- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,468,507

THÁNH CA TRONG MƯA

03 Tháng Giêng 201910:50 CH(Xem: 5203)
tranh dinh Cuong 2
Tranh Đinh Cường



Đêm ấy, một đêm Giáng Sinh rất lạ, sau ngày giải phóng đất nước một năm.1976. Là đêm Giáng Sinh thứ ba, tính luôn cái năm tôi đi sư phạm xa nhà, tôi không còn cùng bát phố với lũ bạn ngoại đạo trong cái thành phố nhỏ nhoi yêu mến tôi đã sống; nhưng vẫn da diết nhớ Giáng Sinh với những chiếc xe hoa lấp lánh, diễn hành dưới màn mưa lạnh, quanh mấy con phố nhỏ; những cỗ xe luôn mang đến một không gian tượi mới và tràn trề hy vọng. Khi còn hy vọng, là người ta còn mơ ước. Khi còn mơ ước,là người ta còn tin yêu cuộc sống này.Và người ta luôn trông chờ điều đó.

 Tôi đang ở một nơi tưởng chừng như xa lắc xa lơ,nơi trời cúi hôn đất, nơi sóng quyện với mây làm một; nhưng thật ra nó chỉ xa trong không gian của sự cô đơn trí tưởng, chỉ vì việc đi lại vô cùng khó khăn cách trở. Tôi đang gõ đầu trẻ nơi một làng biển heo hút bên bờ đầm Cù Mông.

Buổi chiều ngày 24 tháng 12 xa xăm ấy, khi anh chị em giáo viên địa phương đã về nhà. Tôi rủ thằng bạn: “Tối nay đi Sông Cầu dự Noel thôi ! Nằm đây buồn thúi ruột !”.Nó nhìn mưa giăng thẫn thờ: “Mưa! Đi bằng cái gì ? Giờ này còn xe cộ đâu mà đi ?”.“ Đi bộ thôi !”. Nó lại ngại ngùng: “ Mày biết, đêm nay đến khu vực nhà thờ là mệt lắm đó ! “. Tôi thuyết sâu. Cuối cùng, hai đứa cũng gom mấy thứ lặt vặt kem,pót, khăn mặt, cùng hai lon gạo nhét vô túi dếch. Phòng khi lỡ đường, ghé bất cứ đâu đó nấu cơm nhờ như đã từng.

Sau gần hai tiếng băng mưa qua đèo Nại, rồi qua những ngôi làng quạnh hiu chìm trong mưa Trung Trinh, Lệ Uyên, Phước lý. Hai thằng tới thị trấn Sông Cầu trong tối mưa giăng hiu hắt lạnh. Chẳng thấy Chúa đâu. Nó ầu ơ trong mưa “ Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người “.

Trong khuôn viên nhà thờ, những bóng điện hắt ra thứ ánh sáng yếu ớt, những ánh sáng trang trí cũ kỹ cố nhấp nháy như sắp tàn hơi, cây thông đính những dải kim tuyến không còn đủ sức lấp lánh, để gieo sự tươi mới và hy vọng của Chúa. Trước sảnh và hai bên hành lang, con chiên các họ đạo quanh vùng đang rũ áo mưa chuẩn bị vào lễ. Thấy chúng tôi vào, mọi con mắt đều đổ dồn nghi ngại rồi chuyển sang xa lánh. Không chỉ riêng hai thằng tôi, mà còn nhiều chàng trai du Noel trong hành lang nhà thờ đêm ấy, cũng chịu chung số phận Giu-da !

Rồi Dàn Thánh Ca bắt đầu với bài Kinh Hòa Bình. Những ca từ …”đem yêu thương vào nơi oán thù, đem tối tăm vào nơi lăng nhục “…Thằng bạn huých cùi chỏ vào hông tôi “ Nghe đi! Và luôn mang mấy câu này trong đầu, để luôn giữ lửa yêu thương và thứ tha ! “. Tôi định nhận xét ca từ, nhưng nó lại huých cùi chỏ vào tôi. Rồi nhìn ra sau.

Rồi Ca Đoàn kết thúc với bài Giáo Đường Im Bóng của Nguyễn thiện Tơ. “ Tiếng A-men đều âm u, hòa theo gió buồn đêm thu…..Thánh giá xa vời lắm, với chuông chiều ngân, hồn thánh thoát mưa dầm, một tối âm thầm”. Người tôi run lên.Tôi sắp bật khóc. Tôi không thể tin, tôi lại rơi vào trạng thái hư ảo kỳ lạ !

Tôi cầm tay nó siết chặt.rồi nói nhỏ: “ Đi Thôi ! . Tôi nắm tay nó kéo đi !”. Nó gắt: “ Sao vậy? “.Rồi nó cũng trùm áo mưa theo tôi”. Tôi vuốt mặt nói: “ Đủ rồi ! Chỉ nghe nhạc lễ thôi ! Tao biết, đêm nay Chúa vẫn Giáng Sinh. Không có réveillon nào cả và Chúa không thể cứu rỗi ai cả”.

Tôi bước những bước vô hồn bên nó. Tôi nhớ ghê gớm Nhỏ của tôi. Nhỏ đã dắt tôi lên nhà thờ Tuy Hòa, để nghe Ca Đoàn tập dợt chuẩn bị cho đêm Thánh Lễ Giáng Sinh năm ấy. Rồi tôi thì thầm “ Thánh giá xa vời quá !”./.


NGUYỄN LẠC ĐẠO
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2782)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6738)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3570)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 616)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 284)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 1417)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1368)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 1129)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 1180)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 1108)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở