- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,422,096

HUẾ THẢ BUỒN VÀO TRÁI TIM EM

22 Tháng Mười 20185:05 CH(Xem: 4959)
Mua -internet
Mưa - ảnh Internet


thơ Huy Uyên

MƯA Ở QUẢNG TRỊ

 

Những cơn mưa bên ngoài nhà thờ

Cuối mùa thu vội về cùng phố

Em còn đó hay đã đi

Guốc mộc hè người nhịp gõ

 

Đầu sông đôi tình nhân lặng lẽ

Mắt nhìn ai buồn hiu

Môi hôn xa giọt mưa sao buồn thế

Quảng Trị nhớ ai trời chiều

 

Mây ngủ lại bên kia Nhan Biều

Từ La Vang ầm ào lời gió

Cuối phố không còn người quay về

Thương ai Long Hưng rưng mắt lệ

 

Liêu xiêu đổ hàng cây xuống thấp

Giá chiều nay có em

Hóa trang tôi người khách lạ

Cầm giữ trong tay một chút tình

 

Phải mưa làm Quảng Trị dịu dàng

Giữ lại trong người nỗi nhớ

Con đường Thạch Hãn sang sông

Tôi một đời hoang mê giấc ngủ

 

Còn đâu bàn tay em vẫy

Mông lung dãy phố mù sương

Quanh đây sông hồ và núi

Níu lại trong tôi một Quảng Trị buồn ...

 

Huy Uyên

(11-9-2018)

 

 

 

 

HUẾ THẢ BUỒN VÀO TRÁI TIM EM

 

Đã về lâu rồi mùa trở gió

Quán cà phê từng giọt mưa buồn

Vườn ai lao xao từng cánh lá

Hình như trời đất Huế xa hơn.

 

Bây giờ em  nhớ Huế hay không

Đã lâu rồi đền đài rêu mọc

Lối chợ Đông Ba nép bóng dòng Hương

Về cồn Hến sao sầu muốn khóc.

 

Bao nhiêu năm rồi xa chân bước

Cầm trên tay ký ức ngày vui

Ngỡ người cùng lửa đêm ấm cháy

Hong đời nhau khuya sớm đi về

 

Chờ Huế lên mai giọt nắng hiên nhà

Em quay lại dỗ dành hương phấn

Ngày xưa ta đợi bến Vân Lâu

Đò qua rồi ta hoài mãi đứng

 

Hương hoa lài trong vườn thơm ngát

Từng giọt mưa mái ngói dịu dàng

Từng đóa trà mi, hải đường chớm nụ

Để lòng ai ngơ ngẩn nhớ cùng thương

 

Cuối vườn xưa mẹ còn hái nhãn lồng

Bên giếng khế còn đầy trái ngọt

Mới ngày nào cầm duyên mới qua sông

Để tôi làm loài chim tắt giọng hót

 

Đêm Huế bên này cầu Gia Hội

Thả đò trăng Vĩ Dạ bóng người xưa

Mùi cốm non, ngát thơm tình duyên mới

Đường thôn ai còn hong mái tóc thề

 

Huế thả buồn vào trái tim em

Cả đời ôm mối tình tuyệt vọng

Ngày đứng bên cầu ta trao nụ hôn

Mãi đến giờ vẫn còn cháy bỏng

 

Vừa đi vừa nhìn trời đất Huế…

 

Huy Uyên

(2017)

 

 

 

ĐÊM UỐNG RƯỢU VỚI NGƯỜI XƯA

 

Thôi em về đi ta chén cuối

Bao năm huyền thoại đã xa rồi

Ngồi Đập Đá sầu trôi Vĩ Dạ

Đoạn cuối cùng ta chia tay thôi

 

Hình như trong mắt em cười

Sao lệ nhỏ làm hồng thêm đôi má

Nước dưới chân cầu mãi vờ trôi

Tình đã bỏ đi xuôi theo biển cả

 

Ta rượu say giọt buồn cố xứ

Bạn bè ra đi nào có quay về

Giọt  sầu trôi hoang ngày tháng cũ

Mặt đăm buồn cạn chén ly bôi

 

Đêm trôi nghiêng em đứng nhìn sông

Hồ em dấu chuyện tình mà lệ nhỏ

Những cặp tình nhân hôn nhau cuối đường

Quên hết cả đất trời của Huế

 

Em gởi về Thuận An nỗi nhớ

Bên đồi Tuần trời tím vàng thu

Đã lâu chôn tình sâu nấm mộ

Để đêm say biết mấy cho vừa

 

Giá đừng gặp nhau ở Huế khi về

Trên bàn còn sót ly rượu độc

Tuổi thanh xuân ngày tháng qua đi

Cuối cuộc say hình như muốn khóc

 

Gởi lại em nữa đời với Huế

Đêm nay ngồi uống rượu với người xưa.

 

Huy Uyên

(2017)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1054)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4151)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
22 Tháng Hai 20204:40 CH(Xem: 530)
20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng. Với tầm nhìn qua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.
16 Tháng Hai 20204:43 CH(Xem: 577)
Người dân Vũ Hán thảm sầu / Một trời ú ám nhuộm màu thê lương / Xuân về phủ kín màn sương / Khắp nơi phong tỏa, phố phường vắng tanh
16 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 527)
hãy kéo dài nụ hôn che lấp tiếng cười / để bước chân người trôi nhẹ / khuôn mặt sẽ mờ theo ngày mưa vỡ / nghìn trùng thanh xuân trong đôi mắt nàng Thơ
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 519)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 504)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
13 Tháng Hai 20207:42 CH(Xem: 619)
khi người thức đợi bóng trăng / có con bướm nhỏ / chợt ngần ngại bay / tơ trời theo gió nhẹ lay / để em kết lại / nối ngày thành đêm...
08 Tháng Hai 202012:06 SA(Xem: 699)
Ở xứ người Phan có lạnh không Phan / Chắc quanh năm hiếm gặp nắng vàng / Ở nơi ấy có con trăng mười sáu / Cả nỗi buồn chưa kịp quá giang /
07 Tháng Hai 202011:53 CH(Xem: 564)
đôi mắt mỏi mệt không thể nhìn xuyên đêm / bóng đêm làm chúng ta mù lòa / hãy im lặng như thiền sư ngồi nghe tiếng côn trùng / nhớ lại đêm trừ tịch / chờ nghe tiếng thú đầu tiên mừng năm mới / ở đây ta chẳng nghe gì cả / trên cao độ của ngọn đồi chỉ có tiếng mưa rỉ rả / ngôn ngữ của im lặng /