- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Những Tượng-mộ Ô Nhục Bất Hủ (về Chùm Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du Viết Bên Mộ Nhạc Phi)

15 Tháng Năm 20195:35 CH(Xem: 49142)

Trên vạn dặm Trung Hoa, trong số những di tích lịch sử tôi có dịp được tham quan, có lẽ đền thờ Nhạc Phi nằm ở chân núi Thê Hà cạnh Tây Hồ, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang là di tích để lại cho tôi nhiều ấn tượng khó quên hơn cả. Đặc điểm nổi bật nhất trong kiến trúc của khu đền là giữa không gian rộng rãi, có khu mộ Nhạc Phi cùng con trai Nhạc Vân, đối diện là bốn bức tượng sắt quỳ nhốt trong cũi sắt, đã tạo nên nét đặc sắc chưa từng thấy trong các di tích lịch sử ở Trung Quốc cũng như trên thế giới… Hơn hai trăm năm trước, đại thi hào Nguyễn Du đã tới nơi này, để lại 5 bài thơ chữ Hán vịnh sử bất hủ về Nhạc Phi và những kẻ thủ ác hãm hại người anh hùng của đất nước Trung Hoa cổ đại.


Cổng đền Nhạc Phi ở Hàng Châu 1-photo MA.NAT
Cổng đền Nhạc Phi ở Hàng Châu-photo MA.NAT



     Nhạc Phi, người anh hùng tận trung báo quốc thời Nam Tống (1127-1279), quê huyện Thang Âm, Tương Châu, nhà nghèo ham học, giỏi cả văn lẫn võ, thông thạo binh pháp Tôn Tử và Ngô Khởi. Ông sinh ra vào thời nước Liêu và Đại Kim xâm lăng nhà Tống. Năm 1141, quân đội Nhạc phi đang đánh bại quân Kim ở vùng tây nam của Khai Phong, Hà Nam ngày nay, sắp lấy lại được Biện Kinh (tức Khai Phong). Chính ngay lúc Nhạc Phi “đánh thẳng đến phủ Hoàng Long, sảng khoái uống rượu mừng”, Tống Cao Tông mê muội, nghe lời Tể tướng gian thần Tần Cối, chỉ trong một ngày liên tiếp phát 12 đạo kim bài triệu hồi ông về kinh. Sau khi Nhạc Phi về đến Lâm An (kinh đô Nam Tống nay là Hàng Châu, trên sông Tiền Đường), Tần Cối bí mật ra lệnh cho Trương Tuấn, Vạn Sĩ Tiết thêu dệt tội danh, vu cáo Nhạc Phi “mưu phản” để nhốt ông lại, rồi Tần Cối lấy tội danh “không cần có” (mạc tu hữu) mà giết chết hai cha con Nhạc Phi, Nhạc Vân cùng bộ tướng Trương Hiến. Nhạc Phi hưởng dương 39 tuổi. Về sau vua Hiếu Tông giải oan khuất cho ông, cải táng tại đất Ngạc, ban hiệu là Trung Liệt, ban thụy là Vũ Mục. Đền thờ và mộ của ông cùng mộ con trai Nhạc Vân được xây dựng từ thế kỷ 12, đến nay là một thắng cảnh danh tiếng Hàng Châu. Trong khu đền có bức tượng ông ngồi cầm gươm với bức đại tự: Hoàn Ngã Giang Sơn - Trả lại giang sơn cho ta. Còn trước đền có câu đối : Thanh Sơn hữu hạnh mai trung cốt. Bạch thiết vô cơ chú nịnh thần - Núi xanh may mắn làm nơi chôn cất người trung lương. Sắt trắng uổng thay đúc tượng nịnh thần.

Tượng Nhạc Phi trong đền

Tượng Nhạc Phi trong đền-Photo MA.NAT



     Tần Cối trong 18 năm làm Tể tướng đã hãm hại không biết bao nhiêu trung thần nghĩa sĩ, khiến cho vương triều Nam Tống trở nên hủ bại, ai ai cũng căm hận thấu xương tủy. Tâm địa xấu xa, luôn sống trong sự bất an, Tần Cối cuối cùng cũng chết bởi bệnh hoại thư, kết thúc một cuộc đời đầy rẫy tội ác, bị quả báo thích đáng. Cho đến tận ngày nay, món bánh giò cháo quẩy của người Hoa được làm bằng bột chiên trong dầu, luôn luôn làm từng cặp dính nhau, đó là tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối bị trói với nhau và ném vào vạc dầu hành tội. Vào những năm Thành Hóa triều Minh, có lũ cướp đào bới mộ vợ chồng Tần Cối mới thấy thi hài hai đứa ướp thủy ngân vẫn tươi nguyên, người ta đem băm xác chúng, ném vào nhà tiêu. Một người họ Tần sau triều Tống đến trước tượng Nhạc Phi có câu thơ: Nhân tòng Tống hậu hãn danh Cối/ Ngã đáo phần tiền hối tính Tần. (Từ sau đời Tống ít ai tên là Cối - Ta đến trước mộ mà thẹn mình mang họ Tần)(1) Mấy bức tượng Tần Cối và vợ là Vương Thị, cùng tên giám ngục Vạn Sĩ Tiết, tướng Trương Tuấn, đều được đúc bằng sắt, dáng quỳ, còng tay ngược phía sau cho người qua lại sỉ vả, khạc nhổ, đánh đập. Qua mấy trăm năm như thế, tượng của vợ chồng Tần Cối cũng hư hỏng nhiều lần, và trước sau được đúc lại 13 lần.(2) Những nhà kiến trúc chắc có dụng ý tạo ra một quần thể Tượng - Mộ không ở đâu có, mà 4 bức tượng sắt kia cũng là một thứ mộ riêng biệt dành cho những con người phạm những tội ác khiến cả thế gian và trời đất phải nguyền rủa.

     Trong Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du dành nhiều cảm xúc và suy tưởng về các nhân vật lịch sử trước bao ngôi mộ của miền tịch diệt thăm thẳm trên vạn lý Trung Hoa; song, chùm thơ này, cũng nói về mộ lại có phần khá đặc biệt -  gồm một bài viết về Nhạc Phi, và tới những 4 bài viết về vợ chồng Tần Cối. Đúng hơn là thi hào nói với tượng-mộ của đôi vợ chồng này, mượn tượng để nói với người đời, và bày tỏ thái độ, quan điểm thẩm mỹ & lý tưởng xã hội của bản thân.

     Theo ông Phạm Trọng Chánh, vào năm 1790, sau ba năm đi giang hồ khắp các con sông "Giang Bắc, Giang Nam cái túi không" và thăm các thắng cảnh Trung Quốc, Nguyễn Du đã đến thăm mộ Nhạc Phi. Trước đó, ông cùng Nguyễn Đại Lang (tức Nguyễn Đăng Tiến, tức Cai Già, quyền trấn thủ Thái Nguyên, người anh kết nghĩa sinh tử với Nguyễn Du, cùng bị tướng Tây Sơn bắt làm tù binh và cùng được tha) đi Vân Nam, sau đó đến Liễu Châu. Tại đây, hai người chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê cũ Việt Đông và hẹn hai năm sau gặp lại tại Trung Châu. Điểm hẹn là Miếu Nhạc Phi, nơi đây Nguyễn Du rảnh rỗi chờ đợi đã viết 5 bài thơ.(3)

     Chùm thơ này đã được nhắc đến nhiều trong các bài nghiên cứu, song mới dừng ở mức giới thiệu tổng thể, nhằm phục vụ cho một luận điểm nào đó, chứ chưa hề được phân tích, bình giảng, luận bàn một cách thích đáng qua từng bài.

 

NHẠC VŨ MỤC MỘ

Trung nguyên bách chiến xuất anh hùng,

Trượng bát thần thương, lục thạch cung.

Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục.

Quân môn do tích thập niên công.

Giang hồ xứ xứ không Nam Quốc,

Tùng bách tranh tranh ngạo Bắc phong.

Trướng vọng Lâm An cựu lăng miếu

Thê Hà sơn tại mộ yên trung.

