- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HAI NHÀ THƠ HUẾ

05 Tháng Ba 20198:59 CH(Xem: 46815)

(Viết, nhân đọc một tin… tức mình) - Lưu Dân


Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót. Bài này chỉ viết lơn tơn – không phải với mục đích phê bình văn học hoặc tài liệu giáo khoa gì ráo – về hai tác giả mà cuộc đời và sự nghiệp có những liên hệ oái oăm về thân tộc và chỗ đứng của họ trên văn đàn và trong lòng độc giả.



Tố Hữu, bia miệng để đời

Theo tin của một số báo trong nước, đầu năm nay (2019) một khu lưu niệm nhá thơ Tố Hữu sẽ được xây dựng tại thôn Tân Xuân Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế "nhằm tri ân những đóng góp của ông cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng đất nước, góp phần giáo dục truyền thống và tạo điểm tham quan góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương”.

 

HaiNhaThoHue 1
Thông báo xây dựng khu tưởng niệm ông Tố Hữu tại Huế.




Kinh phí dự trù – chỉ mới dự trù thôi, chưa kể phần “chi phí phát sinh” thường thấy trong các dự án công cộng ở Việt Nam – là 28 tỷ đồng, lấy từ ngân sách nhà nước (tức tiền thuế của dân).

Để bạn có thể hình dung, khoản tiền ấy (hơn 1 triệu Mỹ kim) bằng chi phí xây dựng khoảng 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá cấp xã – không tính đến giá trị của diện tích đất khá lớn ở vị trí đắc địa của huyện.

Ừ, thì UBND Thừa Thiên – Huế có lý do để làm như vậy vì ông Tố Hữu không chỉ là một nhà lãnh đạo của đảng CSVN mà còn được coi như “nhà thơ cách mạng hàng đầu” của chế độ. Với họ, việc xây dựng khu lưu niệm là ưu tiên hơn 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá ở tỉnh miền trung “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn” này.

(Thật ra, khi còn sinh tiền, ông Tố Hữu khiêm nhượng nhận mình đứng… thứ nhì. Dĩ nhiên, người được xếp hạng trên ông là… “bác”, tác giả được bộ máy tuyên truyền của chế độ thổi lên như “nhà thơ vĩ đại nhất của dân tộc sau Nguyễn Trãi” và cũng là người viết nhiều quyển sách tự ca tụng mình dưới các bút hiệu khác nhau).Cuộc đời và sự nghiệp của Tố Hữu (1920 – 2002) được chia làm hai phần (không hoàn toàn rõ rệt vì chúng chồng lấn nhau): làm quan và làm thơ. Khi làm quan, ông cũng làm thơ ca tụng chế độ và khi làm thơ, ông viết những bài đầy chất miệng nhà quan.

Đời làm quan của Tố Hữu là một thất bại hiển nhiên. Khi ông đạt đến ngôi vị quan trường cao nhất cũng là lúc người dân sáng tác câu vè mỉa mai “Nhà thơ làm kinh tế / Thống chế đi đặt vòng”. [1]

 

HaiNhaThoHue 2
Nhà thơ Tố Hữu và tập thơ Theo Chân Bác


Đời làm thơ của Tố Hữu càng thảm hại hơn. Dù đã in hàng chục tập thơ và các sáng tác của ông được giảng dạy rộng khắp từ bậc tiểu học lên đến đại học trong nhiều thập niên, nhưng sự nghiệp văn chương của Tố Hữu ngày nay chỉ còn lại một cái bỉu môi kinh tởm bởi những người cầm bút cùng thời và thế hệ kế tiếp.

Họ không còn muốn đọc – và thậm chí, không thèm đọc – những bài thơ chiến đấu đầy tính “lãng mạn cách mạng” của thời Việt Bắc, Theo Chân Bác, Ba Mươi Năm Đời Ta Có Đảng hoặc Từ Ấy mà chỉ nhớ những đòn thù dã man của Tố Hữu vì tư oán và ghen tài đối với những văn nghệ sĩ chân chính chỉ viết theo lương tâm của người cầm bút.

Trường hợp Nhân Văn – Giai Phẩm ở miền Bắc (từ năm 1955-58) là một ví dụ rõ nét nhất. Cuộc đời oan khiên, bầm dập, tan nát của những tài hoa kiệt xuất trong nền văn học nước nhà như Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Cung… không thể nào đổ thừa cho ai khác ngoài Tố Hữu, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyển kiêm “Quan đầu ngành” kiểm soát tư tưởng của giới văn nghệ sĩ miền Bắc.

