- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,460,147

HUẾ THẢ BUỒN VÀO TRÁI TIM EM

22 Tháng Mười 20185:05 CH(Xem: 5975)
Mua -internet
Mưa - ảnh Internet


thơ Huy Uyên

MƯA Ở QUẢNG TRỊ

 

Những cơn mưa bên ngoài nhà thờ

Cuối mùa thu vội về cùng phố

Em còn đó hay đã đi

Guốc mộc hè người nhịp gõ

 

Đầu sông đôi tình nhân lặng lẽ

Mắt nhìn ai buồn hiu

Môi hôn xa giọt mưa sao buồn thế

Quảng Trị nhớ ai trời chiều

 

Mây ngủ lại bên kia Nhan Biều

Từ La Vang ầm ào lời gió

Cuối phố không còn người quay về

Thương ai Long Hưng rưng mắt lệ

 

Liêu xiêu đổ hàng cây xuống thấp

Giá chiều nay có em

Hóa trang tôi người khách lạ

Cầm giữ trong tay một chút tình

 

Phải mưa làm Quảng Trị dịu dàng

Giữ lại trong người nỗi nhớ

Con đường Thạch Hãn sang sông

Tôi một đời hoang mê giấc ngủ

 

Còn đâu bàn tay em vẫy

Mông lung dãy phố mù sương

Quanh đây sông hồ và núi

Níu lại trong tôi một Quảng Trị buồn ...

 

Huy Uyên

(11-9-2018)

 

 

 

 

HUẾ THẢ BUỒN VÀO TRÁI TIM EM

 

Đã về lâu rồi mùa trở gió

Quán cà phê từng giọt mưa buồn

Vườn ai lao xao từng cánh lá

Hình như trời đất Huế xa hơn.

 

Bây giờ em  nhớ Huế hay không

Đã lâu rồi đền đài rêu mọc

Lối chợ Đông Ba nép bóng dòng Hương

Về cồn Hến sao sầu muốn khóc.

 

Bao nhiêu năm rồi xa chân bước

Cầm trên tay ký ức ngày vui

Ngỡ người cùng lửa đêm ấm cháy

Hong đời nhau khuya sớm đi về

 

Chờ Huế lên mai giọt nắng hiên nhà

Em quay lại dỗ dành hương phấn

Ngày xưa ta đợi bến Vân Lâu

Đò qua rồi ta hoài mãi đứng

 

Hương hoa lài trong vườn thơm ngát

Từng giọt mưa mái ngói dịu dàng

Từng đóa trà mi, hải đường chớm nụ

Để lòng ai ngơ ngẩn nhớ cùng thương

 

Cuối vườn xưa mẹ còn hái nhãn lồng

Bên giếng khế còn đầy trái ngọt

Mới ngày nào cầm duyên mới qua sông

Để tôi làm loài chim tắt giọng hót

 

Đêm Huế bên này cầu Gia Hội

Thả đò trăng Vĩ Dạ bóng người xưa

Mùi cốm non, ngát thơm tình duyên mới

Đường thôn ai còn hong mái tóc thề

 

Huế thả buồn vào trái tim em

Cả đời ôm mối tình tuyệt vọng

Ngày đứng bên cầu ta trao nụ hôn

Mãi đến giờ vẫn còn cháy bỏng

 

Vừa đi vừa nhìn trời đất Huế…

 

Huy Uyên

(2017)

 

 

 

ĐÊM UỐNG RƯỢU VỚI NGƯỜI XƯA

 

Thôi em về đi ta chén cuối

Bao năm huyền thoại đã xa rồi

Ngồi Đập Đá sầu trôi Vĩ Dạ

Đoạn cuối cùng ta chia tay thôi

 

Hình như trong mắt em cười

Sao lệ nhỏ làm hồng thêm đôi má

Nước dưới chân cầu mãi vờ trôi

Tình đã bỏ đi xuôi theo biển cả

 

Ta rượu say giọt buồn cố xứ

Bạn bè ra đi nào có quay về

Giọt  sầu trôi hoang ngày tháng cũ

Mặt đăm buồn cạn chén ly bôi

 

Đêm trôi nghiêng em đứng nhìn sông

Hồ em dấu chuyện tình mà lệ nhỏ

Những cặp tình nhân hôn nhau cuối đường

Quên hết cả đất trời của Huế

 

Em gởi về Thuận An nỗi nhớ

Bên đồi Tuần trời tím vàng thu

Đã lâu chôn tình sâu nấm mộ

Để đêm say biết mấy cho vừa

 

Giá đừng gặp nhau ở Huế khi về

Trên bàn còn sót ly rượu độc

Tuổi thanh xuân ngày tháng qua đi

Cuối cuộc say hình như muốn khóc

 

Gởi lại em nữa đời với Huế

Đêm nay ngồi uống rượu với người xưa.

 

Huy Uyên

(2017)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2448)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6382)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3297)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 770)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 977)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 701)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 867)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 768)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 973)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 971)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.