岳武穆墓 

中原百戰出英雄,

丈八神鎗六石弓。

相府已成三字獄,

軍門猶惜十年功。

江湖處處空南國,

松柏錚錚傲北風。

悵望臨安舊陵廟,

栖霞山在暮煙中。

MỘ NHẠC VŨ MỤC

Ông là vị anh hùng xuất hiện trong trăm trận đánh ở Trung Nguyên, với chiếc thương dài trượng tám, và chiếc cung giương nặng sáu thạch. Ở tướng phủ người ta ghép tội ông bằng cái án ba chữ: tam tự ngục. Trong quân còn tiếc công ông mười năm trời. Sông hồ còn đó, nhưng anh hùng mất rồi, nước Nam Tống rỗng không. Cây tùng cây bách vẫn ngạo nghễ trước gió bão Bắc phương. Buồn trông về lăng miếu cũ ở Lâm An. Núi Thê Hà chìm trong khói chiều.

         Vương Trọng dịch thơ:

Thương dài, cung nặng vẫy vùng

Trung Nguyên trăm trận, anh hùng xuất danh

Án ba chữ, tướng phủ hành

Mười năm luyện trận trở thành uổng công

Sông hồ còn, Nam Tống không

Coi thường gió lạnh, bách tùng lao xao

Vọng Lâm An, lăng miếu đâu

Khói chiều mờ mịt, chìm sâu Thê Hà.

       Hai câu đề vẽ ngay ra, tựa khắc vào đá những chiến tích và sự dũng cảm vô song của người anh hùng xuất hiện trong trăm trận đánh ở Trung Nguyên, với hai vũ khí từng khiến giặc kinh hồn là chiếc thương dài trượng tám, và chiếc cung giương nặng sáu thạch: Trung nguyên bách chiến xuất anh hùng/ Trượng bát thần thương, lục thạch cung.

     Từ đó, tác giả đi tới hai câu thực, lý giải thực chất tấn bi kịch đau đớn của người anh hùng một cách súc tích, chất chứa nỗi căm giận của tác giả về một vụ án đầy oan khuất và sự bất công ngút trời: Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục/ Quân môn do tích thập niên công. Ở tướng phủ người ta ghép tội ông bằng cái án ba chữ: tam tự ngục. Khi Tần Cối khép Nhạc Phi vào tội tử hình, đại tướng Hàn Thế Trung hỏi: Có tội gì? Cối trả lời: Mạc tư hữu (Chẳng cần có). Nguyễn Du mượn người khác thay mình đánh giá: Trong quân còn tiếc công ông mười năm trời! Đó là mười năm của một viên tướng can đảm, hiểu biết chiến thuật, ít quân hơn mà đánh thắng quân Kim 126 trận lớn nhỏ. Ông đã giành lại được lãnh thổ phía Nam sông Dương Tử và sông Hoài cho Nam Tống, được phong làm Đại Nguyên Soái. Liên 2 này kể mà như một tiếng than, một lời thở dài trĩu buồn kéo dài tới liên 3:

     Giang hồ xứ xứ không Nam Quốc/ Tùng bách tranh tranh ngạo Bắc phong - Sông hồ còn đó, nhưng anh hùng mất rồi, nước Nam Tống rỗng không! Nhưng cây tùng cây bách vẫn hiên ngang ngạo nghễ trước gió bão. Hai câu luận đã khảng khái vạch ra cái sự thật đắng ngắt và đau đớn khi đất nước ấy mất Nhạc Phi cũng tựa mất hết người anh hùng, mất hết cây cột trụ chống đỡ giang san, chỉ còn lại lũ người hèn hạ, và chốn chốn miền giang hồ ấy dường cũng chẳng còn nước Nam nữa! Có điều, trong thảm cảnh ấy, anh linh và uy vũ người anh hùng vẫn còn sừng sững như Tùng Bách bất chấp phong ba bão táp tới muôn đời sau! Cái hình ảnh tượng trưng đầy bi tráng này khiến thi hào dường nhòa lệ, và có thể ông đã nhớ tới những dòng thơ bi phẫn của Nhạc Phi: Giận tóc dựng ngược/ Đứng tựa lan can/ Mưa hiu hắt ngừng/ Mở mắt trừng lên/ Nhìn trời hú lớn/ lòng trai khích động/ Ba mươi tuổi công danh như bụi đất/ Tám ngàn dặm đường chỉ mây và trăng/ Đừng chờ đợi uổng công/ Để đầu xanh bạc trắng/ Da diết khắp trời buồn/ Mối nhục Tĩnh Khang/ Vẫn còn chưa rửa/ Thần dân oán hận/ Khi nào mới tan/ Cưỡi xe dài đạp nát cung điện núi Hạ Lan/ Nuôi chí lớn đói ăn thịt Hồ tặc/ Nói cười khát, uống máu giặc Hung Nô/ Đợi từ lâu thu hồi sông núi cũ/ Dâng lên cung khuyết. (Mãn Giang Hồng).(4) Một bầu nhiệt huyết ái quốc trung quân nóng bỏng đến thế mà bị những trái tim đen ngòm đầu độc, hãm hại thê thảm! Phải chăng cái hình ảnh mái đầu xanh bạc trắng ôm niềm bi thống kia đã gợi Nguyễn Du liên tưởng tới khát vọng của bản thân, suốt một thời tuổi trẻ Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên, và cũng góp một phần thi hứng - thi liệu cho người nghệ sĩ sau này sẽ dựng nên người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất, dọc ngang nào biết trên đầu có ai là Từ Hải trong kiệt tác Đoạn trường tân thanh?

     Với xúc cảm ấy, nhà thơ Buồn trông về lăng miếu cũ ở Lâm An. Núi Thê Hà chìm trong khói chiều - Trướng vọng Lâm An cựu lăng miếu/ Thê Hà sơn tại mộ yên trung. Bên ngọn núi Thê Hà và đền miếu mộ tượng cùng bản thân mình đang chìm trong khói chiều, ông buồn trông về lăng miếu xưa cũ, nhìn vào dĩ vãng xa xăm, trầm ngâm suy tưởng về sự hưng phế của các triều đại và bâng khuâng trước bao lẽ đời phải trái, bao nghịch lý ngổn ngang của “miền sinh ký” vẫn đầy rẫy “rắn rồng, hổ báo” độc ác…



     Các ông Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Hoàn và Mai Quốc Liên đều đoán/ khẳng định rằng Nguyễn Du có đến Lâm An, song phần đông các nhà nghiên cứu khác đã từ câu Trướng vọng Lâm An cựu lăng miếu mà suy rằng: Lâm An là kinh đô Nam Tống nằm bên sông Tiền Đường, thuộc Hàng Châu, nên Nguyễn Du không tới Lâm An mà chỉ đứng từ xa mà “trướng vọng”; còn câu Thê Hà sơn tại mộ yên trung trong mạch suy đó vẫn thường được dịch là: Thấy núi Thê Hà chìm trong khói chiều. Nhưng, theo thiển ý của chúng tôi, Trướng vọng ở đây là nhìn vọng về kinh đô cũ Lâm An, không phải là cái nhìn địa lý mà là cái nhìn về quá khứ lịch sử. Và hãy thử xét về mặt địa lý đơn thuần, từ miếu Nhạc Phi bên Tây Hồ tới cố cung Nam Tống nằm bên sông Tiền Đường có một khoảng cách vài chục cây số! Hơn nữa, không thể cố chấp coi Trướng vọng chỉ có nghĩa là nhìn từ xa, rất xa. Ngay ở trên đất Lỗi Dương huyện Hành Dương tỉnh Hồ Nam, nơi Đỗ Phủ mất trên một con thuyền ở thượng du sông Tương, sau đó được xây ngôi mộ giả tưởng niệm tại bờ sông, thế mà Nguyễn Du cũng vẫn nói Trướng vọng Lỗi Dương: Thiên chu giang thượng đa thu tứ/ Trướng vọng Lỗi Dương nhật mộ vân- Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ (Ta thả chiếc thuyền con trên sông, thu tứ dào dạt- Buồn vọng trông đám mây chiều trên đất Lỗi Dương). Ông vọng về cái đám mây chiều ngày Đỗ Thiếu Lăng qua đời trên đất Lỗi Dương. Trong Nhạc Vũ Mục mộ cũng vậy, ông vọng về cựu lăng miếu Lâm An ngày nước Nam Tống không còn người anh hùng nào như Nhạc Phi nữa, bị rơi vào tay người Kim, vua bị bắt. Nếu vậy thì câu kết sẽ cần hiểu là: Lúc này, núi Thê Hà chìm trong khói chiều như cùng nhà thơ tưởng niệm cho một quá khứ đau buồn của đất nước Nam Tống.