Khi Nhân Văn – Giai Phẩm bùng nổ, Tố Hữu đã thẳng tay ra lệnh đàn áp, bắt bớ các thành viên cột trụ của phong trào. Tuy ngày nay vụ oan khuất Nhân Văn – Giai Phẩm đã sáng tỏ và các nạn nhân được phục hồi danh dự nhưng Tố Hữu vẫn dửng dưng như người vô can mặc dù nhiều người trong cuộc chỉ đích danh ông ta là kẻ bách hại tự do sáng tác của phong trào này.

HaiNhaThoHue 3
Nhà thơ Tố Hữu (bên trái) và Tổng Bí thư Lê Duẩn

Hãy nghe một vài nhận định tiêu biểu trong giới cầm bút ở cả hai miền, cùng và sau thế hệ của Tố Hữu:

Nhà văn Nguyễn Viện, một người bất đồng chính kiến sống tại Sài Gòn, cho rằng thơ của Tố Hữu không hay, thơ của ông nặng tính tuyên truyền, đôi khi đến nỗi khát máu và nịnh bợ quá đáng.

Nhà thơ Hoàng Hưng, sống ở miền Bắc, thuộc thế hệ những văn nghệ sĩ từng bị đàn áp trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, đồng ý rằng thơ Tố Hữu một thời đã thấm sâu vào dân chúng còn hơn cả ca dao nhưng vẫn là thơ tuyên truyền.

Ngoài cái việc chung (phục vụ cho chế độ) thì ông Tố Hữu còn có cái tư thù, vì nhóm Nhân Văn dám làm một cuộc hội thảo để phê bình tập thơ Việt Bắc của ông ấy, trong đó có hai người là Trần Dần và Hoàng Cầm.”

Một bài thơ của Tố Hữu được phổ biến và học tập rộng rãi trong thời Cải cách Ruộng đất, lại là những câu sát máu rợn người và vong bản tột cùng:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.          

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,                                        

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt

Hoặc những câu thơ vô sỉ như thế này đã và vĩnh viễn là vết nhơ trong dòng thơ hiện đại Việt Nam, kể cả dòng thơ cách mạng:

Áo Ông trắng giữa mây hồng                                                                  

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười                                                      

Stalin! Stalin!                                                                                          

Yêu biết mấy, nghe con tập nói                                                             

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!                                                                  

….

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười.

Ngay cả những bài thơ về tình yêu của Tố Hữu cũng “thấm đẫm tính đảng”:

Tim anh đó chia ba phần tươi đỏ

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu

Em khẽ bảo thế cũng nhiều anh nhỉ... [2]

Việt Nam là nơi có nhiều khu lưu niệm, tượng đài, bia đá nhiều nhất thế giới, một kỷ lục mà quan chức nhà nước rất tự hào. Người ta đua nhau xây dựng các công trình đó – để làm gì, ai cũng biết – dù có khi những nhân vật / sự kiện được lưu niệm chỉ là sản phẩm của sự lừa dối (như anh hùng Lê Văn Tám tẩm xăng chạy vào đốt trại giặc, liệt sĩ Võ Thị Sáu cài hoa lê-ki-ma lên mái tóc trên đường ra sân bắn, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai...).

Tố Hữu không là một trường hợp như vậy. Ông ta là con người với những câu chuyện có thật còn rỉ máu một thời chuyên chính vô sản. Ông ta có xứng đáng được người dân lưu niệm, lập bia hay không?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả của bài thơ Bài Học Đầu Cho Con được phổ nhạc với tựa Quê Hương (là chùm khế ngọt), một người cầm bút thuộc thế hệ sau ở miền Nam, nhận xét về Tố Hữu:

Ông ấy là một nhà thơ nổi tiếng, nổi tiếng theo kiểu là hàng đầu của văn học cách mạng. Nhưng đó là chuyện của cách mạng, không phải là chuyện của tôi… Cứ xây đi (khu lưu niệm Tố Hữu), để sau này người ta còn có cái để mà hạ xuống.

Mới hay ông bà mình từ xưa nói chẳng hề sai:

Trăm năm bia đá cũng mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Phùng Quán, nhà thơ chân thật

Tuy quan điểm sáng tác và vị trí xã hội khác nhau – và đối nghịch nhau – nhưng, như một định phận trớ trêu, Phùng Quán (1932 – 1995) và Tố Hữu lại có quan hệ thân tộc với nhau. Trong tác phẩm “Ba phút sự thật”, Phùng Quán viết ông gọi Tố Hữu bằng cậu nhưng thực ra Tố Hữu là bác (anh ruột của mẹ) của ông, theo cách xưng hô của người Bắc.

