- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NHỮNG TỜ BẠC

09 Tháng Năm 20183:31 CH(Xem: 50842)
khanhTruong-NhungToBac

 

Chung quanh chiếu bạc, ngoài năm người đang thực sự sát phạt còn có thêm ba người nữa, hai vợ chồng chủ nhà và tôi.

Căn phòng chật mù mịt khói thuốc, có lúc khá ồn, có lúc yên lặng đến nghe rõ hơi thở của nhau.

Canh bạc kéo dài từ một giờ chiều đến bây giờ.

Bây giờ, đồng hồ trên tường chỉ bảy giờ tối.

Bình thường, tôi cũng giữ một chân, nhưng hôm nay tôi đến trễ. Từ ngày công ty mở thêm nhiều chi nhánh, tôi rất bề bộn, vẫn phải làm thêm ngoài giờ, kể cả ngày thứ bảy như hôm nay. Tuy không giàu có như những nhân vật đang ngồi đây, nhưng với chỉ số lương sáu mươi bốn ngàn một năm, chưa kể tiền lời được chia căn cứ theo số cổ phần đầu tư, tôi đương nhiên đứng vào hàng trung lưu có khả năng hội nhập bất cứ cuộc chơi tốn kém nào.

Sáng nay gia chủ gọi cho tôi, giới thiệu sơ qua thành phần tham dự.

Ông Thành, giám đốc hệ thống cung ứng thực phẩm Á châu. Huy, luật sư, du học và tốt nghiệp tại Mỹ vào những năm đầu của thập niên bảy mươi. Hà, vua không ngai trong ngành địa ốc. Phan, chủ chợ. Hổ, cựu chính trị gia, nghề nghiệp không rõ nhưng tiền của thuộc hàng triệu phú.

Dù rất nôn nóng muốn được họp mặt với những nhân vật nổi tiếng này, tôi vẫn không thể không giải quyết một số những công việc cần kíp. Mãi hơn sáu giờ mới tạm xong, tôi gọi phone về nhà dặn cậu em có thể tôi sẽ ngủ lại sở, đừng chờ cửa, rồi vội vã ra xe đến đây, sau khi ghé quán ăn vội bữa cơm tối.

Tôi bước vào phòng khách giữa lúc một ván bài đang ở giai đoạn gay cấn.

Mọi người có vẻ say máu, chẳng ai thèm để ý đến tôi ngoài chủ nhà. Ông ta mang cho tôi một chai bia, hỏi có cần gì thêm nữa không? Tôi lắc đầu nói cảm ơn và ngồi xuống sau lưng Hà, vừa theo dõi cuộc sát phạt vừa nghĩ, với khả năng tài chánh của những con bạc đang hiện diện, không hy vọng sẽ có người cạn láng bỏ cuộc. Đành chầu rìa ăn có đỡ ghiền vậy. Tôi chơi phé không hay, không chuyên nghiệp, nhưng lại rất mê. Có lẽ một phần do số tôi bao giờ cũng đỏ, trong mười lần, ít nhất cũng bảy tám lần được hoặc thủ huề, họa hoằn lắm mới thua.

Tôi đưa mắt nhìn quanh một vòng thử lượng đoán tình hình sắp đến, nhưng chưa kịp có kết luận thì ông Thành đã đẩy ra chiếu một xấp bạc.

Huy và Phan xoay bài, bỏ.

Hà hất hàm hỏi ông Thành,

“Bao nhiêu?”

“Năm tờ.” Ông Thành trả lời.

Hổ nhìn Hà,

“Theo không?”

“Còn ông?”

“Theo chứ. Đã biết mèo nào cắn mỉu nào!”

Hổ vừa trả lời vừa đặt tiền vào tụ.