     Trong Hội thảo Quốc tế về Nguyễn Du năm 2015 tại Hà Nội, tiến sĩ Nhật Nohira Munehiro đã trình bày bản tham luận, có khẳng định: “Nếu theo dõi cuộc hành trình đi sứ của Nguyễn Du thì chúng tôi có thể đoán rằng mộ của Nhạc Phi ở Hà Nam hoặc Hà Bắc, và Nguyễn Du ghé qua mộ ấy trên đường đi Bắc Kinh. Sách Minh nhất thống chí, địa chí Trung Quốc, xác nhận rằng ở Thang Âm, tỉnh Hà Nam, tức là nơi sinh của Nhạc Phi, có ngôi miếu của Nhạc Phi… Tôi chưa bao giờ đến đó, nhưng trên mạng Internet có những trang giới thiệu miếu Nhạc Phi ở Thang Âm, tỉnh Hà Nam và cũng xác nhận rằng ở miếu đó có tượng Tần Cối và tượng Vương thị.”(5) Đó là một ý kiến rất đáng chú ý; song vì chúng tôi chưa tận mắt nhìn thấy tượng sắt vợ chồng Tần Cối mà trang mạng đã xác nhận (bản thân Nohira Munehiro cũng chưa đến đó, cũng chưa được nhìn thấy dù là qua ảnh), nên chúng tôi tạm thời đồng tình với ý kiến của ông Phạm Trọng Chánh, và chờ thời cơ có dịp đến Thang Âm, tỉnh Hà Nam để mục sở thị và chiêm ngưỡng tượng vợ chồng gian thần. Nhưng dù tại đó có miếu Nhạc Phi và tượng Tần Cối, Vương thị, cũng chưa đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn đấy là nơi sứ thần Nguyễn Du đã đi qua và làm 5 bài thơ nói trên.

     Sau này, vào năm 1813 trên đường đi sứ (từ 9-8 đến 22-8 năm Quý Dậu) Nguyễn Du đi qua Yển Thành thuộc tỉnh Hà Nam, nơi Nhạc Phi từng đóng quân và viết bài thơ:

 

YỂN THÀNH NHẠC VŨ MỤC BAN SƯ XỨ

Đương thời tằng trú Nhạc gia quân,

Thử địa kinh kim hữu chiến trần.

Đại tướng không hoài bang quốc sỉ,

Quân vương dĩ tuyệt phụ huynh thân.

Kim bài thập nhị hữu di hận,

Thiết kỵ tam thiên không mộ vân,

Huyết chiến thập niên thành để sự,

Phong Ba Đình hạ tạ Kim Nhân.

郾城岳武穆班處 

當時曾駐岳家軍,

此地經今有戰塵。

大將空懷邦國恥,

君王已絕父兄親。

金牌十二有遺恨,

鐵騎三千空暮蕓。

血戰十年成底事,

風波亭下謝金人。

YỂN THÀNH NƠI NHẠC VŨ MỤC RÚT QUÂN

Thời bấy giờ quân của Nhạc tướng công từng đóng quân ở đây. Vùng đất này từ xưa đến nay đã từng trải qua bao cát bụi chiến trận. Đại tướng luống mang nỗi sỉ nhục của đất nước. Nhưng nhà vua (Tống Cao Tông) đã dứt bỏ tình thân với cha và anh đã bị quân Kim bắt. Mười hai tấm thẻ bài để lại nỗi hận. Ba ngàn quân thiết kỵ chỉ còn lại đám mây chiều. Mười năm huyết chiến để làm nên cái việc: Bị giết ở Phong Ba Đình để triều đình tạ tội với người Kim.

Tranh về lòng dân đối với Nhạc Phi
Tranh về lòng dân đối với Nhạc Phi- photo AN.NAT

(Phong Ba Đình là một đình trong ngục Đại Lý Tự nơi Nhạc Phi và con trai bị giết, nay còn di tích ở Hàng Châu).

         Ngô Linh Ngọc dịch thơ:

Xưa đây Nhạc soái đóng quân doanh,

Mảnh đất nay còn bụi chiến tranh

Đại tướng luống mang hờn đất nước,

Quân vương đã dứt nghĩa cha anh!

Ba ngàn thiết kỵ, mây chiều lấp

Một tá kim bài, hận lớn sinh,

Huyết chiến mười năm, đành rốt cuộc

Đình Phong Ba chết tạ người Kim !

     Nguyễn Du một lần nữa bằng câu chữ tạc nên công lao vĩ đại của đại tướng quân Nhạc Phi đối với nước Nam Tống, người anh hùng mãi mãi được nhân gian truyền tụng, và ngậm ngùi trước nỗi hận của người mang “quốc sỉ”, người từng đánh Nam dẹp Bắc oai hùng rồi phải chết một cái chết vô nghĩa, đau đớn, bởi những kẻ hèn với giặc, tàn nhẫn với các công thần và cả người thân của mình.

     Một trong những kẻ đó là Tần Cối, cùng tòng phạm là vợ y - Vương thị, mà Nguyễn Du dành cho mỗi đứa hai bài thơ tựa những nhát búa tạ giáng không thương tiếc xuống đầu sắt ô nhục của chúng. Lẽ đời, làm ra tượng là để chiêm ngưỡng, chứ đâu phải để người ta đóng cũi như súc vật, rồi khạc nhổ, đánh đập suốt gần ngàn năm qua như thế? Thông thường, các tượng hay quần thể tượng được tạo ra, nói theo triết gia Đức Hêghen là “để tô điểm, trang trí cho không gian có tính kiến trúc… và gợi lên ấn tượng về sự sống và vận động”(6) - “mục đích của tác phẩm điêu khắc là dùng hình tượng con người để biểu hiện yếu tố tinh thần.”(7) Nhưng nếu như Hêghen cho rằng, nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp cần/ và đã diễn tả “cái đẹp của lý tưởng”(8), và nghệ thuật “không phải chỉ là một thứ trang trí, các sáng tạo của nó không phải chỉ là những đối tượng để trang trí mà tương ứng với một nhu cầu của sự sống đòi hỏi phải được thỏa mãn”(9), thì ở đây, trước sự thật về những kẻ gian thần độc ác, “nhu cầu của sự sống đòi hỏi phải được thỏa mãn” đó chính là sự căm hờn khinh bỉ cần có chỗ trút bỏ. Và một triết gia hiện đại người Anh cũng đã khẳng định: “cái đẹp thật sự có thể tìm thấy ngay ở cả những gì xơ xác, đớn đau và hư hoại”, khi mà “năng lực nói lên sự thật về thân phận chúng ta bằng những ngôn từ chuẩn mực và những giai điệu cảm động sẽ đem lại một sự cứu chuộc”(10) - “Và điều này thậm chí cũng đúng với những tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực tàn nhẫn, như các tiểu thuyết Madame Bovary của Flaubert hay Nana của Zola, với sức mạnh và sự thuyết phục tùy thuộc vào tính chất tương phản đầy mỉa mai giữa những thứ như chúng là và những thứ như người ta muốn chúng là.”(11) Trong văn học nghệ thuật Việt Nam và thế giới cổ kim, không hiếm những hình tượng xấu xa, kinh dị, đáng ghê tởm được đưa vào cấu trúc tác phẩm để làm sự tương phản, đối trọng hữu hiệu với cái Đẹp lý tưởng, sự cao thượng.(Chỉ cần lấy ví dụ về quỷ Satan và các đao phủ thực hiện việc trừng trị tàn khốc trong Kinh thánh, trong chín tầng Địa ngục của thi hào Ý Dante hay dưới thập điện Diêm phủ của dân gian các nước Á Đông). Nguyễn Du đã bằng nghệ thuật thơ ca để cảm thụ & luận bình nghệ thuật khác - ở đây là điêu khắc; hơn thế, ông bình luận về tượng là để nói với tượng, cũng là một cách nói với người đương thời và các đời sau. Những luận điểm của hai triết gia vừa dẫn trên có thể làm một cơ sở lý luận cần thiết để chúng ta thâm nhập sâu thêm vào chùm thơ về Mộ-Tượng đặc biệt ở đền Nhạc Phi.