 

Phùng Quán bắt đầu viết từ rất sớm, khoảng năm 20 tuổi, phần lớn là văn. Ông nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Đảo”, được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955 [3]. Nhưng sự nghiệp của Phùng Quán thật sự đi vào văn học sử - và cuộc đời ông cũng bắt đầu bị cuốn xoáy xuống tận cùng oan nghiệt vì họa văn tự - sau hai bài thơ “Lời Mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” đăng trong Nhân Văn – Giai Phẩm năm 1957. Gần như lập tức, hai bài thơ này được coi như tuyên ngôn lương thức của giới văn nghệ sĩ miền Bắc lúc ấy.

 

HaiNhaThoHue 4
Phùng Quán thời trẻ

Phùng Quán bị kỷ luật, tống xuất khỏi quân đội và bị tước tư cách hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ ấy, ông bị lưu đày trong các trại tù cải tạo ở nhiều nơi và sống lây lất với kiếp “câu trộm, rượu chịu, văn chui” [4] suốt gần 30 năm cho đến thời kỳ “đổi mới” giữa thập niên 1980, khi các thành viên của Nhân Văn – Giai Phẩm được phục hồi danh dự.

Trong suốt thời gian bầm dập đó, tên tuổi Phùng Quán hầu như biến mất trên văn đàn dù ông vẫn “viết chui” (lấy tên người khác) và nhận được một số giải thưởng lớn (vẫn do... người khác lãnh) [5].

Phùng Quán chỉ chính thức cầm bút lại năm 1988 với quyển tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” đoạt Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng đã sáng tác nhiều bài thơ giá trị như Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe...

 

Oái oăm thay, năm 2007, tức 12 năm sau khi ông qua đời, Chủ tịch nước CHXHCNVN ký quyết định truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho Phùng Quán (cùng với Trần DầnLê ĐạtHoàng Cầm). Không biết dưới suối vàng ông có vui lòng lãnh nhận giải thưởng này không để đánh đổi cả cuộc đời bị đọa đày tủi nhục.

 

HaiNhaThoHue 5
Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)



Thơ Phùng Quán, đặc biệt là bài Lời Mẹ dặn (viết khi tác giả mới 25 tuổi), như kể chuyện, đơn giản đến mức ai cũng có thể viết được, nhưng nó lại có một sức hút kỳ lạ khó cưỡng vì chứa đựng một lý tưởng nhân văn thuần khiết và cao đẹp:

 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
...

Rồi đến lúc lớn khôn, Mẹ dạy:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
...

Đến khi trở thành nhà văn, tác giả tự nguyện:

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

 

Hơn nửa thế kỷ qua, bài thơ đã trở thành tài sản tâm hồn của nhiều thế hệ độc giả ở cả hai miền Nam Bắc. Chẳng có gì lạ mà sau này, trong tuyển tập 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ 20 của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục, Lời Mẹ Dặn được trang trọng in lại, dù vì nó mà tác giả đã long đong gần suốt một đời.

HaiNhaThoHue 6
Thơ đề trên thơ - Phùng Quán

Dịch giả Nguyễn Hiệu, nguyên Trưởng ban Tu thư của Đại học Vạn Hạnh và cũng là một bạn tâm giao với Phùng Quán, đã đưa ra lý do sâu xa của sự thù hận và trù dập ấy. Ông cho rằng bài thơ mang đậm tính phản kháng, trực tiếp chạm đến một nhân vật mà ai cũng biết, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Hiệu nhận xét:

 

"Bài Lời Mẹ Dặn nó có một ý nghĩa lớn. Đối với Phùng Quán, với tôi và rất nhiều người bởi vì bài thơ ấy anh viết năm 25 tuổi thôi nhưng anh đã nói những điều đại kỵ đối với miền Bắc trong ấy có bốn câu “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét / Dù ai ngon ngọt nuông chiều / Cũng không nói yêu thành ghét / Dù ai cầm dao dọa giết cũng không nói ghét thành yêu.”

 

Những câu này trực tiếp nhắm vào Hồ Chí Minh và nhắm vào giáo dục miền Bắc tức là không ai yêu Hồ Chí Minh cả nhưng mà từ nhỏ tới lớn mọi người được dạy là ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng? Cái câu của Phùng Quán bảo “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét” là câu chạm nọc họ kinh khủng lắm.

