- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KHUẤT NGUYÊN TRONG TRÁI TIM NGUYỄN DU. BÀI III : BẠN ĐỒNG TÂM XƯA NAY ĐƯỢC MẤY NGƯỜI ?

17 Tháng Tư 20197:44 CH(Xem: 42549)
    
Hồ Nam - INTERNET
Hồ Nam - ảnh Internet

 


 Tám bài thơ viết về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên mà chúng tôi đã/ sẽ khảo sát đều được đại thi hào Nguyễn Du viết khi chu du trên sóng nước Tiêu Tương, vùng Hồ Nam - nơi nổi tiếng với “Tiêu Tương bát cảnh” từng thu hút cảm hứng vô hạn của bao thế hệ văn nhân, nghệ sĩ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… Đặc biệt là thơ đi sứ của Việt Nam, theo thống kê của một nhà nghiên cứu Trung Quốc, trong toàn bộ tác phẩm của 53 sứ giả Việt Nam từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, thơ có nội dung viết về Hồ Nam, Tiêu Tương có tới hơn 700 bài!(1) Một nhà nghiên cứu Trung Quốc khác sau khi thống kê sáng tác của Nguyễn Du trong Bắc hành tạp lục (có 132 bài, từ bài số 24 Thương Ngô tức sự đến bài số 64 Nhạc Dương lâu, hơn 40 bài thơ này đều viết ở đoạn hành trình Hồ Nam - Tiêu Tương, tỷ lệ chiếm một phần tư cả tập), đã so sánh với mảng thơ cảm hoài của các sứ thần Việt nam, rồi đi tới nhận định: “Các danh nhân lịch sử thường được các sứ thần Việt Nam đề cập như Khuất nguyên, Giả Nghị, Liễu Tông Nguyên, Chu Đôn Di,… trong đó những bài thơ viết về Khuất Nguyên, Giả Nghị chiếm tới bảy tám mươi phần trăm…Thông qua những bài thơ này, chúng ta không chỉ thấy sự am hiểu của sứ thần Việt Nam đối với kinh điển, điển cố Trung Quốc, đó còn là sự kết hợp tuyệt vời giữa tài học và tình cảm cao thượng được tu dưỡng trong bản thân các sứ thần Việt Nam. Nói về thơ vịnh danh nhân, không thể không kể tới những bài thơ viết theo thể thất luật của Nguyễn Du, như Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu, Trường Sa giả Thái phó, Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch, những bài thơ này thảy đều viết hết sức cảm động.”(2)

Chúng ta tiếp tục tìm hiểu về mảng thơ viết về Hồ Nam - Tiêu Tương của Nguyễn Du có liên quan tới Khuất nguyên.

5. Biện Giả

Bất thiệp Hồ Nam đạo,

An tri Tương Thuỷ thâm?

Bất độc Hoài sa phú

An thức Khuất Nguyên tâm?

Khuất Nguyên tâm, Tương giang thuỷ,

Thiên thu vạn thu thanh kiến để.

Cổ kim an đắc đồng tâm nhân,

Giả sinh nhất phú đồ vi nhĩ.

Liệt nữ tòng lai bất nhị phu,

Hà đắc thê thê “tướng cửu châu”.

Vị tất cổ nhân tri hữu ngã,

Nhãn trung Tương Thuỷ, không du du!

辯賈 

不涉湖南道,

安知湘水深。

不讀懷沙賦,

安識屈原心。

屈原心湘江水,

千秋萬秋清見底。

古今安得同心人,

賈生一賦徒為耳。

烈女從來不二夫,

何得栖栖相九州。

未必古人知有我,

眼中湘水空悠悠。

Dịch nghĩa:

Không đi qua Hồ Nam, Sao biết sông Tương sâu. Không đọc phú Hoài sa, Sao hiểu lòng Khuất Nguyên. Lòng Khuất Nguyên, nước sông Tương, Nghìn thu vạn thu trong suốt thấy đáy. Xưa nay mấy ai có được bạn đồng tâm. Bài phú của thư sinh họ Giả chẳng có nghĩa lý gì, Liệt nữ xưa nay không lấy hai chồng, Cần gì phải tất tả đi khắp chín châu tìm vua khác. Chưa chắc người xưa biết có ta, Trước mắt dòng sông Tương lững lờ trôi mãi…

Bản dịch thơ của Mai Quốc Liên:

BÁC GIẢ NGHỊ

Chẳng qua đất Hồ Nam

Sao biết sông Tương sâu?

Chẳng đọc phú Hoài Sa.

Sao biết Khuất Nguyên đau.

Lòng Khuất Nguyên, nước sông Tương

Ngàn năm vạn năm trong thấy đáy.

Đồng tâm xưa nay được mấy ai,

Bài phú Giả sinh vô nghĩa lý

Liệt nữ xưa nay lấy một chồng

Sao lại tìm vua trong chín cõi?

Chắc gì người xưa biết có ta.

Trước mắt dòng Tương dằng dặc mãi.