Tượng vợ chồng Tần Cối - Vương thị

Tượng vợ chồng Tần Cối - Vương thị

          ( Ảnh của MA.NAT)



 

TẦN CỐI TƯỢNG I

Điện cối hà niên chùy tác tân

Khước lai y bạng Nhạc Vương phần.

Thị phi tẫn thuộc thiên niên sự,

Đả mạ hà thương nhất giả thân.

Như thử tranh tranh chân thiết hán,

Nại hà mĩ mĩ sự Kim nhân ?

Thùy vân ư thế vô công liệt ?

Vạn cổ do năng cụ loạn thần.

秦檜像其一 

殿檜何年椎作薪,

卻來依傍岳王墳。

是非盡屬千年事,

打罵何傷一假身。

如此錚錚真鐵漢,

奈何靡靡事金人。

誰云於世無功烈,

萬古猶能懼亂臣。

TƯỢNG TẦN CỐI I

Cây cối bên điện vua năm nào nay đã bổ làm củi rồi, mà sao tên Cối lại đến dựa dẫm bên mộ Nhạc Vương? Đúng sai đã là chuyện để ngàn năm định luận. Đánh mắng có làm đau đớn gì cái thân giả ấy? Trông có vẻ cứng cáp như thế kia, rõ là một con người sắt thép, mà cớ sao lại khúm núm thờ lũ người Kim? Ai bảo nó không có công trạng gì góp cho đời ? Muôn đời còn có thể lấy nó làm gương cho bọn gian thần phải e sợ.

            Vương Trọng dịch thơ:

Cối kia thành củi bao giờ

Cối này dựa dẫm bên mồ Nhạc Phi

Ngàn năm sai, đúng luận suy

Chịu đòn, thân giả biết gì đớn đau?

Sắt kia, cứng cổ cứng đầu

Cớ sao khúm núm theo hầu giặc Kim?

Ở đời, công nó đừng quên:

Loạn thần run sợ tới nghìn năm sau.

     Nguyễn Du khéo chơi chữ Cối trong điện cối - cây cối bên cung điện và tên Tần Cối: bên điện vua Tống Huy Tông có một cây “cối” sinh nấm ngọc, bị cho là điềm Tần Cối làm mất nhà Tống khi y được trọng dụng; cây “cối” đó sau bị chẻ thành củi. Sự thật là, sau khi hãm hại cha con Nhạc Phi, vợ chồng Tần Cối đã sống trong nỗi bất an, hoảng loạn, chết trong sự ô nhục, và cuối cùng bị di xú muôn đời bằng hình hài sắt thô quỳ nhục nhã trong sự đánh mắng, thóa mạ của người đời. Câu phá đề từ đây bắt đầu cho một nguồn cảm hứng mỉa mai cay độc của tác giả cho tới suốt bài và các bài sau: mà sao tên Cối còn đến dựa dẫm bên mộ Nhạc Vương? Trong một không gian thoáng rộng như được chống đỡ bởi những gốc tùng cổ thụ, 4 bức tượng sắt, mà trung tâm là tượng Tần Cối phải quỳ mãi mãi trước hai ngôi mộ của hai cha con Nhạc Phi, như một sự trừng phạt nghiệt ngã; còn Nguyễn Du thì diễn đạt sự trừng phạt đó bằng câu hỏi mỉa mai gắng kìm sự phẫn nộ: “khước lai y bạng Nhạc Vương phần?” Theo từ điển Thiều Chửu, y bạng (依傍) là nương tựa, nhờ vả. Thực oái oăm, và cũng thực ngu xuẩn, đểu cáng và khốn nạn, kẻ giết người độc ác lại tìm sự nương tựa nơi người chính bị kẻ đó giết hại, và ăn theo sự nổi tiếng của người ấy! (Cái ý dựa dẫm ăn theo này, Nguyễn Du sẽ triển khai đầy đủ, và thích đáng trong bài Tần Cối tượng II).

     Tới liên 2, tác giả làm như khách quan, đứng ngoài đánh giá về thái độ của người đời đối với Tần Cối: Thị phi tẫn thuộc thiên niên sự/ Đả mạ hà thương nhất giả thân. Đúng sai đã là chuyện để ngàn năm định luận. Đánh mắng có làm đau đớn gì cái thân giả ấy? Nguyễn Du làm ra vẻ thương hại, cảm thông với hình nhân của kẻ bị đối xử một cách lạ đời như thế, để trách người đời đã làm một việc vô ích, nhưng đồng thời ông bắt đầu giáng đòn vào mộ-tượng: nó là thân giả, lại là sắt vô tri vô giác, thì mọi sự “đả mạ”- đánh mắng nhục mạ có ảnh hưởng gì tới nó đâu, ngược lại chỉ làm nó thêm trơ lỳ và đáng ghét!

     Và sự đáng ghét đó cứ lớn dần thành sự tởm lợm, khinh miệt, căm giận trong lòng, khiến tác giả nắm lấy cổ tượng buộc tượng phải ngẩng đầu lên để tra vấn, như nó cũng mang “linh hồn chết” vậy: Trông có vẻ cứng cáp như thế kia, rõ là một con người sắt thép, mà cớ sao lại khúm núm thờ lũ người Kim? Như thử tranh tranh chân thiết hán/ Nại hà mĩ mĩ sự Kim nhân? Ở liên 3 này, Nguyễn Du đã kết hợp mấy thao tác nghệ thuật đắt và đúng chỗ: dùng sự tương phản đối lập, lấy hư để nói thực, mượn bóng vờn dạo để bất ngờ xuyên táo sự thật vào chủ thể - cũng là một cách “tá khách hình chủ”: cái dáng vẻ như cứng cáp cho thấy là con người có tính cách gang thép, bất khuất can trường, thế sao lại rạp mình luồn cúi một cách hè hạ trước bọn người Kim? (Từ điển Thiều Chửu: động từ mĩ mĩ (靡靡) là lướt theo, rạp theo. Phong tục bại hoại cũng gọi là mĩ mĩ). Bằng hai câu thơ, Nguyễn Du đã phả linh hồn vào mộ-tượng, bắt nó phải dựng dậy để tiếp tục nghe phán xử nghiêm khắc của chính ông thay mặt người đời.

     Ba câu hỏi dồn dập ở trên như sự chuẩn bị tâm lý cho người đọc để tác giả đi tới câu hỏi nghiệt ngã cuối cùng trong câu kết: Thùy vân vu thế vô công liệt? Ai bảo nó không có công trạng gì góp cho đời? Và ngay lập tức ông trả lời: Vạn cổ do năng cụ loạn thần. Muôn đời còn có thể lấy nó làm gương cho bọn gian thần phải e sợ! Tới đây, sự mỉa mai chua chát bị dồn nén đã bùng ra thành một lời phán xét đanh thép. Và rõ ràng là Nguyễn Du thấy sự cần thiết của một tấm gương phản đề tày liếp về đạo lý làm người dành cho muôn đời, qua số phận gian thần Tần Cối cả khi sống lẫn khi chết.

     Một nhà nghiên cứu có viết: “… theo Nguyễn, dựng tượng kẻ xấu tuy là để trừng phạt nhưng như thế tức là vô tình để cho cái ác, cái xấu tồn tại mãi, Nguyễn muốn cái ác, cái xấu phải vĩnh viễn mất đi. Hơn nữa, tượng vợ chồng Tần Cối còn ở đó bên cạnh tượng người anh hùng Nhạc Phi thì hóa ra chừng nào còn người anh hùng này thì hai kẻ xấu kia chúng vẫn tồn tại… Có nghĩa là vô tình để nó bất hủ cùng với người anh hùng Nhạc Phi.”(12) Theo chúng tôi, nhận định như trên là hiểu sai ý tứ của Nguyễn Du, vô tình hạ thấp cái sức mạnh của “đòn âm”, sức mạnh của một thứ “chủ nghĩa hiện thực tàn nhẫn” mà Nguyễn quất vào những kẻ tiểu nhân đểu cáng, những kẻ bạc ác tinh ma (Kiều). Nguyễn nhiệt thành ủng hộ việc dựng tượng sắt những kẻ này để đồng thời bằng ngôn từ của mình phụ họa thêm, nhân thêm lên một biểu tượng vĩnh cửu của sự phi nhân tính nhằm kêu gọi, phục hồi nhân tính. Điều này chúng ta sẽ càng thấy rõ hơn trong bài Tần Cối tượng 2.

 

TẦN CỐI TƯỢNG II

Cách Thiên các hủy ngọc lâu tàn,

Do hữu ngoan bì tại thử gian.

Nhất thể tử tâm hoài đại độc,

Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan.

Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết,

Giai hạ đồ tru tử hậu gian.

Đắc dữ trung thần đồng bất hủ,

Tề thiên kỳ phúc thái vô đoan.

秦檜像其二 

格天閣毀玉樓殘,

猶有頑皮在此間。

一世死心懷大毒,

千年生鐵負奇冤。

獄中已濺生前血,

階下徒誅死後奸。

得與忠臣同不朽,

齊天奇福太無端。

TƯỢNG TẦN CỐI II

Gác Cách Thiên đổ nát, lầu ngọc đều đã hoang tàn. Nhưng vẫn còn tên gian phi càn rỡ ở đây. Suốt đời trái tim chết của nó chứa đầy nọc độc. Nghìn năm cục sắt sống kia phải mang nỗi oan kỳ lạ. Trong ngục người trung thần khi sống đã phải trào máu, Dưới thềm phạt tội tên gian đã chết, chỉ uổng công! Được cùng với bậc trung thần mà thành bất hủ. Cái phúc lạ lớn tày trời của nó thật quá vô lý.

           Vương Trọng dịch thơ:

Cách Thiên, lầu ngọc nát tan

Chỉ còn trơ một thằng gian nơi này

Tim đen nọc độc chứa đầy

Chịu oan, sắt thép đoạ đày nghìn năm

Đòn roi bật máu trung thần

Thằng này, có đánh bao lần, cũng trơ

Lạ kỳ, nhà hắn phúc to

Nương nhờ bất hủ trời cho trung thần!

Liên1 cũng dường bắt đầu bằng sự xuất hiện của đối tượng vịnh sử như bài Tần Cối tượng1: Cây cối bên điện vua năm nào nay đã bổ làm củi rồi, mà sao tên Cối lại đến dựa dẫm bên mộ Nhạc Vương?

     Nhưng ở đây, không chỉ là cây”cối” bị bửa ra làm củi, mà tấm biển đề bốn chữ Nhất Đức Cách Thiên do chính tay vua Huy Tông nhà Tống viết tặng Tần Cối để trong nhà cũng đã mục nát từ lâu giữa lầu phủ hoang tàn, hơn thế, trở thành trò cười cho thiên hạ. Bốn chữ ấy nghĩa là vua tôi cùng có một đức thuần nhất có thể cảm thông được lòng trời. Nhưng khi vua Huy Tông bị bắt làm tù binh nước Kim, Tể tướng Tần Cối cùng bị bắt rồi được tha và chủ trương chủ hòa, chịu thần phục Kim, nhường đất phía Bắc sông Hoài cho Kim, trở thành công cụ cho Đại Kim, bỏ rơi nhà vua trong ngục và bắt giết Nhạc Phi để làm vui lòng nhà Kim (sự Kim nhân). Đời Tống Ninh Tông, Cối bị xóa bỏ tước vương, mang tên thụy là Mậu Xú, rồi người đời dựng tượng chịu quỳ trước mộ Nhạc Phi để chịu sự trừng phạt như chúng ta đã biết, trong cảnh tượng Cách Thiên các hủy ngọc lâu tàn - Gác Cách Thiên đổ nát, lầu ngọc đều đã hoang tàn. Và tác giả không khoác cái vỏ “lịch sự” để châm biếm nữa (y bạng - dựa dẫm, nương nhờ), mà thẳng thừng điểm mặt chỉ tên kẻ vẫn còn lẩn quất giữa cõi đời: Nhưng vẫn còn tên gian phi càn rỡ ở đây- Do hữu ngoan bì tại thử gian.

     Rồi tác giả nhận định một cách khái quát bản chất thực của một kẻ cả khi sống lẫn khi chết bị thiên hạ ngàn đời phỉ nhổ, bằng hai câu thực vào loại “đỉnh” của thơ ông: Nhất thể tử tâm hoài đại độc/ Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan. Suốt đời trái tim chết của nó chứa đầy nọc độc. Nghìn năm cục sắt sống kia phải mang nỗi oan kỳ lạ.

     Khi sống, trái tim của nó mang đầy chất độc đã đành, nhưng chết đi, nó vẫn mang đầy chất độc đó trong trái tim chết (tử tâm). Một cách diễn đạt cực tả nhằm phanh phui tận cùng cái sự thật khủng khiếp về một kẻ từng mang vóc dáng xương thịt con người khiến người đọc cả ngàn năm sau phải rùng mình ghê sợ. Nhưng, nỗi cảm thông này của nhà thơ mới làm nên “thần nhãn” của bài thơ: Nghìn năm cục sắt sống kia phải mang nỗi oan kỳ lạ! Câu thơ như cũng mang niềm cảm thông sâu sắc của tác giả đối với nỗi đau của người nghệ nhân khi buộc phải dựng lên cái hình hài kết tinh sự xấu xa đồi bại. Nỗi oan của người anh hùng đã là một nỗi thương đau lớn cho bao thế hệ người, song nỗi oan của cục sắt sống vô tội kia khi phải mang hình dạng của kẻ đáng nguyền rủa, phải chịu sự phỉ báng đánh đập mãi mãi cùng hắn, cũng là một điều thực đáng kể, và bởi vậy, nỗi oan của người anh hùng càng thấm thía xót xa đối với người đời! Nghệ thuật bồi thấn tương phản của thơ trong trường ẩn dụ khi kết hợp với cảm xúc mạnh mẽ và sự suy tưởng sâu sắc đã tạo ra một hình tượng thơ thực độc đáo, và hiếm có trong thơ ca Trung đại Việt Nam.

     Là một nghệ sĩ nhạy cảm có “cái nhìn thấu suốt tới sáu cõi” và giàu tình thương đối với vạn vật, Nguyễn Du hơn ai hết thấm hiểu rằng con người khi sinh ra trên đời ai cũng luôn mong tương thông cùng thế giới để tạo nên một sự hài hoà nhu thuận, như Lão Tử đã nói: "Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên" (Người theo lẽ đất, đất theo lẽ trời, trời theo lẽ đạo, đạo thuận theo lẽ tự nhiên). Bởi thế, sự tồn tại của của một cục sắt mang nỗi oan kỳ lạ kia là một sự phản tự nhiên đến tột cùng, phá vỡ một nguyên lý thiêng liêng của Trời Đất: "vạn vật dữ ngã vi nhất" (vạn vật với ta là một). Từ nguồn suy tưởng sâu xa ấy, tác giả đi tới hai câu luận: Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết/ Giai hạ đồ tru tử hậu gian. Trong ngục người trung thần khi sống đã phải trào máu, Dưới thềm phạt tội tên gian đã chết, chỉ uổng công! Những cặp từ công đối và ngôn từ súc tích vô tình khái quát lên cái sự thật lịch sử đẫm máu được liên thông từ khi nó diễn ra cho tới lúc nhà thơ mục sở thị cảnh mộ-tượng bị trừng phạt ra sao. Cảm xúc của nhà thơ tựa cũng tới độ phải trào máu căm hận, khiến ông tạm quên đi điều mình vừa nói (là cái mộ-tượng quái dị kia có tác dụng làm gương cho lũ loạn thần), để giây phút đó chỉ thấy sự vô nghĩa, sự uổng công trong hành động trừng phạt của người đời; và từ điểm tựa cảm xúc ấy, tác giả đi tới hai câu kết tưởng đâu như một nhận xét nhẹ nhàng song thực là dữ dội, khắc nghiệt: Đắc dữ trung thần đồng bất hủ/ Tề thiên kỳ phúc thái vô đoan. Được cùng với bậc trung thần mà thành bất hủ. Cái phúc lạ lớn tày trời của nó thật quá vô lý! Liên 4 này xét cho cùng cũng là một cặp luận nối dài, cái phúc lạ lớn tày trời của mộ-tượng kia đúng là một biểu hiện của sự bất công nối tiếp bất công không thể chấp nhận được đối với lẽ phải cũng như đối với lương tri thông thường! Thái độ mỉa mai châm biếm ở mức độ sâu cay tới đây trở thành một sự phán xử nghiêm khắc, thêm một lần ném vào đầu tượng không chỉ cái tội ác tày trời do hắn gây ra mà còn cả sự ngược đời phi lý kéo dài gần ngàn năm cũng do hắn mà ra - là được bất tử cùng bậc trung thần, mà theo nhà thơ, đó cũng là một sự nhạo báng tự nhiên và thánh thần, một sự vô Đạo!