 

Cho nên đến năm 1995 thì họ muốn xoa dịu những người trong Nhân Văn - Giai Phẩm, họ hứa in cho mỗi người một tập thơ và 5 triệu tiền nhuận bút thế nhưng họ bảo với Phùng Quán là phải bỏ bài thơ “Lời Mẹ Dặn” ra, Phùng Quán nhất định không chịu và sau khi anh chết họ mới chịu in bài thơ này."

 

HaiNhaThoHue 7
Phần mộ của Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm

Phùng Quán mất ngày 22.01.1995 (cũng là ngày sinh của ông) tại Hà Nội. Sau khi vợ ông, nhà giáo Vũ Bội Trâm, qua đời năm 2010, thể theo lời di chúc của ông: Tôi sẽ đào nấm huyệt / Cạnh mồ cha mẹ tôi, gia đình đã đưa hài cốt ông bà về cải táng (năm 2011) tại quê nhà ở làng Thanh Thủy Thượng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Phần mộ trang nhã và khiêm tốn của họ - do bạn bè và những người ái mộ trong và ngoài nước quyên góp xây dựng (không phải 28 tỷ đồng trích từ ngân sách nhà nước) – chỉ chiếm một diện tích khoảng 20 mét vuông, nằm thoai thoải trên một triền đồi nhỏ, nhìn xuống một hồ nuôi cá và, cách đó không xa, một con đường làng nhỏ mang tên ông với một “Quán nhậu bình dân Phùng Quán”.

 

HaiNhaThoHue 8
Lưu Dân tại ngã ba đường Phùng Quán và quán nhậu bình dân Phùng QuánThêm chú thích

Từ nay, Phùng Quán vĩnh viễn thoát khỏi cuộc đời “câu trộm, rượu chịu, văn chui” vì không ai còn có thể giam hãm hoặc cấm đoán một hồn thơ khẳng khái và chân thật của ông được. Hồ cá trước mặt, quán nhậu bên cạnh và văn của ông đã được người đời khắc lên trên đá.

(Nếu bạn có dịp đến thăm, ngôi mộ Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thi Bội Trâm nằm cách Thành phố Huế khoảng 6km về phía nam, trên đường đi phi trường Phú Bài. Bạn phải để ý kỹ vì chỉ có một tấm bảng nhỏ phía tay mặt ghi dòng chữ “Mộ Phùng Quán” dẫn vào một hương lộ có thể chạy xe hơi, khoảng 10 phút là tới.)

Theo lời kể của một người bạn thân trong gia đình, Phùng Quán đã có lần đến thăm Tố Hữu, khi người cậu là quan chức cao cấp của chế độ và đứa cháu lại là một nhà thơ phản động. Hai người chỉ dấm dẳng dăm câu vì không hợp nhau. Đại khái Tố Hữu có lời khuyên gì đó nhưng Phùng Quán không nghe và bỏ về. Sau, Tố Hữu lại nhắn: “Quán, đừng dại nữa!” Nghe chuyện, Phùng Quán cười: “Mình dại lâu rồi, nhưng chỉ muốn làm người chân thật.”

Bây giờ, cả hai đều đã trở thành người thiên cổ.

Thế mới hay, khôn (như Tố Hữu) cũng chết, mà dại (như Phùng Quán) cũng chết. Một khu lưu niệm hàng ngàn mét vuông trị giá tiền tỷ hay một phần mộ nho nhỏ tha hồ gió reo trên đồi cũng như nhau thôi. Chỉ còn lại trơ trơ ngàn năm một tấm bia miệng.

*************

[1] Câu vè này nói về Tố Hữu và Võ Nguyên Giáp. Tố Hữu từng nắm chức vụ Phó Thủ tướng phụ trách về kinh tế trong những năm 1980. Quyết định của Tố Hữu về “Giá, Lương, Tiền” đã khiến tốc độ lạm phát của Việt Nam lúc ấy tăng đến 770%. Trong thời gian này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị hạ tầng công tác do sự đấu đá nội bộ, Ông ta bị sỉ nhục bởi “công tác đảng giao” về làm Chủ tịch Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch.

[2] Đoạn thơ này sau năm 1975 bị dân cà-phê vỉa hè “nhái” lại để mô tả hiện tượng cán bộ CS hủ hóa, bỏ bê gia đình chạy theo đào nhí: Lương anh đó chia ba phần to nhỏ / Anh dành riêng cho bả phần nhiều / Phần bao em và phần để anh tiêu / Em sẽ bảo thế cũng liều anh nhỉ...

