- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1

07 Tháng Chín 20184:59 CH(Xem: 43166)

 de sach

 


[Trích tiểu thuyết châm biếm Đẻ sách, Người Việt Books 2018;

Chương 4: Người từ lòng bàn tay mà ra] *  (Đỗ Quyên)

 

 

Chương 4

 

Người từ lòng bàn tay mà ra

 

 

Rất khó kiểm chứng câu thơ đầu “Bàn tay ta làm nên tất cả”, nếu không có câu kế “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Chúng ta nên đọc lời ai điếu cho hai chữ “tất cả”. Đáng lẽ câu thơ đầu, với hai chữ này đã trở thành lời thách đố mênh mang bất định cho nhân loại sau hậu, nếu không có câu thơ sau. Tiếc! Đây là hai câu thơ không nên vợ nên chồng nhất trong các cặp đôi thơ hay.

 

Tiếc thôi, tiếc cho chữ nghĩa thôi; đừng nên trách văn nhân, những thư ký viên cho một thời đại nhất định. Nhất là những thư ký viên chỉ định. Xứ sở của hai câu thơ lúc đó đang thiếu cơm, thừa sỏi đá. Do đó, phải công nhận câu thơ kế có tác dụng vĩ đại của nó, cái vĩ đại của một dân tộc xác định. Nhưng, trong rất nhiều trường hợp, vĩ đại của một dân tộc xác định không trùng với vĩ đại của cả nhân loại, cho dù dân tộc xác định đó vĩ đại hay không vĩ đại so với nhân loại. Mệnh đề sông cái này sinh ra nhiều kênh lạch. Về mặt vĩ đại mà xét, điều kiện để cái vĩ đại vi mô trùng lên cái vĩ đại vĩ mô là gì? Trong quan điểm toán học ở lý thuyết tập hợp, nói thế ổn không? Một cái vĩ là tập hợp con của vi lại ánh xạ với một vĩ của vĩ? Lại nữa, làng văn Việt Nam (và của nhiều nước chưa có văn sĩ Nobel) tất nhiên nhảy đông đổng lên hỏi, đại để: “Đấy có là điều văn giới chúng tôi cùng chính phủ và nhân dân chúng tôi quan tâm: ‘Cớ gì nước ta chưa có tác phẩm lớn mang tầm quốc tế (nói thẳng ra chưa ẵm về giải Nô Beo) trong khi bên mặt trận đá bóng đã soán ngôi Á quân Á châu U23?’”

 