Hà một tay chống cằm, một tay xóc xóc cọc tiền của mình, suy nghĩ. Mỗi người đã có bốn con bài. Ông Thanh đôi cẩu, một già. Hổ đôi xì, một bạt. Hà đưa tôi xem con bài tẩy của hắn, đôi đầm kít, đôi mười, cả ba tụ bài đều ngang ngửa. Ông Thành có lẽ ba cẩu, nếu ông ta bắt được cây già sẽ thành cù lũ cẩu, nhưng cây già đã nổi trên chiếu, mò thêm một con khó hơn mò kim đáy bể, tứ quý càng vô phương vì cây cẩu cũng đã nổi. Như vậy nếu Hổ bắt được cây xì thì khả năng cù lũ xì sẽ rất có thể, con bạt chưa thấy xuất hiện, nhiều phần nó đang là con bài tẩy của Hổ. Hà liếc mắt kiểm soát hai tụ bài bỏ. Chưa có cây đầm nào lộ mặt. Cây đầm rất sáng. Nhìn mặt bài, tụ của Hổ và ông Thành chiếm ưu thế hơn. Nhưng bài bạc mà, biết đâu chừng. Có điều bỏ ra gần năm trăm để mua một con bài kể có nặng. Hà suy nghĩ khá lâu. Tôi ngồi phía sau hắn hồi hộp theo dõi, rất muốn thúc hắn tham dự ván bài.

Ông Thành châm một điếu thuốc, rung đùi,

“Theo chứ?”

“Từ từ.” Hà trầm giọng.

Ba phút trôi qua, cuối cùng hắn quyết định theo. Ông Thành cười lớn,

“Chà, gay cấn đây.”

Và đưa tay rút một con, dấu kín dưới lá đót chưa coi vội. Hổ rút con kế tiếp, hắn nặn rất chậm. Bỗng chửi thề vất con bài ra chiếu.

Cây bồi. Hà thở phào nhẹ nhõm. Như vậy bài của Hổ đã bể. Thêm một địch thủ bị loại khỏi vòng chiến. Chỉ còn hai người. Hà rút. Tôi ghé mắt coi ké. Tôi cũng thở phào. Hà chậm rãi đặt con bài lên tụ của mình. Con mười, cả làng xôn xao. Hà hất hàm vẻ đắc thắng về phía ông Thành,

“Ba xập đủ ăn ba cẩu rồi chứ?”

Ông Thành không trả lời, bình tĩnh kéo một hơi thuốc, từ tốn nặn và đặt con già xuống chiếu, sắc mặt không thay đổi.

Hà ngồi im cố dấu sự khoái trá. Ván này nhất định ông Thành sẽ cạn láng, tôi nghĩ. Không ai có thể ngờ Hà đang có đôi đầm kít. Bài kín như bưng. Ông Thành mua được con bài mình muốn. Thế mới chết! Làm sao ông ta hiểu được đã vừa mua thêm tai họa. Hà làm ra vẻ bất an,

“Cù lũ bạt thật sao cha?”

Ông Thành nhìn vào mắt Hà, từ tốn,

“Đánh đi.”

Hà cầm cọc tiền lên định ném hết vào láng. Nghĩ sao bỏ xuống, chỉ tố thêm hai nghìn,

“Thật thì nhào vô.”

Tôi biết Hà muốn tẩy xạc nhưng sợ lộ liễu quá ông Thành đoán ra sẽ bỏ nên cố tình nương nhẹ để câu địch thủ. Hắn tính hợp ý tôi, tố vừa phải ông Thành tiếc ván bài, cay cú thế nào cũng theo, nếu mạnh tay hơn gặp người đánh cao hoặc nhát đòn có khi lại hỏng ăn.

“Thật hay không chưa biết, nhưng ba xập đánh thế thì văn nghệ quá. Mà đây lại đếch thích văn nghệ, mới phiền!” Ông Thành vừa cười vừa đẩy hết đống tiền còn lại của mình ra chiếu, tiếp,

“Láng tẩy.”

Hà ngước mắt nhìn địch thủ. Vẻ rạng rỡ trên khuôn mặt hắn bây giờ không thể che dấu. Tôi thấy hai bàn tay đặt trên đùi Hà run run. Thần kinh tôi cũng căng thẳng không kém. Ông Thành thua ván này đậm quá. Đánh phé như thế, yếu xìu, yếu hơn cả tôi là cái chắc. Từ lúc ông ta khởi tố năm trăm đồng, ai cũng nghĩ bài của ông ta đã lộ, nếu không có ba bạt, chẳng ai ngu dại bỏ ra những năm tờ để mua một con bài hú họa, con bài duy nhất còn lại trong tụ. Hà lại chống cằm đóng kịch suy nghĩ. Tôi nói nhỏ vào tai hắn,

“Cho tôi theo năm bớp.”

Hà không nhìn tôi,

“Bỏ năm tờ vào đi.”

Tôi móc ví. Hà vớ cọc tiền mới ông Thành vừa vất ra, đếm. Tất cả năm nghìn tư ba chục. Trừ hai nghìn đánh trước, cộng năm trăm của tôi, Hà phải thêm vào hai nghìn chín trăm ba chục nữa. Hắn gãy gọn,

“Bắt.”

Chủ nhà ngồi sau lưng Huy vói tay tới trước gom đống tiền sắp lại vuông vức, đồng thời lấy hai tờ trăm bỏ vào cái giỏ mây đặt bên cạnh. Chẳng hiểu điều gì vừa nẩy ra bên trong chiếc trán hói kia, khiến ông ta chậc lưỡi,

“Chừng này gởi về Việt nam dám xây được một cáí bệnh xá chứ chẳng chơi.”

Câu nói đùa không được hưởng ứng, nó chìm lỉm vào không khí căng thẳng đang vây bọc quanh những con bạc. Hà ngồi thẳng lưng,

“Xong chưa?”

“Xong.” Chủ nhà trả lời.

Hà chồm người qua đống tiền, dùng lá đót kéo con bài tẩy của ông Thành về phía mình, đưa lên cao, nặn.

Cả làng nín thở theo dõi từng động tác của Hà. Sắc mặt hắn chợt đổi, hai bàn tay run nhiều hơn, hắn vọt miệng chửi tục,

“Đụ mẹ, bài phản!”

Và vất con bài ra chiếu. Con bài nằm ngửa bụng tênh hênh như chọc vào mắt mọi người. Con già. Cù lũ già!

Tôi nhủ thầm, đi đứt năm bò!

Không, ông Thành không yếu như tôi tưởng. Nhìn nét mặt lạnh tanh của ông ta, tôi tiếp tục tự cảnh giác, lần sau, gặp tay này liệu mà giữ thân, chết như chơi!

Hà đứng dậy,

“Hôm nay xui quá.”

Và quay qua tôi,

“Ông thế tôi một lát, phải nghỉ xả xui mới được, liên tiếp bốn ván bị phản phé, đánh đấm quái gì được nữa.”

Hà đến sofa ngả người nằm đốt thuốc hút. Tôi ngồi vào chỗ của hắn, lấy tiền ra đậu láng.

Cuộc chơi tiếp tục.

Tôi thua dài dài cả chục ván, hai lần phải ký check đổi tiền mặt của chủ nhà, nhưng tới nửa đêm thì vận đỏ xoay về phía tôi. Đến sáng, tan cuộc chẳng những tôi gỡ được vốn, còn lời thêm nghìn tư. Ông Thành thắng lớn. Hổ thua đậm nhất, đi đứt hơn chục nghìn, Phan thủ huề, Huy có lẽ kiếm được chút đỉnh. Hà từ khi nhường chỗ cho tôi nằm lầu bầu văng tục một lúc rồi ngủ thẳng cẳng đến sáng, hắn cũng thua gần sáu thiên. Dĩ nhiên không thể quên hai người chẳng bao giờ thua: vợ chồng gia chủ, khiêm nhường lắm cũng vồ được hai nghìn tiền xâu.

Ông Thành rủ cả bọn đi ăn sáng. Tôi cảm thấy buồn ngủ muốn về ngay. Đi với đám này lại dông dài không chừng mất cả buổi sáng. Trên đường về tôi ghé một quán phở ăn qua quít dằn bụng. Cơn buồn ngủ làm hai mí mắt nặng trĩu. Tôi tự nhủ lát nữa sẽ ngủ thẳng một giấc đến chiều. Hôm nay chủ nhật, tối nay có cái hẹn với Hạnh. Phải dưỡng sức để còn rong chơi nhảy nhót và quần nhau suốt đêm chứ.

Tôi sống khá bừa bãi. Gần bốn mươi tuổi, độc thân, bố mẹ đã qua đời, chỉ phải lo cho một đứa em trai duy nhất, tiền bạc dư giả, tiêu pha hào phóng, vì vậy tôi có khá đông bạn bè và tình nhân. Trong rất nhiều những tình nhân này từng có đôi người tôi yêu thực sự, vài lần định tiến xa, nhưng hình như tôi cao số, rốt cuộc chẳng đi đến đâu, vả, có lẽ tiền bạc đã làm tôi hư hỏng. Tôi, dưới mắt của một số đàn bà con gái, là con mồi béo bở, họ đến với tôi do mãnh lực của đồng tiền nhiều hơn sự rung động chân thật của trái tim. Trong tình yêu, nếu trái tim không chịu tham dự, sẽ chỉ là đổi chác thuần tính vật dục, lâu dần trở thành một thói quen, nó giết chết sự thơ mộng vốn là nhân tố cần thiết giữa tương quan nam nữ. Tôi, trong tôi, sự thơ mộng kia đã bị khai tử từ lâu!

