- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

DA HÀNG THỊT

25 Tháng Năm 201812:45 SA(Xem: 53662)


kenh-nhieu-loc-thi-nghe-xua
Kênh Nhiêu Lộc Xưa - ảnh T.L

Tuổi thơ của em chia làm hai nửa; một nửa gắn với đồi sim tím miền Trung, một nửa trôi qua ở xóm Cây Điệp, bên giòng kênh nước đen Nhiêu Lộc.

Con kênh đầu tiên uốn vòng vèo quanh xóm Cây Điệp, qua những con hẻm tráng xi măng xám, lấm tấm nhụy hoa điệp hồng hồng phơn phớt. Rồi luồn sâu vào khu Chăn nuôi, đường hẻm xi măng đến đây đã lở lói, sụt sùi, hai bên rào hoa dâm bụt nở chói lọi trên những cánh cổng gỗ rào gai. Con kênh len lỏi đến tận cùng khu Chăn nuôi là xóm Chuồng Bò nổi tiếng của Khu ngã tư Bảy Hiền. Dòng nước kênh đen thẫm trôi lờ đờ qua những con đường đất đỏ gập ghềnh, lầy lội, những căn nhà tôn xiêu vẹo, những khuôn mặt tối.

 

Có một cây cầu xi măng bắc ngang con kênh, nối liền xóm Cây Điệp với khu Chăn nuôi và xóm Chuồng Bò. Lừ lừ ngay đầu cầu là cây đa to bốn vòng ôm người lớn, rũ táng lá che rợp hết một vùng, mỗi cái chạc ba thòng xuống ngang mặt cầu cong vòng như cánh tay con gái trắng bợt. Rủi tối về khuya có chuyện đi ngang cầu, vừa chớm thấy cái chạc ba đu đưa trong gió, người dạn dĩ nhất cũng phải la làng, co giò bỏ chạy.

Đến bây giờ ba mẹ em vẫn còn tranh cãi hoài về quyết định dọn nhà ở chung với dân kẻ chợ. Mẹ em, chắc hẳn muốn bắt chước mẹ Mạnh tử ngày xưa, khăng khăng không muốn con cái giao du với người kẻ chợ.

Cả xóm Cây Điệp chỉ có một cái chợ nhỏ, Hàng xóm láng giềng của em toàn là người kẻ chợ. Từ bà Bảy sát vách bên phải bán hàng rau, sáng nào cũng theo xe ba gác rì rì trĩu hương rau mùi, rau thơm, như mang cả vườn rau Hóc Môn về chợ Nhỏ. Đến cô Ba vách bên trái bán xôi, người quanh năm ngan ngát mùi lá dứa, mùi đậu xanh đãi võ, mùi củi gộc cháy nõ, mùi nếp cái hoa vàng đến nỗi em đâm ra ghiền món xôi gói lá chuối cho tới bây giờ. Chị Tư bán cá bao nhiêu lanh chanh lách chách để lại hết ngoài chợ, về xóm Cây Điệp hiền queo như con cá Hường lim dim đôi mắt đỏ quạch.

Với ai em cũng được phép la cà, chỉ trừ mỗi nhà bác Tính mổ thịt lợn. Cả xóm hầu như nhà nào cũng cấm con cái không giao du với "nhà mổ lợn". Lạ đời, cái gì càng cấm, càng mê mẩn. Mắt trước, mắt sau, rình lúc vắng vẻ không có người lớn, bọn trẻ con lại lén chui rào qua chơi với đám con nhà bác Tính.

Sân xi măng nhà bác Tính sạch bong, nhà cửa sáng choang, không có ngóc ngách nào âm u bí hiểm, như là tiếng kêu tắt nghẹn nửa đêm của những chú heo nằm cong người trong rọ tre chưa hề phát ra từ nơi đây. Như là những ác mộng về sáng của cư dân xóm nhỏ đầy máu tươi loang loáng, đẫm mồ hôi, và tiếng người xả thịt sống huỳnh huỵch không bắt đầu từ đây. Không gian ấm cúng tươi rói tràn đầy sự sống, không lởn vởn cái chết tức tưởi như người ta vẫn thầm thì.