Tuyền những bức xúc hơi bị ấn tượng! Nhưng thôi, pho tiểu thuyết Đẻ Sách còn dài, sẽ có các chương hồi sau hầu tiếp. Cứ để những câu hỏi đó mang hình dấu hỏi ở đây. Nhưng mà, lại còn những câu hỏi cố: Liệu các dấu hỏi để lâu có bị biến thể? Cái hỏi này thõng xuống những dấu chấm than ai oán? Cái hỏi kia kéo lê thành dấu ba chấm bất lực? Phải làm gì với sự hỏi trôi đi theo dấu phẩy vô trách nhiệm? Nguy hiểm làm sao, tệ hại dường nào khi biết bao lời vấn bị dồn tụ thành một dấu chấm kết thúc tất tưởi? Ô là la… Đến chết vì hỏi! Nếu chúng ta muốn Chương 4 Người Từ Lòng Bàn Tay Mà Ra tiếp tục, chỉ có thể bất khả nhượng. Dẫu những câu hỏi không chỉ hỏi cho chính nó - hỏi để hỏi - mà còn những câu hỏi cho sự hỏi - hỏi để sinh tử - thì chúng cũng nên nằm vào số phận Hỏi của nó: Chờ đáp. Hình như trên đời, trong văn chữ cùng ngoài cuộc sống, không một câu hỏi nào vượt qua được số phận Hỏi? (Kể cả câu hỏi chót này!). Là nói theo lý; còn về tình? Việc róng riết đặt các câu hỏi cố, nêu hàng loạt các vấn nạn kiểu “có tao không mầy” tại ngay mở đầu một chương tiểu thuyết hay một đoạn đời nhân mạng thì sẽ không thể được coi là lề lối văn chương, không thể được xem như cận nhân tình. Đó là sự khẳng định hoàn toàn chứ không còn tranh biện nữa; từ lâu lắm rồi, trước khi có Đẻ Sách. Những vấn nạn mang sắc màu văn chương, những câu hỏi ngào ngạt đắc nhân tâm - gọi giản dị là hỏi đẹp - thường không uốn lượn hình câu hỏi, đem vẻ ngoài của mình móc xóc câu chữ, siết họng người đời, trói buộc xã hội. Chân lý của Hỏi thường là chân chất và lương thiện, dù bị nằm trong những cái lắt léo hèn hạ, cái thách đố dơ dởm của chủ nghĩa hình thức. Có hỏi đẹp, mới sinh ra đáp hay. Đó, những câu trả lời một mất một còn, thời hiện đại đã số hóa thành dạng 0 - 1, Yes or No. “Tự do hay là chết?”, “Làm búa hay làm đe?”, “Ra đi hay ở lại?”, “Tháo nhẫn kia ra hay lãnh nhát dao này?”, “Yêu em hay thương mẹ của anh?”... Đó, còn là những cái hỏi suốt đời không chịu số hóa, như “Thơ đến từ đâu”, “Why I Am Not a Christian”... - các câu hỏi thiền tới mức luôn luôn nói Không với dấu chấm hỏi. Từ khi mài tay trên bàn lớp học, thậm chí không ít lần tự nguyện xòe hai búp tay non ra lãnh phạt dưới những cây thước lim quyền lực và công lý, Đẻ Sách được dạy rằng, nếu không biết hỏi sẽ không nhận được lời đáp; và tệ hại hơn, sẽ không biết đáp. Có bé nọ bi bô hỏi: “Mẹ ơi, tới bây giờ thì con học nói được rồi, con phải nói cái gì trước hở mẹ?”. Không, không chỉ là câu hài hước, đó còn là triết lý của cái Học và của cái Hỏi. Ở đây, tiếng Việt hình như thú vị hơn tiếng Anh, Pháp, Đức, Úc, Mỹ, Canada, Nga, Tiệp, Hòa Lan - các nước mà Đẻ Sách từng kinh qua thai nghén - ở chỗ trong những chữ vệ tinh quanh chữ mặt trời Học có một chữ rất trái đất, rất con người: Học hỏi.

 

Ôi, những tháng năm không thể nào quên. Nghĩ lại, ứa nước mắt, bạn ạ! Đẻ Sách và các bạn học đầu đội mũ rơm vàng tươi ngực khăn quàng đỏ rực (dù quần áo vá rách, dẫu bùn dơ đất bẩn nhưng khăn quàng đỏ lúc nào cũng rực một màu nghiêm sạch) và chui xuống những hầm kèo tránh bom Mỹ, dưới ánh đèn dầu mà học mà hỏi. Trong vòng khoảng 40 năm sau, không ít người thuộc thế hệ Đẻ Sách (trong nước gọi tắt 5X) còn sống (để làm nhiều việc trong đó có việc) đến được Mỹ (bằng nhiều cách khác nhau, vô tình hay hữu ý) nghe bài giảng như sau (từng đã có khoảng 40 năm trước):

 

Điều cần biết đối với sinh viên năm thứ nhất Đại học Yale: Tò mò và thông tri

 

Con người không thích tò mò. Dân gian thường nói tò mò là tính xấu và thường mang lại hiểm nguy. Các bậc phụ huynh dùng mọi cách để ngăn chặn tính tò mò nơi con trẻ, bởi nó làm cho đời sống trở nên rối rắm, đối diện với hàng loạt những câu hỏi nan giải. Trẻ con – những kẻ đang nỗ lực trưởng thành, những kẻ mà tính tò mò của chúng khiến những lời răn đe của cha mẹ luôn cần tồn tại – được chào đón gia nhập Đại học Yale.

Tại đây, chúng tiếp tục hỏi và cố gắng tìm ra lời đáp cho câu hỏi của chính mình. Dưới đôi mắt của người học, đó chính là lý do người ta cần phải có ngôi trường đại học, nơi mọi thái độ thù nghịch đối với tính tò mò sẽ bị từ khước. (…) Tôi đã nói tò mò là hành động nguy hiểm. Không chỉ vì các hệ quả ngẫu nhiên như bom nguyên tử, mà còn vì nó thực sự là nỗi khát khao chân lý.

 

Trên thực tế, sự khao khát chân lý xem chừng như là một tình cảm được tôn trọng. Vì có nhiều người đáng kính quả quyết với ta rằng họ đã tìm thấy chân lý; điều ấy nghe như chân lý không có vẻ gì là nguy hiểm. Nhưng trái lại, nó thực sự là điều hiểm nguy. Truy tìm chân lý luôn phải đối diện và đánh đổ các định chế và niềm tin tồn tại lâu đời trong các lãnh vực khoa học, tôn giáo và chính trị. Và người học đã ý thức rằng không thể nào tham gia vào hoạt động ấy nếu đôi khi thiếu vắng sự tranh đấu.

Đối với người học, đặc tính thứ hai tưởng như không liên quan gì đến đặc tính thứ nhất - tính tò mò - nhưng lại gắn bó một cách mật thiết với nó. Đó là sự thúc bách thông tri. Người học bị chi phối bởi một thế lực mạnh mẽ không kém tính tò mò, và thế lực ấy buộc anh ta phải kể lại cho mọi người nghe những gì anh ta đã học được. Tinh thần học hỏi khởi đầu bằng tính tò mò, nhưng kết thúc bằng sự thông tri.

Trong bốn năm học, chúng tôi mong muốn các bạn cùng tham gia hành trình truy tìm chân lý, và chúng tôi sẽ đòi hỏi ở các bạn những gì mà chúng tôi đòi hỏi cho chính bản thân mình, đó là: tính tò mò và sự thông tri. Chúng tôi không muốn đặt các bạn vào khóa học rèn luyện trí tuệ. Chúng tôi chỉ muốn các bạn không được ưng thuận với bất cứ điều gì ngoài toàn bộ sự thật về đề tài khiến bạn quan tâm. Chúng tôi muốn các bạn dồn chúng tôi vào chân tường, vạch mặt và buộc chúng tôi phải thú nhận rằng chúng tôi không biết. Điều này có ghê gớm lắm không? Xin thưa: Không.

Thông tri là một tiến trình hai chiều, và đại học là nơi mà câu hỏi được hỏi và lời đáp được thông tri.” [1]

 

Trở lại câu thơ suýt thành vĩ đại của nhân loại. Nó chính là lý do thúc đẩy một số người cầm bút vương vào nghiệp ăn tay trong quá trình đẻ ra tác phẩm của mình. “Bàn tay ta mà đã “làm nên tất cả”, thì những bàn tay người ắt cũng vậy. Những tay viết ưa ăn máu thịt nơi tay của đồng loại hồ hởi phấn khởi lao vào công cuộc này, với cao vọng bằng phương tiện tiếp cận lý thú và hợp khẩu vị được Trời phú, sẽ có những đứa con tinh thần chào đời từ họ.

 

“Thế nào là ‘tất cả’ trong câu thơ ‘Bàn tay ta làm nên tất cả’?”. Lại hỏi! Chạy trời không tránh được những cơn nắng gắt gao của cái hỏi. Đành tạm nhân nhượng một cái hỏi này thôi, vì làm tiêu đề cho hai Hội thảo khoa học văn chương dành cho các nhà văn ăn tay sinh sách của các nước thuộc Thế giới thứ ba. Văn giới những nước thuộc Thế giới thứ nhất và thứ hai ứ chịu ngồi chung hội thảo. Họ xin lỗi: “Dù sao đấy cũng biểu lộ sự kỳ thị vô hại và có phần dễ thương. Chúng tôi bị sốc bởi câu thơ kế. Bài toán cơm áo đã được giải quyết ở các quốc gia chúng tôi từ hai phần ba thế kỷ nay!”. Nhưng sự vắng mặt của các văn sĩ “không cơm áo” chỉ ước lệ. Họ vẫn gởi tham luận, theo dõi bàn thảo của các đồng nghiệp “sỏi đá”. Như vậy, giới nhà văn toàn cầu chính thức hay bán chính thức - vốn tính bản thiện văn nghệ sĩ rỗi hơi hễ thấy cái gì hay thì xen vào - đã bàn đến các đề tài nhằm tìm lời đáp cho các câu hỏi: Bàn tay loài người làm được những điều gì; Liệu có phải “tất cả” hay không? v.v...

 

Có thể nói, trong giới ăn thịt người viết lách, cánh ăn tay là đoàn kết nhất. Đoàn kết viết. Đoàn kết lách. Đoàn kết vừa viết vừa lách. Viết lách xong xuôi, văn ai người ấy giữ, họ biết bảo nhau để tay... ngồi xuống, “xòe bàn tay, đếm ngón tay” cùng tìm cách ăn tay sao có lợi nhất.

Cũng vì nhiều nguyên nhân... “Tay là nơi dễ xòe khoe, dễ đo đếm nhất. Không khó như với tụi tôi. Ừ thì tất nhiên, các tai nạn xiêm áo trong chữ nghĩa thường xảy ra; và tụi tôi cũng có những trang văn bị phơi ngực trái kiểu Janet Jackson, những bài thơ mặc váy hổng cần quần kiểu Britney Spears.” - Đại diện nhóm văn sĩ ăn bộ phận sinh dục nhanh nhảu tuyên bố, vừa nói vừa ẹo nửa người, môi trên liếm môi dưới. Nghe xong cái điều con nít cũng biết nếu chúng học xong môn giới tính, cả làng văn thiên địa cười xòa. Chê thì ít mà cảm thông cho đám nhà văn gần gụi những cơ phận dễ nhậy cảm và khó xòe khó đếm. Phân hội nhà văn ăn “những cái ấy” đâu như có được hai lần hội thảo. Lần đầu tại một bãi tắm khỏa thân FKK tại Hòa Lan. (Khổ, thì chính Hà Lan đấy ạ; cậu đánh máy nhà cháu có lỗi là lỗi các chỗ khác chứ không ở chữ nhậy cảm như thế trên thân thể chữ nghĩa Việt hải ngoại ta.) Rồi lần sau cả đám tồng ngồng kéo đến một FKK của nước Đức. (Vưng, biết phải gọi là Đức quốc mới đúng đường lối phe ta mà cháu phá lệ chơi xem sao… Hi hi). Nhưng đều bất thành. Lỗi thuộc về các tham dự viên đến từ các nước chậm phát triển, tức các nhà văn “sỏi đá”. Không đủ ăn, thế mà khi đến hiện trường hội thảo, dù quen xơi xực các cái của nợ đó rồi, nhưng nhìn đám ong bướm mông ngực trắng hồng phơi phới nở tưng bừng hoa lá dưới trời hạ nắng đẹp bên dòng sông xanh rờn, “sỏi đá” của các nhà văn “sỏi đá” - dù nam dẫu nữ - cứ triển khai lai láng cả ra. Phần vì ngượng - nhà văn là giống mắc bệnh sĩ diện cao nhất - phần vì “sỏi đá” mải mê làm việc thì mần răng miệng lưỡi, tinh thần đọ lại được. “Không thành công, cũng thành… chim bướm”. Các hội thảo viên an ủi nhau khi ra về. Đẻ Sách kể lại vậy không hề mang ý chê cười các nhà văn thuộc thế giới chậm tiến (nhưng cu hĩm họ khi cần vẫn cứ tiến, lại còn tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc nữa cơ!), mà chỉ để độc giả hiểu cho một điều: tổ chức được một buổi hội thảo đâu có dễ. Thì đấy! Diễn Đàn Tóc, ở Chương 3, đang ngon lành cành đào thế mà sập tiệm cái rụp. Đến chương này, có tóc lông nào hó hé ra đâu. Cái đám văn học èo uột đã rắc rối tơ lại lắm điều tiếng, hễ thò ló ra là toàn văn đàn im lặng, đâu đến lượt thứ văn chương tay chỉ biết múa may.

 

Hội Văn học Ăn Tay Toàn cầu đáng được vinh danh vì thế! Một nguyên nhân khác đem lại thành công cho giới văn sĩ ăn tay; đó là không hiểu bàn tay nào (chửa chắc CIA đâu nhá!) đưa họ đến với các tổ chức chính trị, cộng đồng và tôn giáo Việt hải ngoại, nhất là Hội người Việt Tỵ nạn tại các thành phố lớn ở Mỹ, Canada, Pháp, Đức quốc, Hòa Lan và Úc, để học hỏi kinh nghiệm tạo dựng, khuyếch trương những buổi hội thảo, mà đáng phục nhứt là biến tí tị tì ti khói hội thảo thành lửa chuyển về quê hương.

 

Cũng có cách giải thích thế vầy: Vì trong văn hóa dân gian Việt, như ca dao tục ngữ, và trong văn học Việt vấn đề tay, bàn tay, ngón tay được nhắc đến nhiều nhứt. Ừ nhỉ? Thuở Hà Thành đẹp gái tân thời đã có Nguyễn Bính đứng đó tả “Dịu dàng đôi ngón tay tiên / Giữ hờ mép áo làm duyên qua đường”. Hòa bình khai hoang: thơ Hoàng Trung Thông dẫn thượng, khai mở chương sách này. Thơ uýnh Mẽo leo thang ra miền Bắc thảy bom có Lưu Quang Vũ với “Phút chia tay ta chỉ nắm tay mình - Hẳn nhiên! Trai gái Bắc thời đó dứ kẹo cũng đét dám nắm “cái ấy” của nhau! - Điều chưa nói mà bàn tay đã nói / Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại / Còn bồi hồi trong những ngón tay ta”. Chia tay nắm tay xong như vậy là để “đi B” (cách gọi BEM của Nam tiến thời đó í mà) chớ không thật phí tay. Đến B rồi, lẹ nhứt là các con ngựa sắt Nga trong đó che chở những chiến binh Việt lâm trận máu sôi lên thịt trào ra mà Hữu Thỉnh vẫn vô tư tâng tẩng “Năm anh em trên một chiếc xe tăng (…) / Như năm ngón tay trên một bàn tay / Đã xung trận cả năm người như một”. Nghe thơ nổ rền hơn pháo tăng, các “năm anh em” bên phía kia chạy re khói có ngòi là phải: Họ sợ thơ chớ chưa hẳn sợ tăng! “Thơ có thép” - thép tăng. Còn ở miền Nam trước 1975 cùng là thơ da vàng văn mũi tẹt tay tí toáy chữ quốc ngữ cả thôi, nay có kể ra e nhiều độc giả nhí hổng biết. Sao? 8X, 9X mà cũng biết thơ bàn tay, thơ ngón tay đến từ các thi sĩ miền Nam à? “Người trở về trên năm ngón chân / Tôi buồn, người bảo có tay nâng / Bàn tay người có đầy năm ngón” – “Không Trung niên Thi sĩ thì ai viết nổi!”“Giỏi! Thế “Bình minh trên những búp tay hồng” là của…” - “Của Đinh Hùng, có treo trên Cây Nêu Thơ Văn Miếu Ngày Thơ Việt Nam lần thứ V Nguyên Tiêu Tết Đinh Hợi 2007 chứ gì!” - “Quá giỏi! Quốc nội giỏi thế, hơn cả hải ngoại rồi!” - “Thưa còn “Ai nhớ ngàn năm một ngón tay” nữa ạ?” - Cái của “Ngựa Trời” K.H. Bùi mới ấn tượng: “một, hai, ba, bốn, năm / người đàn ông đếm đi đếm lại / sao bàn tay thiếu đâu một ngón (chuyên dùng để chỉ trăng)” - “Thế thì cháu cũng tiến cử câu “Chủ nhật làm tay thừa thãi” mà tác giả trẻ Đường Hải Yến là người cùng phố với anh trai của bạn gái người em họ xa bên chồng cháu.” – “Ừ ừ... Thôi đủ rồi.” Sẽ còn nhiều cái tay nữa, khác. Cũng như còn nhiều cái tay khác nữa.

 

Đặc biệt, khi giao tiếp, Phan Ngọc thường gọi tôi bằng một từ rất thân mật là “ông”. Mỗi khi hứng lên, bàn tay ông lại đập nhẹ vào đùi tôi rồi nói một cụm từ gần như điểm xuyết trong cả buổi nói chuyện: “Thế mới thú ông ạ”. Còn bàn tay ông, thú thật tôi chưa nhìn thấy một bàn tay người đàn ông nào đẹp đến thế. Tất cả các ngón đều thon thả, hình tháp bút, nhỏ nhắn, trắng trẻo. Nội chỉ nhìn bàn tay cũng thấy là quí tướng, nho nhã hơn người. (…) Tôi trộm ngắm hai bàn tay đẹp như tháp bút của ông. Tôi thấy ngón trỏ và ngón tay cái trên bàn tay trái ông mỗi ngày một cháy vàng khè. Ông nói chuyện mà vẫn đốt thuốc liên tục. Qua hình ảnh của ông, tôi thấy người dính đến “vụ án Nhân Văn” cũng không có gì đáng gớm cả.” [2]

 

Nếu trong chương ăn tay chưa ăn xuể thì ở các chương sau ăn gì bất kể thế nào vẫn có những cánh tay, những bàn tay, những ngón tay thơ thân thương và bất thần rẽ lối câu xé hàng chữ chạy ra chào đón quý bạn. Nói sẵn vậy để quý bạn đỡ bất ngờ trước Tay - cái vật thể năng động nhất, “hồ hởi phấn khởi” nhất của thân thể. Lưỡi miệng, chim bướm gì cũng thua!

 

Suỵt! Có thích nghe một câu chuyện nội bộ trong dân viết lách ăn thịt người không? Mà thôi, kể ra mang tiếng lắm điều. Không kể thì tiếc, nào có cuốn Đẻ Sách thứ hai mà kể! Có nên hay không nên? Shakespeare ơi ời, to kể or not to kể? Nhưng not to kể, sao thành tiểu thuyết? Nguyên thủy và đương đại, bản chất tiểu thuyết là kể. Hình như Lỗ Tấn bảo vậy! Mà hà tất phải họ Lỗ bảo, tiểu thuyết vẫn cứ là kể. Và còn hơn thế nữa: Là cách kể. Kể cái gì, xét cho cùng, không là trọng. Chuyện đời chỉ ba bảy hai mươi mốt điều thôi, và có tới ba vạn tám ngàn lối kể. Vậy thì kể này…

 

Trong giới viết xơi thịt người, phe nhà văn ăn lưỡi coi các đồng nghiệp ăn tay là tử thù. Và ngược lại. Tình thế tệ hơn Việt-Mỹ trước khi bỏ cấm vận. Càng hơn cả Hồi giáo và Mỹ xưa và nay và muôn đời sau. Theo quy chế cơ thể học của tạo hóa, đúng ra đấy phải là hai cái đinh ốc liên đới khít khao nhất trong guồng máy người. Nhưng đời đâu chiều lòng Trời. Đời cứ để lời nói đào mả cha việc làm, việc làm chửi ông cố nội lời nói. Trong vô số ngôn ngữ và phương ngữ loài người thì tục ngữ Việt là mợ xăng xái nhất trong việc minh họa, lý giải rồi lại vừa hòa giải vừa gây rối cho mối tương quan bất khả tranh Lưỡi-Tay, Lời nói-Hành động.

Đang ngon lành Miệng nói tay làm”, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, bỗng trở mặt “Mồm miệng đỡ chân tay”, “Miệng hỏi, tay rứt đùa”. Đểu nhất là kiểu khích bác thầy dùi chui qua lỗ trôn Cái miệng làm khổ cái thân.” Sao, bạn thấy rõ tục ngữ Việt Nam nhà mình hèn chưa: Sợ cái tay nó đục hay sao mà không nói thẳng, phải nói vòng qua cái thân! Hèn hết chỗ nói, khi đem cả kỹ năng đối lập và so sánh của dòng văn học dân gian truyền khẩu ra cúi xuống nâng tay lên làm cha thiên hạ: nào “Vỏ quít dày, móng tay nhọn”, nào “Trăm hay không bằng tay quen”... Thiệt tình, nhân viên thời Bao cấp ở Việt Nam thế kỷ trước cũng không nịnh thủ trưởng đến vậy! Khen riêng tay chân thôi chưa đủ, lại kéo cái miệng cái lưỡi ra một nơi, vùi đạp cho mồm miệng hết đường sống: này là Há miệng chờ sung”; kia là “Miệng quan trôn trẻ” nữa. Ối toàn cầu ơi coi kìa: “Lưỡi không xương nhiều điều lắt léo”. Ngẫm lại, mấy trự lâm nạn Nhân văn - Giai phẩm hay Cách mạng Văn hóa cũng còn sướng chán, đâu có bị đì dí dì dị như bè lũ miệng lưỡi dưới ách đè nén của tục ngữ Việt! Đã hết đâu... Nhãn quan xuề xòa chủ nghĩa, thế giới quan ngắn dài mặc bay của tục ngữ Việt lồ lộ trong câu “Bàn tay có ngón dài ngón ngắn”. Đừng đùa! Không muốn nâng quan điểm hại nhau đâu, nhưng khách quan, lịch sử và biện chứng mà nói câu tục ngữ trên cực phản động. Không nghi ngờ gì, các ngón tay của người Việt Nam chúng mình chính vì nghe câu tục ngữ mà ỷ lại, không chịu phấn đấu vươn lên trong 4.000 năm nay. Đáng trách nữa, chính ngay trong tục ngữ, phương ngữ, ngôn ngữ Việt các mâu thuẫn chất đầy ra đấy, sao không lo suôn sẻ phận mình đi rồi hẵng mong dùng mình trau chuốt chuyện nhân gian. Một bài học đau đớn từ ngôn ngữ truyền thống Việt khiến không ít ngôn ngữ khác nhanh nhẹn học được! Chúng ta nên đồng thanh kiến nghị: Chừng nào tiếng Việt còn chưa viết được chặt chẽ, chính xác và logic một cái đơn kiện cấp huyện tầm cỡ trâu nhà ông ăn cỏ vườn nhà bà, chừng đó chưa thể làm các chuyện vác ngà voi như vụ hòa giải Lưỡi-Tay tày trời mà đến cả tháp Babel cũng phải cúi xuống nhận là nan giải.

 

À, nói cho công bằng, trong tranh chấp hành động và việc làm có cả chân cẳng dự phần. Nhưng tay phản ứng lẹ hơn chân 4,7 lần trở lên, theo đánh giá của giới văn sĩ ăn tay và ăn chân. Cánh khoa học gia và y khoa thấy vậy đành tuyên bố: Công cuộc nghiên cứu sự khác nhau giữa tốc độ phản xạ của tay và chân con người từ nay thuộc về ngành văn học. Không lạ! Từ khoảng 450 năm nay, khoa học luôn là nơi không bao giờ muốn lộ ra sự mù quáng cực đoan của mình, nhất là sau hai vụ khẳng định hớ hênh có tính lịch sử rằng, mặt trời quay và rằng, chỉ một phần nhỏ (mười phần trăm ngay cả ở những vĩ nhân, hào kiệt) của não người là được dùng đến. Vụ mặt trời quay đã lâu quá lâu, ai mà nhớ nổi trừ lũ chắt chút chít chìn chịt nhà Copernicus. Nhưng vụ đa phần diện tích não vẫn đang ngái ngủ thì các cơ phận khác không thể quên. Miệng lưỡi của giới ngoại giao và đám quan tham nhũng cùng dân buôn nước bọt, chân của những người tỵ nạn chính trị và tỵ nạn không chính trị, tim của bao kẻ yêu nhau chết trong tức tưởi như vợ chồng Lưu Trầm Tư, cặp đôi nhà văn ăn tim - ăn chân, O'Donovan - McAmmond, mớ tóc giả của Nhà thơ-tự-ăn tóc, rồi dương vật âm hộ âm đạo điểm G của những kẻ hủ hóa đồi trụy, v.v… luôn gào lên: “Trừ những cơ phận trên đất Pháp lè phè với 35 tiếng một tuần là trường hợp cá biệt giữa nhân loại hiện đại, tất cả chúng tôi đều phải làm việc vất vả, thời xã hội chủ nghĩa là tám giờ vàng ngọc, thời tư bản là overtime! Không thể nào Tạo hóa bất công đến độ để cả một đống não nằm chơi xơi máu trong suốt mấy trăm ngàn năm tiến hóa của loài người. Hãy chọn đi, một trong hai thành ngữ: Hoặc là ‘Bất công như Tạo hóa!’, hoặc là ‘Mù quáng như khoa học thực nghiệm!’ Không lẽ cả hai?”

 

Chà, đi hơi bị xa rồi, chúng ta quay về vụ tử thù tử thủ. Hãy nghe các nhà văn ăn lưỡi nói về văn sĩ ăn tay:

“Đã đành như cái lưỡi không xương dễ nhiều đường lắt léo sắc sắc không không – Lạy Chúa, nhầm qua kinh Phật rồi! – nói có nói không. Nhưng cứng cáp uyển chuyển như tay, xương cốt gân thịt da mỡ móng đủ cả thì sự tráo trở từ những cú trở bàn tay lại thành bão tố. Một quả thụi đo ván? Một cái bắt tay nồng ấm? Một cú chém sống tay? Một cái vuốt ve? Ôi kể sao hết tính thời tiết, sự thất thường, mặt giảo hoạt, chất đĩ điếm của bàn tay! (Ngón tay lắm khi đĩ điếm hơn cả đĩ điếm! Đọc chương Ăn Tóc, bạn thấy đấy...). Các tác giả ăn tay, tất nhiên họ phải biết đồng hóa và dị hóa nó bằng tài năng của mình. Ăn gio ăn phân vẫn có thể sinh ra các câu thơ hoa sen, các kịch bản bông hồng. Vấn đề là tài năng. Chúng tôi tôn trọng tay của họ – cũng như lưỡi chúng tôi, như đầu như đít với các đồng nghiệp ăn đầu ăn đít. Tất cả đều là đối tượng văn học. Không có đối tượng xấu đẹp, cũng chẳng có chủ đề hèn sang. (Khổ thân những văn sĩ chứng nhân trong các thời đại bỗng cao to vọt lên, còn chứng nhân thì  không sao rặn ra được các sáng tác mang tầm vóc cao to vọt lên ấy!). Chỉ có cách phản ánh, lối sáng tác hèn sang, xấu đẹp. Cuối cùng vẫn là tác phẩm. Cho chúng tôi được dành quyền nghi ngờ tài năng nơi các đồng nghiệp tay. Tại sao không? Có tài năng nào không bị nghi ngờ? Hãy để chúng tôi không phải nâng niu các tác phẩm sinh ra từ thứ tài năng bị nghi ngờ.”

 

 

(Còn tiếp)

 

-------------

*) Bản này có sửa chữa rất nhỏ ở nhiều chữ trên đa số các trang, so với bản Người Việt Books đã phát hành lần đầu 1/5/2018.

 

 

 

Đỗ Quyên

 



[1] Co rút từ Edmund S. Morgan; Cao Hùng Lynh dịch, Saturday Review 23/1/1960, talawas.org 6/3/2007

[2] Rút gọn Hữu Đạt; “Phó giáo sư Phan Ngọc: Sự uyên bác và tài hoa”, vanhoanghean.vn 23/4/2013

Ý kiến bạn đọc
06 Tháng Năm 20226:32 CH
Khách
Làm sao có thể tự mâu thuẫn khi cho “Bàn tay ta làm nên tất cả, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” là một trong các cặp đôi thơ hay, khi lại than rằng, chúng là hai câu thơ không nên vợ nên chồng nhất. Hai chữ “tất cả” cũng chẳng có vai trò thách đố mênh mang bất định cho nhân loại sau hậu, vì bàn tay chỉ có thể làm nên tất cả ở những xứ "từ tay lên miệng". Tóm lại hai câu thơ ấy của Hoàng Trung Thông chỉ là lặp lại một cách thô kệch hai câu thơ của Tố Hữu:
Vững tay người chiến sĩ nông thôn
Bắt sỏi đá phải thành sắn gạo.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 281)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 411)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 495)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1031)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 905)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1031)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1607)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1627)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1529)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1531)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10441)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17252)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16333)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16783)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1030)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1626)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1652)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2406)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 411)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 905)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1529)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1361)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 281)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1030)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1606)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1530)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 495)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3140)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3063)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3572)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2190)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13951)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30076)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36148)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11639)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13095)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2899)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4104)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4582)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5101)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8333)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7731)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10658)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.