Tôi quen Hạnh đã ba tháng nay. Hạnh lẳng lơ và táo bạo. Một mẫu đàn bà có ít chất xám trong đầu nhưng lại rất thừa chất nhờn ở phần hạ thể. Yêu Hạnh, dĩ nhiên không, càng không thể nghĩ chuyện ăn đời ở kiếp. Hạnh cũng chẳng quan tâm đến điều đó, đối với nàng, sống là phóng về phía trước, băng băng như một mũi tên, vượt qua những ràng buộc đạo đức, những tai tiếng hệ lụy. Hạnh lý luận rẻ tiền,

“Một người đàn bà qua năm bảy mối tình sẽ đương nhiên bị xếp vào loại lẳng lơ mất nết, trong khi đàn ông càng từng trải trong tình trường bao nhiêu càng được xem như những người lịch duyệt! Điều đó bất công chứ? Em không có ý nổi loạn để phá vỡ cái trật tự kỳ cục kia, nhưng cũng bực mình. Cuối cùng em nhận thấy cách tốt nhất cứ sống như mình thích, mặc kệ thiên hạ muốn nghĩ gì thì nghĩ.”

Tôi lên mặt triết lý ba xu,

“Cái gì cũng có giá của nó. Em sẽ phảỉ trả một giá đắt cho quan niệm cứ sống như mình thích của em.”

“Em đang trả đây thôi. Anh hẳn đã nghe những tai tiếng về em rồi mà. Ngay cả anh nữa, sức mấy anh dám lấy em làm vợ, phải không.”

Phải, sức mấy tôi dám lấy nàng làm vợ. Hạnh biết vậy nên chẳng bao giờ du tôi vào thế kẹt. Tôi nghĩ - với một chút trắc ẩn - đó là sự khôn ngoan duy nhất của nàng.

Tôi lái xe vào lối đi tráng xi măng. Đứa em trai đang đứng trên bậc thềm cùng cô bạn gái. Thiếu nữ khẽ nghiêng đầu chào, tôi mỉm cười đáp lễ rồi quay qua cậu em,

“Có ai gọi anh không?”

“Có, chị Hạnh.”

“Bao giờ?”

“Tối qua.”

“Em trả lời thế nào?”

“Như anh dặn.”

“Tốt. Hình như các em sắp đi đâu?”

“Dạ, đến thư viện.”

“Anh cần ngủ, sẽ tắt phone trong phòng. Nếu em về sớm, có ai gọi nói anh đi vắng, nhé.”

Đứa em trai gật đầu. Tôi vào bathroom rửa mặt, trở ra cởi quần áo leo lên giường. Căn phòng mát lạnh. Tôi kéo tấm chăn mỏng đắp kín ngang ngực, nhắm mắt. Tôi biết giấc ngủ sẽ đến ngay, vì hai mí mắt đã mọng cứng, cay xè.

Tôi thức dậy vào lúc bảy giờ chiều, cũng vừa lúc Hạnh gọi nhắc tôi về buổi du hí tối nay. Tôi nói sẽ đến đón nàng trong vòng một tiếng đồng hồ nữa.

Tôi trầm mình trong bồn tắm. Một giấc ngủ dài không mộng mị, hơi ấm của nhiệt độ nước được pha vừa phải, mùi xà phòng quyện trong không khí khiến đầu óc tôi tỉnh táo hơn. Nghĩ đến cuộc hẹn với Hạnh, tôi cảm thấy vui vui.

Tắm xong tôi trở lại phòng ngủ bật TV xem một lát rồi thay quần áo đến đón nàng.

Chiếc xe chưa vào đến parking Hạnh đã từ nhà đi ra. Tôi mở cửa. Hạnh nhanh nhẹn bước lên. Trong bóng tối chập choạng, tôi nhìn thấy đôi môi Hạnh bóng nhẫy và mùi nước hoa từ thân thể nàng toát ra thoang thoảng quyến rũ. Tôi nói,

“Cho anh hôn.”