              Vương Trọng dịch thơ:

Đất Hồ Nam chưa qua

Tương Thuỷ sâu sao biết?

Chưa đọc phú Hoài sa

Lòng Khuất Nguyên cách biệt.

Lòng Khuất Nguyên, nước Tương Giang

Trong veo thấu đáy hàng ngàn vạn năm

Cổ kim hiếm bạn đồng tâm

Những lời Giả Nghị chỉ nhàm đôi tai

Một chồng, liệt nữ xưa nay

Khuất Nguyên sao có thể thay vua thờ?

Sông Tương trước mặt lững lờ

Người xưa chắc cũng không ngờ có ta.

Giả Nghị (200-168 TCN) người Lạc Dương (nay thuộc Hà Nam) là một nhà từ phú và chính luận nổi tiếng thời Tây Hán. Ngoài hai mươi tuổi làm quan cố vấn cho nhà vua, không đầy một năm, thăng lên làm Thái Trung Đại Phu (đảm nhiệm chức quan nghị luận, ngự sử), nhiều lần dâng vua nghị luận chính trị đương thời, đề xuất chủ trương cải cách, nhưng bị các đại thần bài xích, ông bị biếm đẩy ra khỏi triều đình làm Thái Phó Trường Sa. Bất đắc chí chết năm 33 tuổi. Khi đi qua sông Tương, ông làm bài phú Viếng Khuất Nguyên, đồng thời than thở cảnh ngộ mình. Tư Mã thiên đã chép về Giả Nghị chung một thiên với Khuất Nguyên trong Sử ký.

Nguyễn Du viết: Không đi qua Hồ Nam, Sao biết sông Tương sâu? Không đọc phú Hoài sa, Sao hiểu lòng Khuất Nguyên? (phú Hoài sa là tên một thiên trong Cửu Chương gồm : Quất tụng, Tích tụng, Trừu tư, Tư mỹ nhân, Bi hồi phong, Thiệp giang, Ai Sính, Hoài sa, Tích vãng nhật). Trong Hoài Sa phú Khuất Nguyên nói lên nỗi lòng bi phẫn của mình sinh không gặp thời, ví mình như ngọc tốt mà không có kẻ dùng, chỉ cái chết mới có thể kết thúc được nỗi đau vô hạn. Sử Ký kể: Hoài Sa được viết sau khi trò chuyện lần cuối với ông lão đánh cá trong tưởng tượng (Ngư phủ từ), như một “tuyệt mệnh từ”, trước khi ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La.

Nguyễn Du cho rằng không ai hiểu Khuất Nguyên bằng mình, kể cả Giả Nghị, và cần đọc Hoài Sa phú để có thể cảm nhận được tấm lòng Khuất Nguyên như một bạn đồng tâm hiếm có xưa nay, như ông: Khuất Nguyên tâm, Tương giang thuỷ, Thiên thu vạn thu thanh kiến để. Cổ kim an đắc đồng tâm nhân- Lòng Khuất Nguyên, nước sông Tương, Nghìn thu vạn thu vẫn trong suốt thấy đáy, Xưa nay mấy ai có được bạn đồng tâm.

Chúng ta hãy thử đọc “tuyệt mệnh từ” Hoài sa phú để hiểu nỗi lòng Khuất Nguyên như Nguyễn Du đề nghị.(3)

