- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,130

HUẾ THẢ BUỒN VÀO TRÁI TIM EM

22 Tháng Mười 20185:05 CH(Xem: 9777)
Mua -internet
Mưa - ảnh Internet


thơ Huy Uyên

MƯA Ở QUẢNG TRỊ

 

Những cơn mưa bên ngoài nhà thờ

Cuối mùa thu vội về cùng phố

Em còn đó hay đã đi

Guốc mộc hè người nhịp gõ

 

Đầu sông đôi tình nhân lặng lẽ

Mắt nhìn ai buồn hiu

Môi hôn xa giọt mưa sao buồn thế

Quảng Trị nhớ ai trời chiều

 

Mây ngủ lại bên kia Nhan Biều

Từ La Vang ầm ào lời gió

Cuối phố không còn người quay về

Thương ai Long Hưng rưng mắt lệ

 

Liêu xiêu đổ hàng cây xuống thấp

Giá chiều nay có em

Hóa trang tôi người khách lạ

Cầm giữ trong tay một chút tình

 

Phải mưa làm Quảng Trị dịu dàng

Giữ lại trong người nỗi nhớ

Con đường Thạch Hãn sang sông

Tôi một đời hoang mê giấc ngủ

 

Còn đâu bàn tay em vẫy

Mông lung dãy phố mù sương

Quanh đây sông hồ và núi

Níu lại trong tôi một Quảng Trị buồn ...

 

Huy Uyên

(11-9-2018)

 

 

 

 

HUẾ THẢ BUỒN VÀO TRÁI TIM EM

 

Đã về lâu rồi mùa trở gió

Quán cà phê từng giọt mưa buồn

Vườn ai lao xao từng cánh lá

Hình như trời đất Huế xa hơn.

 

Bây giờ em  nhớ Huế hay không

Đã lâu rồi đền đài rêu mọc

Lối chợ Đông Ba nép bóng dòng Hương

Về cồn Hến sao sầu muốn khóc.

 

Bao nhiêu năm rồi xa chân bước

Cầm trên tay ký ức ngày vui

Ngỡ người cùng lửa đêm ấm cháy

Hong đời nhau khuya sớm đi về

 

Chờ Huế lên mai giọt nắng hiên nhà

Em quay lại dỗ dành hương phấn

Ngày xưa ta đợi bến Vân Lâu

Đò qua rồi ta hoài mãi đứng

 

Hương hoa lài trong vườn thơm ngát

Từng giọt mưa mái ngói dịu dàng

Từng đóa trà mi, hải đường chớm nụ

Để lòng ai ngơ ngẩn nhớ cùng thương

 

Cuối vườn xưa mẹ còn hái nhãn lồng

Bên giếng khế còn đầy trái ngọt

Mới ngày nào cầm duyên mới qua sông

Để tôi làm loài chim tắt giọng hót

 

Đêm Huế bên này cầu Gia Hội

Thả đò trăng Vĩ Dạ bóng người xưa

Mùi cốm non, ngát thơm tình duyên mới

Đường thôn ai còn hong mái tóc thề

 

Huế thả buồn vào trái tim em

Cả đời ôm mối tình tuyệt vọng

Ngày đứng bên cầu ta trao nụ hôn

Mãi đến giờ vẫn còn cháy bỏng

 

Vừa đi vừa nhìn trời đất Huế…

 

Huy Uyên

(2017)

 

 

 

ĐÊM UỐNG RƯỢU VỚI NGƯỜI XƯA

 

Thôi em về đi ta chén cuối

Bao năm huyền thoại đã xa rồi

Ngồi Đập Đá sầu trôi Vĩ Dạ

Đoạn cuối cùng ta chia tay thôi

 

Hình như trong mắt em cười

Sao lệ nhỏ làm hồng thêm đôi má

Nước dưới chân cầu mãi vờ trôi

Tình đã bỏ đi xuôi theo biển cả

 

Ta rượu say giọt buồn cố xứ

Bạn bè ra đi nào có quay về

Giọt  sầu trôi hoang ngày tháng cũ

Mặt đăm buồn cạn chén ly bôi

 

Đêm trôi nghiêng em đứng nhìn sông

Hồ em dấu chuyện tình mà lệ nhỏ

Những cặp tình nhân hôn nhau cuối đường

Quên hết cả đất trời của Huế

 

Em gởi về Thuận An nỗi nhớ

Bên đồi Tuần trời tím vàng thu

Đã lâu chôn tình sâu nấm mộ

Để đêm say biết mấy cho vừa

 

Giá đừng gặp nhau ở Huế khi về

Trên bàn còn sót ly rượu độc

Tuổi thanh xuân ngày tháng qua đi

Cuối cuộc say hình như muốn khóc

 

Gởi lại em nữa đời với Huế

Đêm nay ngồi uống rượu với người xưa.

 

Huy Uyên

(2017)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1125)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1190)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1882)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5911)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5887)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13227)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30145)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81254)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20269)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 346)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down