     Nhưng nói tới sự vô lý tột cùng kia, không có nghĩa là tác giả phủ định quan điểm của mình ở bài Tần Cối tượng1, và sự trớ trêu của số phận này dù sao cũng cần được duy trì khi nó đã trót sinh ra. Sự quá vô lý đó cũng là một cách khó thay thế nổi trong việc tạo ra bài học về đạo lý cho mọi người và treo gương tày liếp cho những kẻ loạn thần xưa - nay. Sự vô Đạo khi kẻ ác cùng bất tử với người hiền cũng cần truy tới cội nguồn, và đó cũng là một thứ tội ác mà kẻ mang hình hài ghê tởm muốn “ăn theo” người hiền kia cũng cần phải gánh chịu, cộng với tội ác đã có! Hơn thế, sự “cặp đôi” này cũng là một biểu hiện của thế giới tuy đã qua thời hỗn mang nguyên thủy song lại tạo ra bao sự hỗn mang mới trong nhân sinh mà triết lý Âm Dương Ngũ Hành chưa thể lý giải nổi. (Xin nhớ lại món bánh giò cháo quẩy làm từng cặp tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối bị trói với nhau và ném vào chảo dầu như một cách hành tội và nhắc nhở người đời mãi mãi).  Vì thế, nói như nhà nghiên cứu rằng, “tượng vợ chồng Tần Cối còn ở đó bên cạnh tượng người anh hùng Nhạc Phi thì hóa ra chừng nào còn người anh hùng này thì hai kẻ xấu kia chúng vẫn tồn tại”(13) thì rõ ràng là một cách hiểu áp đặt, xa rời ý tứ thâm sâu của Nguyễn Du!

 

VƯƠNG THỊ TƯỢNG I

Thiệt trường ba xích cánh hà vi ?

Hảo dữ quyền gian bị xướng tùy.

Hậu hoạn chính ân cầm hổ nhật,

Tiền công an vấn ẩm long kỳ.

Nhất sinh tâm tích đồng phu tế,

Thiên cổ hình hài nhục nữ nhi.

Để sự tưởng lai "mạc tư hữu "

Khuê trung tư ngữ cánh thùy tri.

王氏像其一 

舌長三尺更何為,

好與權奸備唱隨。

後患正殷擒虎日,

前功安問飲龍期。

一生心跡同夫婿,

千古形骸辱女兒。

底事想來莫須有,

閨中私語更誰知。

TƯỢNG VƯƠNG THỊ I

Lưỡi dài ba tấc của thị để làm gì? Khéo cùng với tên quyền thần gian ác kết làm vợ chồng. Cái ngày bắt được cọp chính là ngày trừ được mối lo về sau, Hỏi làm gì cái công ước hẹn uống rượu mừng ở Hoàng Long! Một đời bụng dạ giống hệt như chồng, Nghìn năm hình hài thị làm nhục cho phụ nữ. Suy ngẫm kỹ lại cái việc dựng lên cái án ba chữ: Mạc tư hữu (chẳng cần có), Hẳn là có lời nói riêng của thị trong phòng khuê, chẳng ai biết được.

       Vương Trọng dịch thơ:

Lưỡi dài ba tấc làm gì?

Khéo thay tìm kẻ gian phi làm chồng

Nhạc Phi khi đã vào tròng

Còn ai nghĩ đến Hoàng Long uống mừng

Với chồng -  một cốt, một đồng

Hình hài muôn thuở đau lòng nữ nhi

"Không cần có tội" - án phê

Biết đâu lời thị buồng the với chồng!

     Bài thơ này, mới xem qua, tưởng đâu chỉ là một tiểu ký sự về chân dung về người đàn bà, kẻ tòng phạm thủ ác với chồng là Tần Cối, qua thị để kể lại lịch sử: Tống bị Kim xâm lăng, Tần Cối cầm đầu bọn chủ hòa. Nhạc Phi chủ trương đánh, và khi cầm quân đánh Kim, có hẹn với tướng sĩ rằng: Thẳng đến Hoàng Long cùng các ngươi uống chén rượu mừng công. (Hoàng Long là kinh đô nhà Kim, nay ở tỉnh Liêu Đông). Tần Cối giả lệnh vua, bắt Nhạc Phi hạ ngục. Với lời thì thào bàn bạc của vợ, coi như bắt được cọp rồi, nếu để thoát, e có mối lo về sau, Tần Cối lấy tội danh “không cần có” (mạc tu hữu) mà giết chết hai cha con Nhạc Phi.

     Chỉ vài nét điểm sơ lược gợi lại lịch sử như thế mà người đọc đã hình dung ra tất cả tấn bi kịch đau đớn của người anh hùng và chiến hữu, bởi chúng được lồng một cách khéo léo, tài nghệ, qua mấy nét vẽ chân dung ký họa thực sống động về Vương Thị. Cái chân dung đó bắt đầu bằng thiệt trường tam xích. Thời xưa, người Trung Quốc quan niệm thân người trung bình đo được là thất xích (bảy thước Tàu), vậy mà Vương Thị lưỡi dài tam xích, nghĩa là bằng gần một nửa thân người! Lưỡi dài ba tấc, được tác giả gắn vào câu hỏi tu từ phiếm chỉ: cánh hà vi - để làm gì thế? và cũng bắt đầu bộc lộ một thái độ ghê tởm, kinh sợ. Cái logic của câu chữ - hình tượng diễn ra hợp lý và giản dị đến độ không ngờ: để làm gì, để khéo cùng với tên quyền thần gian ác kết làm vợ chồng, ngưu tầm mưu, mã tầm mã! Hai câu đề đã khái quát toàn bộ thực chất nhân cách của đôi vợ chồng này bằng thái độ thẩm mỹ & lý tưởng xã hội của tác giả. Từ đây, nhà thơ sẽ diễn dịch cái cảm giác, suy nghĩ, đánh giá của bản thân đã kịp truyền cảm sang người đọc về thân phận, lai lịch người đàn bà khủng khiếp từng sát cánh bên kẻ hãm hại người trung lương ra sao.

     Hai câu thực như một hình dung rõ rệt trước mắt nhà thơ về sự hý hửng độc ác của người đàn bà khi người anh hùng bị sa lưới, và ông nhìn thấu tim đen của mụ, trong một tiếng thở dài kín đáo: Cái ngày bắt được cọp chính là ngày trừ được mối lo về sau, Hỏi làm gì cái công ước hẹn uống rượu mừng ở Hoàng Long!