 

[3] Trong một bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Lập, Phùng Quán thú nhận truyện Vượt Côn Đảo là… bịa. Hồi đó, ông nghe người ta kể lại một phần ông bịa ra chín phần. “… Cho đến ngày anh (PQ) ngồi kể cho mình (NQL) nghe, khoảng năm 85 – 86 chi đó, anh vẫn chưa biết Côn Đảo méo hay tròn. Trong đó có mấy câu anh tả con đường từ nhà tù ra Bãi Dương (trường bắn) được lót xương của các tù nhân bị án tử hình. Là anh bịa ra thế để nâng cao lòng căm thù Đế quốc thực dân chứ xương người làm sao lót được đường. Chẳng ngờ trong hồi ký của một ông ở tù Côn Đảo về (ông này nổi tiếng lắm, không dám nêu tên) khi viết về con đường này cũng tả y chang như anh, cũng con đường lót xương các tù nhân…”

 

“Cũng chuyện tù Côn Đảo, trong Trường ca Võ Thị Sáu, anh (PQ) viết tuổi 16 chị Sáu vẫn hái hoa lê-ki-ma cài tóc. Buổi sáng ngày bị hành hình, chị đã ngắt một nhành hoa lê-ki-ma cài lên mái tóc, trên đường ra pháp trường, vừa đi vừa hát. Anh đâu biết lê-ki-ma là cây gì, nghe cái tên đẹp thì tưởng hoa của nó chắc đẹp lắm. Sau này mới biết lê-ki-ma thực ra là cây quả trứng gà, hoa đã xấu lại đầy nhựa, “ngắt một nhành hoa cài mái tóc” có mà dở hơi… Anh Quán cười khà khà, nói sau này hễ viết về chị Võ Thị Sáu thì người ta lại bê nguyên chi tiết này vào, vui quá là vui.”

 

[4] “Sinh kế” của Phùng Quán trong suốt quãng đời bị trù dập là câu cá trộm (không có giấy phép) vào ban đêm ở các hồ quanh Hà Nội, nhiều nhất là ở Hồ Tây. Ông trở thành “thợ câu” do sự giúp đỡ và che chở của vài người bạn lính trong đơn vị cũ hâm mộ thơ ông. Ban đầu, ông không biết nghề, chật vật lắm mới đủ một bữa “cơm đầu ghế” (ngày nay gọi là cơm bụi), nhưng về sau ông trở thành một “chuyên gia bậc nhất” trong giới câu trộm. Phùng Quán tính rằng trong thời gian đăng đẳng đó, ông đã câu trộm được 4 tấn cá. Ông hứa rằng khi được “trở lại đời”, ông sẽ đến chợ Đồng Xuân lạy tạ những bà hàng đã mua cá chui của ông và đền cho họ những sáng tác tim óc của mình… cho công bằng.

[5] Khoảng năm 1969-70, Phùng Quán mượn tên một người em họ đang làm công nhân lâm trường ở Nghệ An để gửi bài dự thi viết về Lenin do tờ Phụ nữ Liên Xô tổ chức. Mục đích của ông là cố giật… giải an ủi, với phần thưởng là chiếc đồng hồ báo thức cho con gái đi học khỏi trễ giờ. Với thân phận phản động hạng nặng, Phùng Quán làm gì dám mơ một thứ hàng xa xỉ như vậy mà chỉ có cán bộ cấp cao mới có sổ mua. Nào ngờ, truyện ngắn Như con cò vàng trong cổ tích mà ông viết ngoáy trong hai ngày lại… chiếm giải nhất, với phần thưởng là một chiếc xe đạp. Báo hại người em họ của ông vừa lãnh giải thưởng văn học vào hạng giá trị nhất của Liên Xô vừa… đái trong quần, vì được báo đài cả miền Bắc ca tụng như “sản phẩm trí tuệ của giai cấp công nhân Viet Nam”. Sau này, khi biết tác giả thật, bộ máy tuyên truyền của chế độ cũng tắt tiếng luôn.

 

 

LƯU DÂN

 

Nguồn : SBS Radio, Australia – Vietnamese.

 

https://www.sbs.com.au/yourlanguage/vietnamese/vi/article/2019/02/26/blog-hai-nha-tho-hue?language=vi

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2520)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3156)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3559)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3795)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4472)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3947)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4960)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3190)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 3101)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8903)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15829)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14851)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15206)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3156)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4471)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5788)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3190)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4665)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4186)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4948)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3559)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3795)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3947)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4960)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2519)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 3101)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3186)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3695)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11763)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28162)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34550)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34625)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9281)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11542)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5788)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5259)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5304)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4606)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6567)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5796)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7662)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.