Hãy trở lại những lời thơ ngắn gọn mà trang trọng như nỗi niềm thổn thức của Nguyễn Du trước dòng sông Tương trong suốt tưởng nhớ Khuất Nguyên. Sau khi nói về cái lẽ đời chẳng mấy ai có được bạn đồng tâm tương khí, Nguyễn Du bắt đầu nói về bài phú của người dù yêu quý trân trọng Khuất Nguyên, dù đã ném bài viếng xuống sông Tương như mấy tiền nhân đã làm để tìm sự đồng cảm, song đã không hiểu thấu tấc lòng của Khuất Nguyên bằng câu viếng: Lịch cửu châu nhi tướng kỳ quân hề, hà tất hà thử đô dã (Trải chín châu mà tìm vua, hà tất ôm lấy cố đô ấy mà nhớ mong), có hàm ý chê Khuất Nguyên ngu trung, cổ hủ. Nguyễn Du đã bác lại luận điểm mà theo ông chẳng có nghĩa lý gì (đồ vi nhĩ) của người thư sinh họ Giả: Liệt nữ tòng lai bất nhị phu, Hà đắc thê thê “tướng cửu châu”. Liệt nữ xưa nay không lấy hai chồng. Cần gì phải tất tả đi khắp chín châu tìm vua khác. Khi viết Phản Chiêu hồn, Biện Giả Nghị, Nguyễn Du rõ ràng đã thấy rằng: Tống Ngọc và Giả Nghị tuy đều là những nhân sĩ có lòng thương tình trọng tài của Khuất Nguyên một cách chân thành, song đã không thấu hiểu tấc lòng cùng ý chí cao vời của ông. Nguyễn Du phản đối Giả Nghị chê Khuất Nguyên không biết đi khắp chín châu mà tìm vua khác, trong khi đó lại kêu gọi Hồn đừng trở về nơi có vua ấy ngự, tưởng đâu có sự mâu thuẫn; song thực ra, điều gan ruột mà Nguyễn Du muốn bộc bạch là: nếu có đi tìm vua khác, hay tìm chốn dung thân, thì cần tìm về chốn thái hư (Tảo liễm tinh thần phản thái cực- Phản chiêu hồn) - nơi trong sạch, nguyên sơ có thể sản sinh nuôi dưỡng những vị vua biết quý trọng hiền tài… Hơn nữa, chúng ta cần nhớ, Nguyễn Du cũng từng chê trách sự thiếu sáng suốt của Phạm Tăng- người chỉ biết giữ lòng trung với nước Sở mà không chịu hiểu “mệnh trời” đã thuộc về nhà Hán: Bao nhiêu kẻ hết lòng trung với người mình thờ, Thường bị thiên hạ cười là ngu (Đa thiểu nhất tâm trung sở sự, Mỗi vi thiên hạ tiếu kỳ ngu. Á phủ mộ). Và cũng chính Giả Nghị đã cho rằng mình lầm, chưa hiểu nổi Khuất Nguyên; theo Sử ký: “Thái sử công nói: tôi đọc Ly tao, Thiên vấn, Chiêu hồn, Ai Sính thương cho chí ông. Tôi sang Trường Sa xem quãng sông Khuất Nguyên trẫm mình, không lần nào không khóc. Khi thấy Giả Sinh viếng ông, tôi lấy làm lạ về chỗ tài giỏi như Khuất Nguyên nếu đi sang chư hầu thì nước nào mà chẳng dùng, tại sao làm khổ mình như thế? Đến khi đọc bài phú Phục điểu thấy nói đến việc coi sống chết như nhau, coi thường việc đi hay ở, bấy giờ lòng luống bâng khuâng tự biết là lầm!” (4) (Bài Phục điểu phú - phú con cú, Giả Nghị viết: “Sống như trôi chừ, chết kia như nghỉ”- ý nói Khuất Nguyên là một người không phải như hạng Tô Tần lo mưu lợi cho mình mà là người yêu nước cho nên coi thường sự sống chết”). Không phải ngẫu nhiên mà Tư Mã Thiên đã chép Khuất Nguyên và Giả Nghị vào chung một thiên trong Sử ký.

Từ những suy tư về chính sự đó, Nguyễn đi vào hai câu kết: Vị tất cổ nhân tri hữu ngã, Nhãn trung Tương Thuỷ, không du du! Chưa chắc người xưa biết có ta, Trước mắt sông Tương lững lờ trôi mãi.

Người xưa biết hay không biết đến ta, đâu có phải là điều đáng bận tâm, điều quan trọng là ta đã hiểu nỗi niềm người mà ta kính phục, thế là đủ; và dòng sông ngàn đời vẫn cứ lững lờ trôi theo quy luật, bất chấp mọi thị phi, hiểu lầm, sỉ nhục, sự sủng ái hay thất sủng, để lưu dấu trong đáy lòng sông hình bóng một Con người mà thế gian muôn đời thương xót, quý trọng, cảm phục.

Nếu ở bài thơ Biện Giả Nghị, Nguyễn Du có ý chê trách chàng thư sinh đời Hán không hiểu Khuất Nguyên, thì ở bài thơ sau đây, ông lại có thái độ khác hẳn đối với người được chép chung một thiên với Khuất Nguyên trong Sử ký, điều đó có lý do xác đáng mà ông sẽ diễn giải chân tình:

6. Trường Sa Giả thái phó

Giáng Quán võ nhân hà sở tri,

Hiếu Văn đạm bạc đạn canh vi.

Lập đàn bất triển bình sinh học,

Sự chức hà phương chí tử bi.

Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ,

Nhật tà dị vật hữu lai thì.

Tương Đàm chỉ xích tương lân cận,

Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi.

長沙賈太傅 

絳灌武人何所知,

孝文澹泊憚更為。

立談不展平生學,

事職何妨至死悲。

天降奇才無用處,

日斜異物有來時。

湘潭咫尺相鄰近,

千古相逢兩不違。

Dịch nghĩa:

GIẢ THÁI PHÓ Ở TRƯỜNG SA

Giáng Hầu, Quán Anh là những kẻ võ biền có biết gì. Vua Hiếu Văn không tha thiết gì cả nên sợ thay đổi. Đứng mà bàn luận suông không thể bày tỏ cái học một đời mình. Làm hết chức phận, còn ngại gì mà đến nỗi phải chịu chết đau thương. Trời ban cho tài lạ mà không có chỗ dùng. Trong bóng chiều tà có lúc chim lạ đến. Tương Đàm với đây gần nhau chỉ trong gang tấc. (Sống cách nhau) nghìn năm, gặp nhau, cả hai bên không có gì trái nhau.