Nàng nghiêng người ngước mặt về phía tôi. Chúng tôi hôn nhau. Khi rời ra Hạnh nhìn tôi cười,

“Son dính tùm lum kìa.”

Và vói tay rút tờ “nápkin” lau cho tôi.

“Đi ăn chứ?” Tôi hỏi Hạnh.

Nàng gật đầu,

“Anh đói lắm phải không? Mình xuống đường Beach ăn cơm Thái lan. Cay lùng bùng hai lỗ tai nhưng ngon tuyệt.”

Tôi đưa Hạnh đến nơi nàng chỉ. Đó là một restaurant thuộc loại nhỏ, bên trong bày biện có vẻ xập xệ. Một tấm hình chụp được phóng lớn treo trên bức tường ngang, hai ba cô gái Thái với quốc phục màu sắc lòe loẹt, đầu đội những chiếc mũ nhọn, đang uốn éo tay chân trong một vũ điệu dân tộc đặc thù của xứ chùa tháp. Tấm hình này tôi vẫn thường thấy ở phòng bán vé các công ty du lịch, quen mắt đến chẳng gây nổi ấn tượng. Quán đông, đa số là người Thái, họ nói chuyện với nhau bằng một thứ ngôn ngữ líu lo tôi hoàn toàn không hiểu. Thâm tâm tôi có hơi thất vọng nghĩ cứ “về tắm ao ta” coi bộ thoải mái hơn. Mãi đến lúc dùng xong bữa tôi mới công nhận Hạnh nói đúng, thức ăn Thái lan quả có cay và ngon thật.

Từ quán ăn ra đã mười giờ, tôi chạy luôn đến vũ trường. Ở đó tôi gặp một số bạn bè quen, chúng tôi uống rượu và nhảy. Nửa đêm vãn cuộc, tôi ngà ngà say. Sau khi chia tay với đám bạn, Hạnh nói,

“Đưa chìa khóa đây em lái.”

Đã một lần bị rắc rối về việc say rượu lái xe, nên khi nghe Hạnh đề nghị tôi bằng lòng ngay. Tôi đưa chìa khóa cho nàng. Chiếc xe bò ra khỏi parking. Hai chiếc quạt nước xua tan lớp sương đọng mù khung kính. Dù cửa đã đóng kín nhưng tôi vẫn rùng mình ớn lạnh. Tôi nói Hạnh mở máy sưởi và lục túi tìm thuốc hút. Chiếc bao giấy xẹp lép không còn điếu nào.

“Ghé đâu đó anh mua bao thuốc.”

Hạnh cho xe rẽ vào cây xăng chỗ ngã tư. Tôi vỗ vỗ bàn tay lên đùi nàng,

“Đừng tắt máy anh ra ngay.”

Chờ người đàn ông đứng phía trước trả tiền xong rời chỗ, tôi bước tới vói tay lấy hai gói Marlboro Light thẩy lên mặt quầy, kèm theo tờ dollar năm đồng. Gã thâu ngân người da đen nhanh nhẹn đưa cho tôi hai tờ giấy xanh. Gã cười lịch sự,

“Thank you sir.”

Tôi cầm hai tờ bạc, nhận ra ngay gã thâu ngân đã thối lộn. Gã tưởng tôi vừa đưa mười đồng nên thối lại những sáu đồng. Tôi nghĩ thầm, được hai bao thuốc không mất tiền lại lời thêm một dollar. Cảm giác thích thú trộn lẫn lo sợ dấy lên trong lòng, tôi vội vã bước nhanh ra cửa, hối hả bảo Hạnh rời chỗ đậu ngay. Thâm tâm, tôi ngại gã thâu ngân phát hiện ra sự lầm lẫn sẽ chạy theo đòi lại. Thấy tôi có vẻ nôn nóng, Hạnh hỏi,

“Bộ anh say lắm à?”

“Ừ, có lẽ anh sắp ói. Nhanh lên em.”