Cái không khí tươi rói hớn hở nồng ấm đó là nhờ vào chị Tuyết, con gái đầu của bác Tính. Tụi con nít ngấm ngầm chọn chị là hoa hậu của cả ba xóm. Mà không, với tụi con nít, vẻ đẹp của chị còn vượt quá khung chấm điểm hoa hậu thời bây giờ. Người ta chỉ chấm da, chấm dáng, chấm số đo, chẳng có ai có thể chấm điểm được cái hồn hậu, ngọt ngào trong giọng nói của chị, cái duyên dáng như bùa mê trong cử chỉ, cái thanh tao, tình tứ trong mắt nhìn và cái rực rỡ tươi thắm rờn rợn sức sống của tuổi mười bảy như bông hoa mận trắng muốt nghiêng mình đong đưa qua hàng rào nhà hàng xóm.

Chị Tuyết là như vậy đó!

Lủ nhỏ không chỉ mê mẫn nhan sắc chị Tuyết như mấy anh choai choai chuyên lượn lờ trước cổng nhà chị, mà mê cặp em sinh đôi của chị hơn cả. Hai đứa bé bụ bẫm tầm 3 tuổi không có gì đặc biệt hơn đứa trẻ khác. Ngoại trừ miếng da đen như da lợn nằm choán từ cổ đến hết nửa lưng!

Em cũng như lũ nhỏ, vừa tò mò vừa mê thích được tận tay sờ mó tấm lưng da lợn của hai anh em sinh đôi. Tấm da sần sùi thô ráp vì rậm rạp lớp lông đen cứng ấy có sức thu hút lạ kỳ. Người lớn luôn trợn ngược mắt răn đe:

- Tụi mi chớ có mà sờ vào cái đồ quỷ ám đó! 

Nhưng trước sau lại nhỏ giọng thì thầm:

- Có đứa mô thấy miếng da đó chưa hè? Có đứa mô sờ tận tay chưa? Nó ra răng? 

Lớp da bí ẩn đó như cực nam châm hút hết tâm trí người lớn và rồi nằm mãi ở đó, ngay trong đầu họ, ngày càng đen đủi hơn, bí ẩn hơn, chẳng chịu mất đi cho.

Tụi em lại thích tấm lưng da lợn theo kiểu khác hẳn. Bác Tính trai suốt đời ở trần, khoe cái bụng tròn lẵn bóng lưỡng, chỉ khăng khăng bắt 2 đứa sinh đôi mặt áo cổ cao đến cằm, để che miếng da "quỷ sứ". Bác Tính gái như chưa bao giờ biết đến miếng da lợn ấy trong đời, trong mắt người mẹ (em e rằng mắt người mẹ nào cũng phản ánh trái tim yếu đuối của người mẹ) tấm lưng của hai anh em sinh đôi cũng phẳng phiu, thơm tho mùi sữa như bất kỳ trẻ em nào khác trên đời! Chị Tuyết chăm bẵm, cưng nựng, vuốt ve hai tấm lưng dị tật đó như hai báu vật, chị tin rằng vuốt ve bằng tất cả tình thương yêu âu yếm sẽ làm cho đám lông dày nhọn đó rụng bớt đi mỗi ngày.

Chỉ riêng hai đứa sinh đôi chẳng lấy làm xấu hổ với đám da dày trên lưng, mỗi khi vui vẻ và không có người lớn chung quanh, hai đứa nhỏ vẫn vạch áo cho tụi con nít xem lưng với đầy tự hào sung sướng như người lớn khoe nhau mụt ruồi son. Mà đám da ấy cũng lạ lùng, về mùa hè, lớp lông mềm mại hơn và mát lạnh, về mùa đông lớp lông rậm rạp hơn, lùa tay vào ấm như được ủ trong lớp áo lông mềm mại. Lớp da lợn trên lưng ấy với em chẳng khác gì miếng gấm Thượng hải lạ lẫm mà mẹ em cả đời chỉ có một lần và giấu mãi trong đáy tủ áo tẫm bao nhiêu là long não thơm lừng.

Đến nỗi, có lúc em không nhịn được đã ấm ức với mẹ:

- Mẹ ơi, sao lưng con không có miếng da lợn nào?

Mẹ em suýt nữa nghẹn thở, đã đánh em một trận đòn bằng chổi lông gà nhớ đời. Mãi sau đó mẹ vẫn tức tưởi với bố về "tâm trí bị tấm da quỹ sứ ám ảnh" của em, nổi tức tưởi đau khổ cũng ngang bằng mẹ của Thầy Mạnh tử xé toạt ngang nửa tấm lụa khi bắt gặp con mình bắt chước chơi trò mổ lợn!

Sau lần đó, em bị cấm tiệt không được qua nhà bác Tính chơi. Có lần chị Tuyết nhớ em, đã lần mò đến hàng rào nhà em gọi nhỏ:

- Bé à, sao lâu quá không qua chơi?

Em khoét một cái lỗ xuyên qua rào bông bụt, vừa đủ thò cái đầu nhỏ như trái cam của em ra nhìn chị, thì thào:

- Mẹ em cấm em không được chơi với nhà chị nữa!

- Vì sao? giọng chị đã có chút tức tưởi nghẹn ngào.

- Vì mẹ nói nhà chị sát sinh, chuyên giết con lợn.

Giong chị thất thanh, như lẫn tiếng thét kiềm nén:

- Không có nhà chị mổ lợn, lấy đâu ra thịt cho mọi người ăn? Sao ai cũng ăn thịt lợn mà tội lỗi chỉ mỗi nhà chị phải gánh chịu?  

Câu hỏi đó mãi luẩn quẩn trong đầu em, chẳng bao giờ em có thể giải thích được. 

Sau này câu hỏi đó lại được lập lại bởi anh Dũng, anh họ em, khi anh ấy vì mê chị Tuyết mà bỏ nhà ra đi, về ở hẳn với nhà bác Tính. Chuyện đó trở thành chuyện đàm tiếu của cả vùng, đến nỗi người ta quên hẳn đi miếng da lợn trên lưng hai đứa sinh đôi, chỉ còn nhớ đến khuôn mặt đẹp đến ác nghiệt của chị Tuyết.

Bác dâu em, mẹ của anh Dũng luôn nói:

- Hồng nhan họa thủy. Trong bốn cái họa Thủy, Hỏa, Đạo, Tặc thì Thủy là cái họa ghê gớm nhất rồi cuối cùng mới đến chiến tranh. Đàn bà là cái họa ghê gớm nhất trong đời người đàn ông!

Em chỉ hiểu được câu nói đó cho đến khi nhan sắc của chị Tuyết cuốn cả nhà em vào cơn đại hồng thủy.

Năm anh Dũng bỏ nhà đi theo chị Tuyết anh vừa tốt nghiệp lớp 12 và chuẩn bị đi du học nước ngoài. Nhà bác dâu chỉ có mình anh Dũng là con trai độc nhất, cả cơ nghiệp tiệm vàng mặt tiền đường rồi cũng sẽ là của anh, vì thế không cần cao ráo đến 1.78 mét, trên đầu anh Dũng cũng sáng chóa vòng hào quang hơn màu vàng bốn số chín. Và con gái chạy theo anh nườm nượp, đến nỗi tụi em ngầm đặt tên anh là ông anh bốn mùa! Mỗi mùa anh thay một sắc áo, thay một cô nàng như đất trời thay sắc hoa lá.

Chỉ cho đến khi anh gặp chị Tuyết. Sau này anh nói với em, không phải chỉ vì chị Tuyết đẹp xiêu lòng đến thế:

- Chỉ vì anh chưa gặp ai có tình yêu thuần khiết và mạnh mẽ đến như thế với hai đứa em có miếng da lợn trên lưng. Tình cảm đó trong vắt như kim cương. Ai cũng thèm sỡ hữu một lần trong đời!

Cũng không phải quá lạ, chỉ vì vây quanh anh là những cô mập mờ giữa yêu anh hay yêu tiệm vàng, hoặc là yêu tiệm vàng hơn yêu anh. Thứ tình yêu mạ vàng nhờ nhờ ấy Không thể so sánh với kim cương. Nên anh chìm đắm vào tình yêu của chị Tuyết là điều tất nhiên như hoa hướng dương là phải nở vì mặt trời vậy!