     Rồi ông căm giận hạ hai câu luận, đánh giá trực tiếp về “nhân cách sói cái” của thị: Một đời bụng dạ giống hệt như chồng, Nghìn năm hình hài thị làm nhục cho phụ nữ. Sử sách từng kể Vương Thị là là kẻ nham hiểm, đã đem bỏ thuốc độc vào ba trăm hũ ngự tửu của vua đưa qua Bộ Lễ niêm phong để ban thưởng cho Nhạc Phi và quân sĩ, cũng may là quân của Nhạc Phi phát giác kịp thời. Vương Thị cũng là một cố vấn đắc lực cho Tể tướng Tần Cối, đưa ra nhiều mưu sâu kế độc như không phát thêm lương thảo cho Nhạc Phi khi ông đang cầm quân đánh Kim… Cái lưỡi dài ba tấc của thị chính là cái lưỡi của loài rắn độc mang hình người làm nhục cho nữ giới, đáng muôn đời nguyền rủa. Tội lỗi lớn nhất của thị là bằng cái lưỡi rắn đó thì thào trong phòng riêng vợ chồng góp phần tạo ra một cái án kinh thiên động địa hiếm có, theo sự suy ngẫm của tác giả ở hai câu kết: Để sự tưởng lai "mạc tư hữu"/ Khuê trung tư ngữ cánh thùy tri. Suy ngẫm kỹ lại cái việc dựng lên cái án ba chữ: Mạc tư hữu (chẳng cần có), Hẳn là có lời nói riêng của thị trong phòng khuê, chẳng ai biết được. “chẳng ai biết được” (cánh thùy tri) là một cách nói giảm khinh, tưởng đâu giúp thị lấp liếm tội lỗi phần nào, nhưng thật ra là giáng thêm cho thị một cái tát thích đáng bởi sự khẳng định “Khuê trung tư ngữ” ngay đầu câu như một sự lật bài ngửa đã chặn trước!

     Dường chưa hả giận, nhà thơ còn viết tiếp bài thứ hai về người đàn bà độc ác, và lần này, từ những ký họa phác thảo ở trên, ông vẽ lên một chân dung toàn diện về mụ, “dựng” lên một “tượng-mộ” thứ hai bằng ngôn từ - bên bức tượng sắt quỳ ô nhục của mụ.

 

VƯƠNG THỊ TƯỢNG II.

Thâm đồ mật toán thắng phu quân.

Ưng thị "thần kê " đệ nhất danh.

Bất lạn sĩ sinh tam thốn thiệt.

Thuần cương hoàn đắc vạn niên thân.

Xướng tùy tận đạo ưng vô hối,

Kỹ lưỡng đồng niên cánh khả thân.

Mạc đạo nữ nhi vô lực lượng,

Dã tằng hám phá Nhạc gia quân!

王氏像其二 

深圖密算勝夫君,

應是晨雞第一人。

不爛已生三寸舌,

純綱還得萬年身。

唱隨盡道應無悔,

伎倆同年更可親。

莫道女兒無力量,

也曾撼破岳家軍。

TƯỢNG VƯƠNG THỊ II

Mưu mô tính kế sâu kín hơn cả chồng, Đúng là bậc nhất trong loại “gà mái gáy sáng”. Sinh ra là đã có có ba tấc lưỡi bất hủ, Lại có cái thân bằng gang thép muôn năm bền vững. Trọn đạo xướng tùy hẳn không có gì phải hối hận, Gian ác như nhau, nên lại càng ăn ý với nhau hơn. Chớ bảo đàn bà không có sức mạnh, Chính thị đã từng phá tan quân của họ Nhạc.

         Vương Trọng dịch thơ:

Mưu mô thị vượt cả chồng

" Mái gà gáy sớm", thật không ai bằng!

Dài ba tấc lưỡi vạn năng

Thân gang thép đúc, ngàn năm chẳng sờn

Xướng tuỳ, được thế gì hơn

Cùng gian, cùng ác dễ thường kết nhau

Đàn bà sức lực kém đâu:

Đánh tan Nhạc tướng, công đầu thị đây!

     Liên 1, tác giả nói ngay đến bản chất mưu mô thâm hiểm xảo quyệt của Vương Thị, mà theo ông còn vượt xa chồng, Đúng là bậc nhất trong loại “gà mái gáy sáng”! Chữ Thần Kê lấy từ câu Tẫn kê tư thần trong sách cổ, ý nói gà mái gáy sớm, chỉ người vợ lộng quyền trong nhà. Nhưng lộng quyền trong triều đình, tham dự vào chính sự với trái tim đen ngòm thì quả là một tai họa khủng khiếp đối với quốc gia!

     Liên 2, mấy chữ tam thốn thiệt như điệp lại với mấy chữ thiệt trường tam xích ở bài I nhằm đặc tả cái lưỡi dài ba tấc tượng trưng lưỡi của loài rắn độc, có điều tác giả nhấn mạnh rằng, sinh ra mụ đã có cái lưỡi bất hủ mang bản chất của thú dữ như thế! Cái lưỡi mềm không xương chứa nọc độc này thấm đầy máu của bậc trung thần, lại được tác giả đưa ra làm đối xứng với cái hình nhân bằng sắt thép muôn năm bền vững dành cho người đời vạn thuở khạc nhổ, đánh đập - một thứ công đối hình ảnh đầy hiệu quả nghệ thuật, tác động mạnh tới ấn tượng và cảm nghĩ của người đọc. Từ cơ sở này, nhà thơ đi tới luận về chủ thể vịnh:

     Trọn đạo xướng tùy hẳn không có gì phải hối hận, Gian ác như nhau, nên lại càng ăn ý với nhau hơn - Xướng tùy tận đạo ưng vô hối/ Kỹ lưỡng đồng niên cánh khả thân.

     Chú ý cách dùng từ của tác giả: trọn đạo xướng tùy, đạo vợ chồng; nhưng mỉa mai chua xót thay, cái đạo vợ chồng như Khổng học đã dạy “phu phụ hòa kính”- chồng vợ hòa thuận kính trọng nhau mà Hán nho cải thành “phu xướng phụ tùy”- chồng xướng vợ theo, đối với hai vợ chồng Tần Cối đã biến thành thứ đạo của bọn bất lương “mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường” (Kiều) quen thói mua bán đổi chác quyền lợi ích kỷ trên xương máu của người lương thiện và bậc trung thần! Bởi thế, chúng chẳng có gì mà phải hối hận (ưng vô hối), ngược lại, vì bản tính gian ác như nhau, nên lại càng ăn ý với nhau hơn, và chúng có cái hạnh phúc riêng, có tiếng cười hả hê riêng của chúng trên số phận đau thương quốc gia và của đồng loại. Sự phán xét của Nguyễn Du về đạo lý làm người thông qua cách mỉa mai đó thực thâm trầm, nghiêm khắc và giàu sức khái quát.

     Với hai câu kết, tác giả phác nét vẽ cuối cùng hoàn chỉnh chân dung người đàn bà gian ác: Mạc đạo nữ nhi vô lực lượng/Dã tằng hám phá Nhạc gia quân! Chớ bảo đàn bà không có sức mạnh, Chính thị đã từng phá tan quân của họ Nhạc!

     Nhạc Gia quân tức quân họ Nhạc. Quân Kim rất sợ Nhạc Phi, thường bảo nhau: Chuyển núi thì dễ, phá quân đội của Nhạc Phi thì khó. Nhạc Phi bị giết trong ngục, từ đó đội quân của ông tan rã. Sức mạnh của Vương Thị là sức mạnh phá hoại, thiêu hủy những gì vốn là kết quả của lòng dũng cảm, sự hy sinh, hàng đống xương máu của những người ái quốc trung quân trong thời kỳ ấy, và ảnh hưởng của thị chắc cũng không phải là ít trong sự phá hoại luân thường đạo lý xã hội nhiều thời đại sau. Vì thế, thị cần được/ bị bêu để “làm gương” cho bọn nữ “loạn thần” trước công luận bằng bức tượng-mộ ô nhục kia! Làm tới hai bài thơ vịnh về thị, phải chăng Nguyễn Du muốn gửi gắm cả niềm tâm sự đó? Thị có tội lớn ngang với chồng mình trước lịch sử và sự phán xét của lương tri, nhưng chắc hẳn thị còn đáng trách hơn đối với Nguyễn Du, bởi thị nằm trong cái giới nhân sinh mà bản thân ông bao giờ cũng trân trọng và dành cho những tình cảm thắm thiết trĩu nặng: Đau đớn thay phận đàn bà. Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung! (Kiều) Đau đớn thay phận đàn bà. Hỡi ôi thân ấy biết là mấy thân! (Văn tế thập loại chúng sinh).