Hạnh tưởng thật, nhấn chân ga, chiếc xe chồm tới, phóng ra đường chạy băng băng trên mặt nhựa rộng. Đêm đã ngả về sáng, đường phố trở nên rộng thênh thang. Tôi ngả người vào chỗ tựa, nhắm mắt. Cảm giác lo sợ không còn, sự thích thú cũng rút đi. Tôi giật mình bàng hoàng. Vừa rồi, tôi đã hành xử như một tên ăn cắp hèn hạ! Ồ, có thể như vậy được chăng? Tại sao tôi lại làm thế? Vì say? Không. Tôi mở mắt quay qua nhìn Hạnh, định nói nàng vòng xe lui. Nhưng tôi thở dài chán nản. Chẳng giải quyết được gì hết. Cho dù tôi có trả lại cho gã thâu ngân số tiền thối dư thì câu chuyện vẫn nguyên trạng. Vấn đề không phải ở đó. Vấn đề là bởi động cơ tối tăm nào tôi cảm thấy khoái lạc một cách mọi rợ khi ăn gian được của gã sáu dollars? Hôm qua tôi đánh bạc, thắng, thua chỉ một ván bài đã có khi lên đến vài nghìn. Tối nay tôi cũng vừa rong chơi với Hạnh, riêng tiền “típ” tôi cho cô tiếp viên đã ngót ngét năm chục, kể gì đến bia rượu đổ như suối. Trên năm trăm đồng bay vèo qua cửa sổ không làm tôi động tâm mảy may. Với khả năng làm tiền của tôi, với cung cách tiêu pha hào phóng nổi tiếng từ trước đến nay, mấy đồng bạc nào có nghĩa gì đâu? Vậy mà tôi lại sung sướng vì nó, vậy mà tôi lấm la lấm lét, vội vội vàng vàng cút nhanh ra khỏi cây xăng với một cảm giác ngây ngất đầy thú tính cùng nỗi hãi sợ đốn mạt!

Tôi hình dung khuôn mặt của gã bán hàng có nụ cười trắng bóng hai hàm răng. Thank you sir. Cảm ơn ngài. Ngài! Khuôn mặt gã da đen lớn dần, nụ cười biến thành tiếng cười vang động. Hắn nhìn tôi, nheo nheo đôi mắt như mỉa mai giễu cợt. Ngài! Cảm ơn ngài! Cảm giác tủi hổ trào lên, tiếp tục tăng trưởng khiến ngực tôi tức nghẹn.

Bỗng nhiên tôi nhớ đến một kỷ niệm xảy ra trên hai mươi năm trước.

Năm đó tôi mười một tuổi, đứa em trai hiện đang sống với tôi chưa ra đời. Gia đình tôi thuộc thành phần giàu có nhất nhì trong tỉnh, tôi lại là con một nên được cưng chiều rất mực. Có thể nói ấu thơ tôi được bọc kín bằng nhung lụa. Lên tám, tôi đã biết tiêu tiền và tiêu rất bạo. Khi thích một đồ vật gì tôi mua ngay, không đủ tiền cũng cố vòi vĩnh cho bằng được mới thôi. Mỗi sáng trước khi đến trường, dù đã ăn uống đầy đủ, trong túi tôi vẫn luôn luôn có thêm năm mươi đồng tiêu vặt. Nên nhớ vào những năm đầu của thập niên sáu mươi, với năm mươi đồng, một gia đình nghèo có thể sống no đủ vài ba ngày. Nói rõ như thế để thấy rằng thuở đó tôi “phong lưu” biết bao nhiêu, và lơ mơ về giá trị của đồng tiền cũng biết bao nhiêu.

Nhà tôi tọa lạc ngay phố chính của tỉnh lỵ. Đó là một khối building bốn tầng. Ba tầng trên để ở, tầng trệt là Trung Tâm Nhập Cảng Dụng Cụ Nông Cơ do bố tôi làm chủ. Bên cạnh nhà có một khoảng đất trống, hai năm trước chị người làm của gia đình tôi đi lấy chồng, sau ngày cưới chị trở lại xin bố mẹ tôi cho mướn miếng đất để chồng chị che một mái tôn làm chỗ sửa xe gắn máy kiếm sống. Anh ta chỉ làm việc ban ngày, chiều về với gia đình. Bố mẹ tôi thấy miếng đất bỏ không chỉ tổ mất công làm cỏ nên vui vẻ bằng lòng. Dần dà, từ một chái tôn ọp ẹp, nhờ cần mẫn chăm chỉ, hai vợ chồng chị người làm mỗi ngày mỗi tu chỉnh và nới rộng thêm ra. Trong vòng hai năm, đã nghiễm nhiên biến thành cửa tiệm khang trang bề thế.

