- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,468,109

thơ Phan Huyền Thư

20 Tháng Mười 20186:02 CH(Xem: 6989)



PHAN HUYEN THU 2018
Nhà thơ Phan Huyền Thư


Phan Huyền Thư sinh ngày 19 tháng 12 năm 1972

Học nhạc từ nhỏ theo truyền thống gia đình

Tốt nghiệp trường âm nhạc Việt Nam 1989, học khoa văn tại đại học tổng hợp Hà Nội 1989-1993

Viết báo, phê bình nghệ thuật.

Năm 1999 chuyển sang làm phim tài liệu.

Học đạo diễn phim tài liệu "Artelier Varan" , cộng hòa Pháp 2004-2006.

Trở thành giảng viên điện ảnh trực tiếp tại trung tâm điện ảnh trẻ, chuyên viên sáng tạo nghệ thuật truyền thông từ năm 2011.

 

Tác phẩm đã xuất bản:

-Nằm Nghiêng (thơ) nxb Hội Nhà Văn 2002

-Rỗng Ngực (thơ) nxb Lao Động 2007

-Sẹo Độc Lập (thơ) nxb Hội Nhà Văn và Công Ty Nhã Nam 2014

-Đạo Thơ (thơ) nxb Nhân Ảnh 2018 (California - USA)

 

Sắp xuất bản tập truyện ngắn:

-Thạch Sùng Gỗ 1993-2018

 

 

 

 

TỰ BẠCH

 

tôi là việt không cộng

công chức không đảng viên

sinh đẻ không kế hoạch

không hồng mà chỉ chuyên

 

tôi là một dấu trừ

của danh hiệu, bằng khen

của thi đua, phấn đấu

của ghế bàn, bon chen

 

tôi là một ẩn dụ

chính tôi không nhận ra

tưởng mình cũng "số má"

hóa ra một dấu trừ

 

tôi, một kẻ đáng ghét

luôn chịu đựng hồ nghi

người ta đang lớn thế

qua dấu trừ, bé đi?

 

có khi hoan hỉ nhất

dấu trừ đứng một mình

"âm vô cùng" rồi nhé

tọa độ gốc: phục sinh

 

phan huyền thư

1st apr.2015

(trích ĐẠO THƠ - Nhân Ảnh xb 2018)

 

SỢ

 

nhiều khi nhớ bạn nhưng lại sợ gặp bạn

sợ cảm giác cô đơn giữa nồng nàn

nhiều khi thèm khóc mà không khóc

sợ nắng chiều tắt vụt như kẻ vô ơn...

 

nhiều khi, tan biến nỗi bẽ bàng thế giới

chỉ vì một người trong nhân loại

gọi mình là bạn hiền...

xét cho cùng,

nhẹ dạ luôn được ưu tiên.

 phan huyền thư

(một ngày inbox với nhà thơ luân hoán và đặng hiền)

 

 

CÒN SÓT LẠI CỦA CHIỀU

 

Buồn miên man hoàng hôn. Buồn

chảy ra từ mười đầu ngón tay hoang mang.

Buồn

là máu.

Lênh láng chờ trăng lên

để lóng lánh.

Buồn là chất rắn

nóng chảy.

Đóng vảy trên da thịt. (Có vẻ như đã từng có

một vết thương bên trong.

Nhưng chính tôi

là vết thương của chiều.)

 

***

 

Buồn là không gian.

Tôi cứa vào trời xanh

ánh mắt mỉa mai chính mình.

Buồn

chảy ra từ tóc.

Từng sợi tóc nhỏ máu. Ngực nặng

dưới áp thấp của sự trở mặt.

Khó thở

tôi nhắm mắt.

Lắng nghe

từng giọt máu nhẫn nại bò từ tóc

thấm xuống đất.

Bung ra mầm

tuyệt tình.

 

***

 

Bông hoa say đắm không thể nở

bằng ánh sáng của những điều tầm thường.

Hạt giống

bay theo gió hờn ghen.

Rơi xuống

mặt đất hiểm trở.

Độ lượng mất giá. Khu vườn

ân cần một cách lên gân.

Khiến tôi

nôn nao thai nghén sự trả thù.

Nhưng

buồn đã chảy hết.

Tôi không còn nổi một

giọt máu.

Trên đầu tôi. Tóc

cũng trôi theo ánh đỏ

ráng chiều.

 

***

 

Vờ như níu kéo chân trời.

ánh mắt

anh.

Chạy trốn nụ cười của gió. Anh nhìn

xuống chân tôi nơi những con sâu

buồn đang ngọ nguậy và bò lên đầu gối.

Sắp đặt

kiểu dáng mới cho trật tự của tuyệt vọng.

Anh chạy

khỏi nỗi buồn của tôi trong buổi chiều

chắc chắn đang cắm đầu vào đêm.

Những chiếc rễ

tinh tế chối từ sự dịu dàng lừa bịp.

Ái tình héo rũ

trong chiếc bình chứa đầy tạp chất nhỏ nhen.

 

***

 

Tôi đã chảy hết máu buồn

trong buổi chiều kiễng chân.

Kiêu hãnh.

Khi đêm đến.

Chỉ còn lại hai ống chân

một vài con sâu vẫn còn ảo tưởng.

Ngọ nguậy. Và

găm lại trong kẽ ngón chân cái.

Là. Một lời nói

hoặc cái gì đó đại loại...

như

cái nhìn vô cảm của anh.

 

phan huyền thư

 (20.04.05)

(trích Hợp Lưu số 85 tháng 10-2005)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2746)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6707)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3545)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 560)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 272)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 1325)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1349)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 1007)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 1168)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 1097)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở