)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 394)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1760)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1426)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2780)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4660)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14904)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31036)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37783)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12748)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14041)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5263)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7789)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6861)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7282)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8243)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9852)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9066)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11937)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.