Một buổi sáng chủ nhật tôi lân la qua tiệm sửa xe xem ông chủ làm việc, đồng thời cũng có ý chờ gã bán kẹo kéo sắp đi ngang. Tôi đứng chỗ hai trụ cổng ximăng bên ngoài chứ không vào sâu phía trong, tôi sợ gã bán kẹo sẽ đi hút không nhìn kịp. Tôi đứng khoảng năm phút thì một thanh niên dẫn chiếc Honda vào tiệm.

“Nhờ chú coi dùm cái xe, đạp mãi không nổ.” Thanh niên nói.

Sau một hồi kiểm tra máy móc, ông chủ kết luận,

“Vít lửa mòn hết rồi, phải thay cái mới.”

“Bao nhiêu chú?”

“Hai chục.”

“Chú thay giùm đi.”

Xong việc, chàng thanh niên móc ví đưa cho ông chủ hai tờ mười đồng. Đang bận tay với một chiếc xe khác vừa mới mang vào, ông chủ nói,

“Anh để trên bàn hộ tôi.”

Chàng thanh niên làm theo, nói cảm ơn rồi lên xe phóng đi.

Ngay lúc đó một đứa bé, khoảng chín mười tuổi, dẫn người đàn bà mù bước vào tiệm. Đứa bé da xanh mướt lốm đốm vô số những mụn ghẻ nước, hai trũng mắt thâm quầng, mái tóc rối vàng hoe, chiếc quần đùi đang mặc rách tả tơi, lộ hẳn hai mông đít đen mốc ra ngoài. Người đàn bà cầm một đầu cây gậy tre, đầu kia trong tay thằng bé, bà ta bước chập choạng theo sau nó, đôi chân khẳng khiu không ngừng run lẩy bẩy bên trong hai ống quần đen vá chằng vá đụp, gấu đã rách te tưa. Đứa bé cầm chiếc bát sành sứt mẻ chìa về phía ông chủ,

“Chú làm ơn làm phước...”

Ông chủ quay ngang, nhăn mặt,

“Không có, đi đi.”

Đứa trẻ lùi lại chỗ chiếc bàn, tiếp tục nài nỉ.

Một cơn gió lớn bỗng cuốn ngang, hai tờ bạc rơi xuống đất một tờ bay đến tận chỗ tôi đứng. Nhanh như điện, tôi dẫm bàn chân lên tờ giấy bạc. Tôi đứng yên ra vẻ bình thản. Một lúc, biết chắc không ai để ý, tôi ngồi xuống lượm vội nhét vào túi.

Thằng bé ăn xin vẫn tiếp tục lải nhải. Ông chủ nổi nóng đứng dậy, định tỏ thái độ với thằng bé, chợt ông ta phát hiện hai tờ bạc không còn nằm trên bàn. Ông tìm quanh, cúi lượm một tờ, tờ còn lại chẳng thấy đâu. Lập tức ông xoáy tia nhìn vào thằng bé,

“Mầy mới lấy mười đồng phải không?”

Thằng bé dương mắt vẻ ngạc nhiên. Hắn chưa kịp hiểu, vì dù đứng chỗ góc bàn nhưng mặt quay về phía ông chủ, hắn chưa thấy hai tờ bạc. Ông chủ lặp lại, giọng gay gắt,

“Phải không?”

“Con... Con...”

“Khôn hồn trả đây ngay, tao gọi cảnh sát còng cổ bây giờ.”

“Con... Con... đâu có lấy...”

“Đồ lưu manh. Không mày thì còn ai vào đây, hả?

“Con không lấy thật mà...”

Ông chủ nổi nóng chồm tới, vươn tay túm cổ áo thằng bé nhấc lên. Nó co rúm người lại, khuôn mặt tái xanh càng thêm tái. Ồng ta gằn giọng,

“Có trả không, nói?”

“Con không lấy mà... Chú ơi, oan con...”

Nó bật khóc, nước mắt ràn rụa. Người đàn bà mù cất giọng hốt hoảng,

“Chuyện chi rứa...?”

“Mẹ ơi, ông này nói con ăn cắp tiền của ổng. Đâu có mẹ ơi...”