***

     Chúng tôi vừa điểm qua 5 bài thơ của Nguyễn Du viết tại Đền Nhạc Phi ở Hàng Châu. Có điều cần lưu ý là, mặc dù Nhạc phi cũng có tượng ở trong khu đền, song Nguyễn chỉ viết về mộ của ông (Nhạc Vũ Mục mộ), trong khi đó viết tới 4 bài về tượng hai nhân vật phản diện (Tần Cối tượng, Vương Thị Tượng). Có cảm giác: ấn tượng nặng nề qua bốn bài này lấn át cảm xúc bài đầu viết về người anh hùng. Song, thực tế là, sự nặng nề đen tối toát ra từ hình tượng về các mộ-tượng kỳ dị kia lại có tác dụng làm nổi bật lên các điểm sáng trong nhân cách và võ công của Nhạc Phi mà qua cách miêu tả và bộc lộ cảm xúc, nhân vật lịch sử này được Nguyễn Du coi trọng, đánh giá cao không kém các nhân vật văn hóa-lịch sử khác như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Văn Thiên Tường, Liêm Pha, Tỷ Can, Dự Nhượng, v.v. Đối với các nhân vật phản diện, nhất là những kẻ nhuốm đầy máu trung thần nghĩa sĩ và người dân lương thiện, lúc nào ông cũng có thái độ tẩy chay, đối kháng, phủ nhận kịch liệt, như trong các bài Phản chiêu hồn, Kỳ lân mộ, Tần Cối tượng… dường như khác hẳn với con người đa cảm và suy tưởng ta thường thấy. Với chùm thơ này, Nguyễn lại thêm một lần bộc lộ rõ rệt không chỉ tầm vóc tư tưởng, chiều sâu tâm hồn, mà cả bản lĩnh văn hóa cùng tài năng nghệ thuật của một nhà văn-nghệ sĩ. Đọc ông viết về những kẻ học đòi ông Cao, ông Quỳ mà miệng ngậm đầy máu người, về những kẻ mang trái tim chứa đầy nọc rắn độc như vua Trụ, Tần Thủy Hoàng, Minh Thành Tổ, Tần Cối, Vương Thị… chúng ta có thể hiểu cái thông điệp ngầm của ông về cái nghịch lý của sự “bất tử” đối với người đời sau: cuộc đời hữu hạn này là đáng quý, và một khi con người ta sống tử tế, lương thiện, tâm thành, thì sẽ có khả năng lưu lại trường cửu trong lòng hậu thế, và nếu có tài năng công đức lớn, sẽ được dân xây đền thờ hương khói ngưỡng vọng đời đời; còn ngược lại, tâm địa xấu xa, hành xử như thú dữ với đồng loại thì dân sẽ “đái ngập mồ thấu xương”, việc bị đúc tượng-mồ bằng sắt thô đóng cũi bêu ô nhục cho muôn đời sẽ không chỉ diễn ra ở một ngôi đền Nhạc Phi! Đó cũng là một sự cảnh báo và nhận diện cái ác của đại thi hào, kêu gọi nhân loại hãy cảnh giác với những kẻ có trái tim đen tối, dù chúng có khoác cái mặt nạ tử tế nhân hậu gì và ở bất cứ cương vị xã hội nào!

     Đọc thơ Nguyễn Du vịnh những bức tượng-mộ này, rồi sau đó tận mắt được “chiêm ngưỡng” chúng, bất chợt chúng tôi liên tưởng tới những điều triết gia Hêghen nói về nghệ thuật điêu khắc, ông viết rất hay và kỹ lưỡng tới hàng trăm trang sách về “điêu khắc lý tưởng” trong các tư thế, các góc nhìn, các bộ phận tượng, các cá tính, các đề tài, các y phục, các lứa tuổi và giới tính, các chất liệu làm tượng…(14) Trong tất cả các chất liệu điêu khắc cổ điển sử dụng được triết gia Đức liệt kê, như cẩm thạch, đá hoa cương và các loại đá khác, gỗ, ngà, vàng, đồng thau, ngọc, thủy tinh, đất sét…, chúng ta không hề thấy ông nhắc đến sắt. Chỉ tới điêu khắc hiện đại và hậu hiện đại người ta mới dùng tới chất liệu sắt, thép (dĩ nhiên là sắt thép không rỉ); còn thời cổ - trung đại ở Trung Hoa và các nước Á Đông, có lẽ duy nhất chỉ tại Đền Nhạc Phi người ta mới sử dụng sắt thô để làm tượng đặt dưới nền đất mà thôi! Sắt thô có khả năng bền vững với thời gian (thế mà cũng đã phải đúc đi đúc lại tới hơn chục lần trước sự trút bỏ căm giận của người đời), và điều quan trọng là chỉ chất liệu đó mới thể hiện hết được tính chất tàn nhẫn, vô lương, sắt máu của bản tính nhân vật trong tư thế quỳ nhục nhã. Nếu Hêghen lúc viết công trình Mỹ học được tới Trung Hoa, đến thăm mấy bức tượng-mộ rất đặc biệt này, chắc hẳn ông sẽ có cả một chương sách về chúng “làm ngây ngất” người đọc. Nhưng tiếc thay, ông đã không có dịp tới đó. Và đại thi hào Việt Nam đã thay triết gia phương Tây làm công việc này, bằng những thi phẩm tuyệt tác giàu tính triết luận có khả năng tham gia vào cuộc chiến sinh tử thanh tẩy sự xấu xa độc ác và giành giật lại nhân tính cho Con người.

Mai An Nguyễn Anh Tuấn




________________________

Những trích dẫn thơ chữ Hán Nguyễn Du và giải thích, dịch nghĩa chủ yếu lấy từ nguồn: Nguyễn Du toàn tập, tập II. Mai Quốc Liên, Vũ Tuân Sán dịch nghĩa, chú thích. Nxb Văn học 2105.

1. Theo vi.wikipedia

2. https://www.dkn.tv/van-hoa/ham-hai-nhac-phi-tuong-quy-cua-vo-chong-tan-coi-duc-di-duc-lai-13-lan-nghin-nam-khong-duoc-dung-day.html

3. Nguồn: Vanhoanghean. Nguyễn Du viết về Nhạc Phi.

4. Nguồn: thivien.net - Bản dịch của Phan Lang.

5. Viện hàn lâm KHXH.VN, Viện văn học. Di sản văn chương đại thi hào Nguyễn Du: 250 năm nhìn lại. NXB Khoa học xã hội, 2015 (Một giả thiết khác về hành trình đi sứ của Nguyễn Du năm 1813 - 1814. tr.283 - 290 )

6. Hêghen. Mỹ học. Phan Ngọc giới thiệu và dịch. Tập 2. Nxb Văn học HN 1999,  tr.209

7. Như trên, tr.156

8. Như trên, tr.187

9. Như trên, tr.203

10. Roger Scruton. Dẫn luận về cái đẹp. Thái An dịch. Nxb Hồng Đức, HN 2016, tr. 249 

11. Như trên, tr. 272

12, 13. Lê Thu Yến, Nguyễn Du và những nhân vật lịch sử Trung Quốc (Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Những lằn ranh văn học. ĐH Sư phạm TP.HCM xuất bản, 2011, tr.501 )

14. Hêghen. Mỹ học.  Sđd (Chương II: Điêu khắc, từ tr.134-tr.234).

 

     


 

Ý kiến bạn đọc
16 Tháng Năm 20196:05 CH
Khách
Thơ của Nguyễn Du đã hay, cái tình và tài trong luận bàn của ông càng sâu xa và cao rộng. Cám ơn bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn đã cho người đọc được thưởng thêm về một góc khuất nữa của người anh hùng dân tộc trước bi kịch của một anh hùng dân tộc khác; . Một bài luận thêm về thơ của Đại thi hào Nguyễn Du thật công phu, sâu sắc
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 871)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 716)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2967)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15603)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16030)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 868)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2966)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 714)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4999)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6872)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6160)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2745)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2230)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2057)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2214)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2258)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29224)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35562)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10518)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12419)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3045)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3851)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7551)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6915)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9439)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.