                   Vương Trọng dịch thơ:

Biết gì Quán, Ánh võ biền

Hiếu Văn sợ mới, chỉ quen duy trì

Giúp vua chẳng được mấy khi

Không tròn phận sự, chết đi tỏ lòng

Kỳ tài không có chỗ dùng

Điềm hung, chim lạ báo ông chiều tà

Tương Đàm gần với Mịch La

Ngàn năm ý hợp hai nhà gặp nhau.

Đất Hồ Nam chưa qua

Tương Thuỷ sâu sao biết?

Chưa đọc phú Hoài sa

Lòng Khuất Nguyên cách biệt.

Lòng Khuất Nguyên, nước Tương Giang

Trong veo thấu đáy hàng ngàn vạn năm

Cổ kim hiếm bạn đồng tâm

Những lời Giả Nghị chỉ nhàm đôi tai

Một chồng, liệt nữ xưa nay

Khuất Nguyên sao có thể thay vua thờ?

Sông Tương trước mặt lững lờ

Người xưa chắc cũng không ngờ có ta.

Giả Nghị là bậc hiền tài, muốn cải cách nhưng gặp bọn võ tướng nắm giữ triều chính chẳng biết gì, nhà vua Hiếu Văn, tính cũng ngại mọi sự đổi thay nên Giả Nghị bị đày ra làm Thái Phó Trường Sa. Được ba năm thì chết vì bất đắc chí, tài không có chỗ dùng. Giả Nghị với Khuất Nguyên: hai người ở cách nhau ngàn năm, nhưng Tương Đàm và Trường Sa cách nhau không xa. Hai người cùng gặp gỡ nhau chỗ này, người thì ôm đá trẫm mình, người thì làm thơ viếng thả xuống sông, phải có mối đồng cảm ở mức độ sâu xa.

Nguyễn Du đưa ra những nhân vật lịch sử mà ông đánh giá trực tiếp về tài năng, nhân cách để đối lập với Giả Nghị: Giáng Hầu (tước Chu Bột) và Quán Anh đều là võ tướng, có công khai quốc nhà Hán được Hán Văn Đế trọng dụng, nhưng thực chất chỉ là bọn võ biền. Vua Hiếu Văn tức Hán Văn Đế tính đạm bạc chẳng thiết tha gì nên ngại mọi sự thay đổi. Sau đó, ông luận bàn về cách hành xử của Giả Nghị, có ý tiếc cho người tài năng, tâm huyết mà không thức thời, thiếu tỉnh táo: Đứng mà luận bàn thì không thể bày tỏ hết cái học một đời mình. Làm hết chức phận, còn ngại gì mà đến nỗi phải nhận cái chết đau thương. (Đương thời có câu thơ khen Giả Nghị: Cố nhân sự nhất chức, khởi cám cấu nhiêu vi, nghĩa là người xưa giữ chức vụ gì không dám làm cẩu thả; đồng thời cũng nói tới chuyện Giả Nghị coi cái chết của Lương Hoài vương do ngã ngựa là bởi mình không làm tròn trách nhiệm, nên đau buồn mà mất năm mới 33 tuổi.) Nhưng sau khi có hàm ý trách nhẹ như thế, Nguyễn Du liền bày tỏ mối đồng cảm sâu sắc với người Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ. Bởi chính ông trong nhiều năm ròng cũng là người ôm nỗi niềm tương tự: Trời ban cho tài lạ mà không có chỗ dùng, Đeo đẳng thông minh để thiệt đời (Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân-Tự thán II), Văn chương bình sinh như chim phượng trong lồng nát (Sinh bình văn thái tàn lung phượng- Tống Nguyễn Sĩ Hữu Nam quy). Giữa cảnh hoàng hôn cô quạnh trên sông Tương, Nguyễn Du tưởng tượng ra cảnh một con chim lạ đến đậu bên chỗ Giả Nghị ngồi khiến ông rất lo lắng, cho là điềm gở: Trong bóng chiều tà có lúc chim lạ đến. Và chi tiết này tựa một ký ức lóe sáng giúp Nguyễn Du chợt nhận thấy oan hồn Khuất Nguyên quanh quất đâu đây, giữa mối “liên tài liên tình” giữa những con người xa cách trong thời gian song lại xiết bao gần gũi trong không gian: Tương Đàm với đây gần nhau chỉ trong gang tấc. (Sống cách nhau) nghìn năm, gặp nhau, hai bên không có gì trái ngược nhau, chung một nỗi chua cay! Viết về Giả Nghị cũng là thêm một cơ hội để Nguyễn Du tưởng nhớ tới con người mà ông xót thương, ngưỡng mộ vô hạn.

7. Ngũ nguyệt quan cạnh độ

Hoài Vương qui táng, Trương Nghi tử,

Sở quốc từ nhân ký bội lan.

Thiên cổ chiêu hồn chung bất phản,

Mãn giang tranh cạnh thái vô đoan.

Yên ba diểu diểu không bi oán,

La cổ niên niên tự tiếu hoan.

Hồn nhược quy lai dã vô thác,

Long xà quỷ vực biến nhân gian.