Ông chủ vẫn túm chặt cổ áo thằng bé, hai mắt ông trợn ngược, tay còn lại đưa lên trong tư thế sắp bạt tai. Nó vùng vẫy thoát ra được, lùi dài về phía sau. Ông chủ hét lớn,

“Mày chạy hả... Chạy hả...”

Và nhảy tới. Thằng bé sợ quá luồn nhanh qua gầm bàn, vụt ra cổng. Ông chủ vừa la bai bải tao đập bỏ mẹ mầy... đồ lưu manh... Tao đập bỏ mẹ mầy... Vừa đuổi theo.

Một chiếc xe nhà binh từ hướng ngã tư kềnh càng lao xuống. Chẳng hiểu thằng bé có nhìn thấy hay không, nó vẫn cuống cuồng phóng ngang lộ. Chiếc xe đảo qua đảo lại, kéo dài tiếng rít trên mặt nhựa buốt óc. Tôi hét lớn xe... Xe... Nhưng đã muộn! Cái đầu máy màu cứt ngựa mốc thếch chồm lên, thằng bé ngã bật ra, mất biến dưới gầm xe...

Gần ba mươi năm kể từ biến cố thảm khốc kia, tôi tự hứa sẽ không bao giờ nữa trong suốt cuộc đời còn lại, tái phạm hành vi ăn cắp, dù dưới bất cứ hình thức nào. Lời hứa đó tôi đã giữ được, cho đến hôm nay.

Hôm nay, động cơ và nguyên nhân tối tăm nào đã thúc đẩy tôi, thêm một lần, trở thành kẻ cắp đốn mạt? Tôi nhớ đến cảm giác vừa ngất ngây khoái lạc vừa lo sợ luống cuống lúc vội vàng rời trạm xăng. Bỗng nhiên tôi lợm giọng, muốn ói.

Chiếc xe đã vào đến lối đi tráng ximăng, Hạnh tắt máy mở cửa bước ra, vòng qua phía tôi,

“Xuống anh.”

Nàng đưa tay ra cho tôi nắm. Tôi cầm bàn tay của nàng, bàn tay nóng ấm mềm mại. Tôi nói,

“Cảm ơn em, anh đi được.”

Tôi bước lên mấy bậc cấp đầu thềm, Hạnh theo sau. Cảm giác lợm giọng tiếp tục gia tăng, bụng cồn cào quặn thắt, và không cách chi kềm hãm kịp, tôi nôn thốc tháo ngay dưới chân cánh cửa gỗ dẫn vào phòng khách. Thức ăn chưa tiêu hóa trộn lẫn với men rượu bốc lên oi nồng. Hạnh hốt hoảng,

“Ồ... Ồ... Anh say quá rồi...”

Tôi chống hai tay lên mặt cửa, thở dốc. Một lát, tôi nói với Hạnh,

“Yên trí, anh đâu có say.”

Quả vậy, tôi không say, tôi hoàn toàn tỉnh táo. Cơ thể tôi thừa khả năng để dung chứa một lượng rượu nhiều gấp bốn lần tối nay kia mà.

Nhìn bãi nôn lầy nhầy dưới chân, bãi nôn đang bốc lên cái mùi vị khăm khẳm chua lè, tim tôi nhói buốt. Tôi gục đầu vào tấm cửa gỗ. Hạnh nói,

“Khỏe chưa anh? Vào nhà em pha nước chanh anh uống dã rượu.”

Tôi không trả lời.

Trong đầu tôi bỗng vang dội tiếng thắng rít dài trên mặt nhựa và hình ảnh thằng bé ngã vật ra, mất biến dưới gầm xe, cùng với nụ cười sáng bóng đôi hàm răng của gã da đcn. Thank you sir.

Tôi bật cười, nụ cười khiến nước mắt tôi trào ra ràn rụa.

 

KHÁNH TRƯỜNG

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 838)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 646)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1406)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1460)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1254)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1142)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3292)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2100)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3136)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2622)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9916)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16755)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15750)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16182)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1460)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3292)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3135)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3056)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1254)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5258)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7261)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6609)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 837)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 646)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1406)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2621)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2400)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2246)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2448)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2458)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1142)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13601)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29707)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35731)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10824)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12689)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2100)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3135)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3302)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3590)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4135)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7824)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7136)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9958)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.