- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,090

MÁU

22 Tháng Mười 20187:26 CH(Xem: 10008)
LeThanhThuDoThiHoa
Đô Thị Hóa - tranh Lê Thánh Thư

 

LUẬT MỤC

 

Giống cảnh tay vô hình cầm ngang cổ hải âu

vẫy không gian bàn chân đôi cánh

biển thành biển máu

thành tượng vàng ngàn tấn

tặng khơi cao

 

muốn bay

hãy nhìn các ngón tay chặt xiết

giãi giụa làm gì

còn cách phẹt phân

dấu vết sải chân

sống chết gì cũng phải thế

 

muốn hô hấp

lấy lông hồng thả nước

cổ họng bật tiếng gọi tự do

phần phật

ngần ngật

ăn tâm bão

vừa uống vừa hủy diệt

 

thần kinh sẽ rã rồi phân hủy

thịt xương không cần phải nói

hải âu sải cánh vút đi…

Nguyễn Đăng Khương

 

CƯ DÂN TRÔI TRÊN QUÊ

 

Sẽ thấy lửa ấm mà hong

mùi thơm số kiếp bốc lên

xé đời mình rồi nhai ngấu nghiến

 

giờ này như gà con chíu chít

bầy diều hâu xơn xớt xung quanh

mỗi tháng dâng một đứa

cảnh báo thét gào từng làm

không cách nào khác được

hướng mỏ về trời

làm gì còn đất dưới chân

 

cứ chết dìm trong nước

sình

ươn

trôi

ở trên quê.

 

Nguyễn Đăng Khương 

 

 

CỔ MỘ

 

Thanh xuôi xuân ngược nơi đâu thời

đất đá kết thành rêu đỏ

dấu vết trần gian hằn khuôn mặt gió

 

có ký ức không, còn nhớ màu trời

bụi truyền kỳ hằng gương mặt

những con đường rỗng

lối của rồng và quạ

 

mang giọng nói đục tràn

lặng lẽ cỏ đi dạo

bùng nhùng cháy ruột gan

làm gì biết xương tàn cốt rụi cần

tể tướng đại gia hay đại ca

đôi mắt mài mòn bên rìa vũ trụ

 

dường chỉ có trong bóng chỉ tay

rõ ràng không thể nhận

bằng thị giác triết học, như sờ vào bóng đêm

làn khói bay bỏ lửa

sống lại đất đen

 

cổ thụ dọn đẹp cưa máy

là điều không biết khi ngồi trước màn hình máy tính

nhìn vào.


Nguyễn Đăng Khương


LỤT

Những mảnh quyền lực treo lơ lửng trên đầu

đất đai sôi dầu bỏng lửa

sức sống bây giờ là đá

phiêu diêu trong tuyệt thực của họ

 

thân phận họ tập hợp rỗng

nước con số không bầu trời long lóng

mây đắng cay kia

còn ngủ lại trong căn phòng hẹp là đại dương ảo vọng

 

bình minh bị những đen gió trận cuốn trôi

giấc mơ nước co chân

những đôi giày lật ngược bầu trời

đựng đầy chới với

 

bước chân họ thổi lật đền đài

ngả năm mộng du loang loáng

ăn ánh sáng của triệu triệu đôi mắt

sự tanh tưởi thối tha

miền đời tốt tươi tước đoạt

 

đáy hôn mê

ngầu đục phận họ

có thấy tim mây duềnh lên ngọn núi

cánh hoa lưu lạc lịm đắm

 

đứa trẻ bò trên đỉnh tiếng khóc

mong manh vực thẳm

sấm chớp hằn học quá khứ

thì vách núi bên kia là tương lai

vụn ra đá sỏi.

 
Nguyễn Đăng Khương

CHỒI THU

 

Đâm mặt đá lỏm chỏm buồn

thạch sùng núi trườn lên tiếng kêu

bo non ghép ngàn năm trước

 

để không đổ trước cuộc người

tôi bám vào kỷ tan

vượt cơn choáng ngất

 

đoàn người lên đỉnh từ rất sớm

vui cười thỏa mãn trong facebook

mưa nhiệt đới miệng thu nham nhở chớp

ngồi nhìn rắn lột trong chòi

mấy chương tiểu thuyết tự đọc

 

lão ban trưởng (đại diện cha mẹ học sinh trường) từng nhục mạ tại bình an quán nhiều năm về trước

giờ giả bộ ve vuốt tôi

mời nhậu cái đầu trâu

ánh chớp rạch về hướng ấy

nào biết con cái của lão là ai

hay lão pháo nhầm người khác

 

chồi thu sắc nhọn

cắm chặt nỗi buồn

đừng mong lay chuyển.

Nguyễn Đăng Khương

MÁU

 

ăn tiết canh heo chó dê gà vịt và uống rượu hàng ngày

già trẻ gái trai

các quán xá tồi tàn

xung quanh thủ đô

sự đốn mạt cũng chảy tràn như máu

 

làm nghệ thuật vì tôn chỉ

mỗi lần đọc là thổ huyết

vì cái gì mà chờ đợi

các tượng đài bổng dưng đổ sụp…

 

NGUYỄN ĐĂNG KHƯƠNG

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1125)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1189)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1880)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5909)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5887)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13227)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30144)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81252)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20269)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 346)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down