五月觀競渡 

懷王歸葬張儀死,

楚國詞人記佩蘭。

天古招魂終不返,

滿江爭競太無端。

煙波渺渺空悲怨,

羅鼓年年自笑歡。

魂若歸來也無托,

龍蛇鬼蜮遍人間。

Dịch nghĩa:

THÁNG NĂM XEM ĐUA THUYỀN

Hài cốt của Hoài Vương được đưa về chôn (ở nước Sở), Trương Nghi đã chết. Nhớ người thơ nước Sở đeo hoa lan. Nghìn thuở gọi hồn nhưng cuối cùng hồn chẳng về. Đầy sông đua tranh thuyền, thật chẳng có nghĩa lý gì. Trong khói sóng mênh mông, (lòng ta luống) những đau thương và oán giận. Hàng năm chiêng trống chỉ để vui chơi nô đùa. Hồn ví có về thì cũng không có nơi chốn nương tựa. Rắn rồng quỉ quái ở khắp nhân gian.

Bùi Kỷ- Phan Võ- Nguyễn Khắc Hanh dịch thơ:

Hoài vương qui táng, Trương Nghi chết,

Nước Sở còn ghi khách bội lan.

Nghìn thuở gọi hồn nào có thấy?

Đầy sông đua chải thật thêm nhàm!

Nước mây nhiều lúc sầu thương hão,

Chiêng trống hàng năm hát múa tràn.

Nếu thật hồn về không chỗ ở,

Rắn rồng quỷ quái khắp nhân gian.

Vương Trọng dịch thơ:

Hoài Vương táng, Trương Nghi tiêu

Lòng dân nước Sở nhớ nhiều Khuất Nguyên

Ngàn xưa, phí hội đua thuyền

Gọi hồn, hồn chẳng chịu lên lần nào

Mịt mù khói sóng nhìn đau

Hàng năm chiêng trống gọi nhau tưng bừng

Giá hồn về được, cũng đừng

Rắn, rồng, quỷ quái khắp vùng nhân gian

Theo ông Phạm Trọng Chánh, Nguyễn Du viết bài Ngũ Nguyệt Quan Cạnh Độ khi đi giang hồ năm 1789, ngày mùng 5 tháng 5 Ất Dậu. Trên khắp sông Tương ngày này có tổ chức đua thuyền, và ném bánh lá tro xuống sông tưởng nhớ Khuất Nguyên. Khi đi sứ, Nguyễn Du đi qua nước Sở từ 18-7 đến 30 tháng 7 năm  Quí Dậu (1813). Ngày mùng 5 tháng 5, Nguyễn Du còn ở thành phủ Ngô Châu. Đợt về thì ngày 29-3 năm Bính Tuất, Nguyễn Du đến Trấn Nam Quan, do đó không thể dự tết Đoan Ngọ tại sông Tương.(5) Chúng tôi tán thành luận điểm này.

Câu đầu là một dòng thơ mang tính chất sử ký cô đúc lịch sử: Hoài Vương vua nước Sở không nghe lời can của Khuất Nguyên cứ đi hội với vua Tần, bị Tần bắt giữ lại, sau khi chết mới được đưa về nước Sở chôn. Trương Nghi  là nhân vật thuyết khách chủ trương thuyết  “liên hoành” liên kết sáu nước Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Ngụy để phò Tần chống thuyết “hợp tung” sáu nước hợp thành một để đánh Tần của Tô Tần. Trương Nghi từng làm tướng quốc nhiều nước, từng sang Sở mua chuộc các đại thần và Trịnh Tụ, vợ yêu của Sở Hoài Vương, dèm Khuất Nguyên để Khuất Nguyên bị đi đày và hắn ta làm tướng quốc. Sau bị lộ mưu, chạy về Tần rồi sang Ngụy, chết ở Ngụy.

Câu hai trực tiếp nói về Khuất Nguyên: Sở quốc từ nhân ký bội lan, nhớ người đeo hoa lan nước Sở, gợi đến Ly tao có câu: Xâu kết hoa lan để đeo vào người (Nhận thu lan dĩ vi bội), một câu thơ mà khái quát lên toàn bộ nhân cách cao quý của một con người hương thơm lưu truyền mãi từ ngàn xưa tới nay. Nhưng Thiên cổ chiêu hồn chung bất phản, cũng trong nghìn thuở ấy, nỗi oan của Hồn lớn đến nỗi biết bao người viếng hồn, gọi hồn, nhưng hồn chẳng thể về, nỗi buồn nặng trĩu cả câu thơ! Hồn chẳng về bởi nhiều lý do, trong đó có cảnh tượng bày vẽ hình thức: Đầy sông đua tranh thuyền, thật chẳng có nghĩa lý gì. (Mãn giang tranh cạnh thái vô đoan). Chính vì thế mà Yên ba diểu diểu không bi oán - Trong khói sóng mênh mông, lòng ta xiết bao đau thương và oán giận, có cả nỗi bi oán của Khuất Nguyên khi đương thời không hiểu ông và đến ngàn năm sau vẫn chưa hiểu nổi, thế nhưng, bao thế kỷ qua, hàng năm chiêng trống vẫn diễn ra chỉ để vui chơi nô đùa phù phiếm, (La cổ niên niên tự tiếu hoan). Hai câu thơ trong liên 2 và 3 (thực và luận) như đay lại cùng một ý: sự vui chơi vô tâm chẳng có nghĩa lý gì hết trong ngày 5 tháng 5, thực ra để chuẩn bị cho hai câu kết nặng nề phản ánh tâm trạng nhà thơ lúc ấy, cái tâm trạng sẽ được diễn tả một cách bi phẫn trong Phản chiêu hồn về sau này. Trước cảnh tượng đám đông hồ hởi say sưa trong lễ hội truyền thống kỷ niệm Khuất Nguyên, nhớ lại những lời thơ Chiêu hồn của Tống Ngọc, thi hào Nguyễn Du bất giác thốt lên lời gọi Hồn oan nước Sở: đừng có về nữa Hồn ơi, dù hồn muốn về, bởi nếu có về thì đâu có nơi nương tựa, khắp trần gian này chỉ rặt có quỷ quái rắn rồng độc ác ăn thịt người! Hai câu kết điệp với câu bốn của bài Ngũ nguyệt quan cạnh độ càng làm nổi bật sự xót thương niềm kính trọng vô hạn của tác giả đối với Khuất Nguyên: Thiên cổ chiêu hồn chung bất phản, Nghìn thuở gọi hồn nhưng cuối cùng hồn chẳng về!

Bài thơ này nếu so sánh, chồng văn bản với các bài thơ đã khảo sát sẽ thấy sự trở lại về chủ đề, tiếp tục mạch suy tưởng sâu nặng, nguồn thi hứng dạt dào của Nguyễn Du đối với nhân vật lịch sử Khuất Nguyên.

Để hiểu thêm bài thơ này, có lẽ nên tham khảo đoạn văn của tác giả Vương Dật thế kỷ II: “Nhân dân ở đấy (quanh sông Tương) tin vào thần linh và sùng kính chúng. Trong thời gian cầu nguyện thì phải hát và biểu diễn, đánh trống và múa nhảy để cầu các thần linh về. Khuất Nguyên trong những ngày lưu lạc của mình đã tìm thấy chốn nương thân ở vùng ấy. Nỗi buồn chất đầy ngực, nỗi đau thiêu đốt trong tim, nhà thơ tràn đầy những suy nghĩ u uất. Để khuây khỏa, ông đi ra xem người dân bình thường múa hát vui vẻ như thế nào, uốn nắn họ trong nghi thức hành lễ. Ngôn từ của họ rất mộc mạc, vụng về, và vì vậy ông đã viết ra Cửu ca.”(6) Rõ ràng là dòng sông Tương gắn với những ngày tháng cuối đời Khuất Nguyên khi ông bị đi đày và viết chùm Cửu ca, sau đó chúng đã trở thành những ca khúc dân gian Nhạc phủ trong các chương trình biểu diễn dân gian kéo dài ít nhất đến thời Nguyễn Du được chứng kiến và làm ra bài thơ ta vừa tìm hiểu.

Các chương trình biểu diễn dân gian đó đã biểu hiện sức sống ngàn đời của người dân lao động, trong đó đặc biệt nhất là mang đậm dấu ấn của Khuất Nguyên ở khắp vùng Thương Ngô - Hồ Nam mà Nguyễn Du viết tới 15 bài từ, đây là bài thứ 11:

8. Thương Ngô Trúc chi ca – kỳ 11

Thập chích long châu nhất tự trần,

Xao la qua cổ điếu Linh quân.

Hoàng hoa khuê nữ tham hành lạc,

Khiêu xuất thuyền đầu bất tị nhân.

蒼梧竹枝歌 其十一 

十隻龍舟一字陳,

敲鑼撾鼓弔靈均。

黃花閨女貪行樂,

跳出船頭不避人。

Dịch nghĩa

CA ĐIỆU TRÚC CHI KHI QUA ĐẤT THƯƠNG NGÔ (bài thứ 11)

Mười chiếc thuyền rồng bày hàng chữ nhất. Khua thanh la, đánh trống viếng Linh quân (Khuất Nguyên). Cô gái cài hoa cúc mải xem cuộc vui. Nhảy ra đầu thuyền không tránh người lên xuống…

             Vương Trọng dịch thơ:

Thẳng hàng mười chiếc thuyền rồng

Viếng Linh Quân, tiếng trống cồng vang vang

Mái đầu cài đoá hoa vàng

Mải vui, cô gái chen ngang trước thuyền.