Sau bao lần cấm đoán, ngăn cản, dọa dẫm, khóc lóc cũng không làm anh Dũng thay đổi tình cảm. Bác dâu chợt bất ngờ thay đổi, cắn răng lặng lẽ chấp nhận tình yêu của anh, chỉ với một điều kiện, đám cưới sẽ được tổ chức sau khi anh Dũng tốt nghiệp đại học trở về. Thâm ý của bà chủ tiệm vàng ai cũng thấy rõ, chỉ có đôi tình nhân đang yêu mù quáng lo nhìn vào mắt nhau mà quên cả ngoài kia có bầu trời, có thời gian đang trôi qua, có loài người và có cả lòng người mau thay đổi.

Nhưng thay đổi đến nhanh hơn mọi người nghĩ.

Ngày chị Tuyết sinh hai đứa bé sinh đôi, có nhiều tiếng khóc ở nhà bảo sanh hơn tiếng cười.

Lạt lẻo lật lưng hai đứa bé mới sinh để lộ ra tấm da đen rậm dày lông khác thường, bác dâu nhạt miệng cười rồi quay ngoắt đi. Bác Tính gái, bác Tính trai òa khóc. Anh Dũng cố cười nhưng mặt đã xanh nhợt và vòng tay ôm vợ con lơi ra một phút.

Chỉ có chị Tuyết cười rạng ngời, như không hề nhìn thấy lớp da dầy sần sùi trên lưng hai đứa bé sinh đôi, chị đắm đuối hít hà mãi mùi da thịt trẻ con thơm tho, mùi sữa và mùi của sự sống. Như mẹ của chị mười năm về trước, lớp da khác thường kia chỉ mãi nằm trong đầu, trong ám ảnh của mọi người, nhưng lại hoàn toàn vô hình trong trái tim người mẹ.

Con vừa đầy tháng, anh Dũng lên đường đi nước ngoài du học. 

Hai đứa bé tròn năm, thư từ nước ngoài về đã thưa dần.

Nhà bác Tính bỏ hẵn nghề mỗ lợn, chuyển qua làm miến giong riềng. Màu miến phơi vàng thắm trước sân nắng đẩy mùi cũ giong hoi hoi qua tận nhà láng giềng.

Ngày ba mẹ nhận được thiệp hồng báo tin anh Dũng lấy vợ ở nước ngoài, nhà của em đang bắt đầu chuyển đi sang chổ khác. "lần này không ở gần với người kẻ chợ" mẹ em bảo.

Khi chuyến xe cuối cùng chuyển đồ đạc lăn bánh đi, trời chợt đổ cơn mưa. Mẹ cười tươi:

- Dọn nhà mà mưa là điềm tốt.

Từ nhà bác Tính vọng lại tiếng la thét não lòng. Mẹ quay đầu đi nói nhỏ như gió thoảng:

- Sáng nay có người bắt gặp xác chị Tuyết trên chạc ba cây da!

Tim em trong một giây ngừng đập, hai chân như trì xuống mặt sàn. Nhưng chiếc xe vẫn lầm lì chạy tới trước. Sau lưng mưa mịt mù.

Anh Dũng và người vợ sau này mãi đến giờ vẫn không thể sinh con. Bác dâu của em nghe nói cuối cùng chết vì bệnh lạ, đau đớn vật vả mấy năm trời không chẩn đoán ra bệnh. Sau khi bác sĩ mổ lấy một miếng da lạ đen xì từ trong bao tử ra thì mới hắt hơi thở cuối cùng.

Có lần em bắt gặp hai cô gái rạng ngời hao hao như chị Tuyết đi trên phố. Em tần ngần theo mãi sau lưng, lưng áo thun hai dây trể nãi phô gần trọn cần cổ cao trắng ngần và một khoảng lưng trần mảnh dẻ thon thả mịn màng. Có lý nào!

Bây giờ người ta có công nghệ wax bằng laser, xóa sẹo vĩnh viễn bằng laser, có vết sẹo nào mà không xóa được?

Có chăng là vết sẹo trong lòng người!

UYÊN LÊ

Ý kiến bạn đọc
14 Tháng Sáu 20184:43 SA
Khách
Uyên Lê viết bài nào cũng hay lắm!
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 871)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 715)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2967)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15603)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16030)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 868)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2966)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 714)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4999)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6872)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6160)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2745)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2230)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2057)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2214)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2258)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29224)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35562)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10518)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12419)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3045)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3851)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7551)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6915)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9439)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.