Bài thơ này nằm trong loạt 15 bài cùng tên, viết theo điệu Trúc chi - điệu từ chuyên viết để ca ngợi phong thổ của một địa phương nào đó. Thương Ngô là đất thuộc tỉnh Hồ Nam ngày nay, xưa kia nằm trong bản đồ nước Sở. Nguyễn Du có nhiều bài viết về đất Thương Ngô, như Thương Ngô tức sự, Thương Ngô Mộ vũ, Sở vọng… Cũng theo ông Phạm Trọng Chánh, Nguyễn Du viết chùm thơ này lúc đi giang hồ 1787-1790, có nói đến đua thuyền nhân ngày tết Đoan Ngọ trên sông Tương.(7) (Bài Ngũ nguyệt quan cạnh độ- Tháng năm xem đua thuyền được xếp tiếp liền sau chùm bài này). Lễ hội đua thuyền này được phổ biến rất nhiều vùng Nam Trung Quốc kể cả Đông Nam Á,  nơi có người  gốc  Nam Trung Quốc, nước Sở cũ trú ngụ.

Trong cả chùm 15 bài này, Nguyễn Du miêu tả rất nhiều các cuộc đua thuyền, dạo chơi bằng thuyền, và bày tỏ tình yêu với cảnh sắc, con người Thương Ngô, cho dù nơi đó còn có những tệ nạn, bất công xã hội mà ông châm biếm khá sâu cay. Và trước cảnh đua thuyền trong ngày 5-5, ở bài ca điệu Trúc Chi thứ 11, Nguyễn Du đã không hề có cái cảm giác u uất nặng nề như bài Tháng năm xem đua thuyền - dù trong bài có nhắc tới Khuất Nguyên. Vào ngày này, người ta dùng xương ngãi có vị thuốc rất nồng làm thành hình nhân, hình hổ treo ở trong nhà ngoài sân làm bùa chú đánh dẹp bọn quỷ quái; có người đem xương ngãi treo trên cửa gọi là Kiếm ngãi chém bọn yêu ma trong nhân gian; nhiều nhà đổ đầy gạo nếp vào ống tre, thả xuống sông Mịch la để mong Khuất Nguyên không bị đói. Theo quan niệm: giao long sợ cây chít và màu ngũ sắc, nên không ít nhà đã dùng lá chít gói bánh, dùng chỉ ngũ sắc buộc xung quanh ném xuống sông tế cúng Khuất Nguyên. Còn trên sông Tương, dân chài ở các nơi ở phương Nam đều cử từng đội thuyền tới đây để đua thuyền rồng. Nguyễn Du đã miêu tả chân thực, như một ký sự về cuộc đua thuyền: Mười chiếc thuyền rồng bày hàng chữ nhất. Khua thanh la, đánh trống viếng Linh quân. Linh Quân là cách gọi sùng kính tôn trọng của nhân dân sau khi ông ôm đá trầm mình trên sông Mịch La- một con sông nhỏ chảy vào sông Tương. Hai chữ Linh quân vô tình tạo ra cái hồn thiêng liêng bao trùm cả cuộc vui. Nguyễn Du rất tinh tế và như giấu nụ cười hóm hỉnh khi tả: Cô gái cài hoa cúc mải xem cuộc vui. Nhảy ra đầu thuyền không tránh người lên xuống… Nguyễn Du như hòa cả tâm hồn mình vào sự náo nhiệt tưng bừng của cuộc đua thuyền truyền thống tưởng nhớ Khuất Nguyên, và để bằng cách đó thêm một lần nữa đến với “người đồng tâm” vĩ đại của mình…

***

Trong khi trải nghiệm trên sóng nước của vùng “Tiêu Tương bát cảnh”, đại thi hào của chúng ta đã viết hơn chục bài thơ nhưng hầu như không có một dòng thơ nào ngâm vịnh những cảnh đẹp nổi tiếng của chúng; thiên nhiên tuyệt mỹ như chỉ càng giúp ông thấm thía hơn cái bi kịch đau buồn của Khuất Nguyên dường còn ẩn hiện giữa khói sóng từ suốt hai ngàn năm qua. Và viết về vùng Hồ Nam, ấn tượng sâu đậm nhất trong tâm hồn Nguyễn Du chỉ là cảnh tang thương khốn khổ của người dân lành gây ra bởi biết bao kẻ Không để lộ nanh vuốt nọc độc, Mà cắn xé thịt người ngọt xớt như đường (Bất lộ trảo nha dữ giác độc, Giảo tước nhân nhục cam như di) khiến ông phải thốt lên tiếng than: Không thấy sao mấy trăm châu ở Hồ Nam, Chỉ có người gầy gò, không ai béo tốt! (Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu, Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì. Phản chiêu hồn), và ông đã không chỉ một lần chảy máu mắt trước cảnh dân lành trong nước cũng như ở nước bạn chết lăn nơi ngòi rãnh, Máu thịt nuôi béo lũ sói lang (Nhãn hạ ủy câu hác, Huyết nhục tự sài lang. Sở kiến hành).

Viết về Khuất Nguyên với tất cả sự đồng cảm sâu sắc của một “đồng tâm nhân” cùng sự đánh giá xác đáng của một người cầm bút “quán thông kim cổ”, Nguyễn Du đã vô tình bộc lộ bản lĩnh tâm hồn lẫn bản lĩnh văn chương có thể sánh ngang với văn hào Trung Hoa cổ đại. Tám bài thơ trên quả là đã mang những phẩm chất cao quý để văn chương Nguyễn Du đạt tới độ Nghìn thuở nơi chín suối vẫn có mùi hương (Thiên cổ trùng tuyền thượng hữu hương. Âu Dương Văn Trung Công mộ).

_______________________

1,2. Zhan Zhihe. Thơ đi sứ chữ Hán của Việt Nam trong mối quan hệ với văn hóa Hồ Nam. Nguyễn Đình Phức dịch (Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa Nguyễn Du. Nxb ĐHQG, TPHCM, 2015, tr.133, 134)

3. Phú Hoài Sa: Tiết đầu hè nóng bừng, cây cỏ tươi tốt xanh  mượt. Lòng cứ tưởng nhớ thương xót mãi. Rảo bước nhanh về phương Nam, trông vời mù mịt, bốn bề lặng im phăng phắc. Uất ức rồi đau, chỉ thấy lòng sầu khổ mà khốn hoài. Suy tình xét chí. Oan khuất mà tự dằn lòng. Chỉ vì mình ngay thẳng không thể  đẻo vuông  ra tròn, biết sự phải lòng không thể thay đổi.  Đổi đầu bỏ gốc, người quân tử lấy làm hổ thẹn. Vạch rõ đúng mực, ý trước sau cũng không đổi. Tính tình trong dày thẳng thắng, bậc đại nhân ưa thích. Lòng như gỗ thẳng, thợ khéo không cần đẽo, ai xét được là thẳng cong. Màu sắc không thể nhìn thấy trong bóng tối. Người mù bảo rằng không đẹp, lim rim đôi mắt. Kẻ loà bảo rằng mắt anh ta không sáng. Không thể lấy trắng làm đen, lấy trên làm dưới. Phượng hoàng bị nhốt trong lồng, để gà vịt múa may. Ngọc lẫn với đá, không thể cùng sánh nhau. Nghĩ người bè đảng, chật hẹp ngoan cố, chẳng biết lòng ta như thế nào ?. Lòng như gánh nặng chở nhiều nên sa lầy không qua được. Mang ngọc cẩn, cầm ngọc du không biết giơ lên để ra hiệu lệnh cho ai. Chó trong ấp sủa cả bầy, vì con này sủa con khác cũng sủa.  Sủa vì thấy quái dị. Chê tuấn ngờ kiệt vốn là thói của kẻ hèn. Văn thì sơ mà chất thì chắc, chúng chẳng biết tài vẻ lạ của ta. Tài năng bỏ xó vì chúng không biết ta có gì. Ta trọng nhân theo nghĩa, lấy cẩn thận trọng hậu làm sự giàu có. Ta chẳng gặp được minh quân như vua Thuấn, ai biết được ta ung dung đúng đắn. Thánh hiền xưa nay vốn chẳng sánh cùng nhau. Há biết là vì cớ gì. Vua Thang, vua Vũ đã xa từ lâu. Xa xôi rồi không  ai mến biết tài ta, nên ta nuốt tủi nhịn hờn, tự gắng dằn lòng. Gặp đau khổ chẳng thay đổi. Nguyện ý chí làm mẫu mực. Đường tiến về Bắc, ngày xâm xẩm tối rồi, khuây buồn thương nguôi. Đời có hạn ở  cái chết. Nhìn mênh mông sông Nguyên Tương, cuồn cuộn sóng dồi, khúc cuối sông chia hai nhánh chảy vào Động Đình Hồ. Đường dài tối tăm, nẻo xa mù tít mù. Mang tâm sự một mình, cô đơn chẳng thổ lộ cùng ai. Bá Nhạc đã mất, ngựa ký  chạy ngàn dậm ai xem được. Đản sinh đều có mệnh, mỗi người yên một chỗ. Lòng vững chí rộng ta có sợ hãi gì. Sau cứ xót thương nhiều than thở mãi… Đời đục ngầu chẳng ai biết đến ta. Lòng người không thể phó cho thiên hạ. Biết chết mà không thể tránh được. Nguyện chớ yêu tiếc thân mình. Các bậc quân tử sáng suốt, Ta lấy làm mẫu mực cho mình. ( Khuất Nguyên. Sở Từ. Đào Duy Anh và Nguyễn Sĩ Lâm dịch và chú thích. Nxb Văn Học, Hà Nội 1974.)

4. Sử ký. Tư Mã Thiên. Phan Ngọc dịch. Nxb Văn học & TT văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, HN-1999

5, 7. Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên. Vanhoanghean.

6. Dẫn theo: I.X. Lixêvich. Tư tưởng văn học cổ Trung quốc. Trần Đình Sử dịch. Nxb Giáo dục 2000. tr. 233

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 814)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 872)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 716)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2968)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15603)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16030)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 871)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2967)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 716)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4999)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6872)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6160)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2745)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2230)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2057)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2214)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2258)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29226)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35563)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10518)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12419)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3046)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3851)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7552)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6915)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9441)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.