- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,823

VẠT MÂY NGANG VỰC

01 Tháng Năm 201811:37 CH(Xem: 10686)
tranh 3 -do duy tuan
Tranh Đỗ Duy Tuấn


VẼ MƯA


Thế là bay vào nhau hỗn loạn
lưu chớp tình 
bức
nóng
tất cả đều khô thôi

 

Thế giới của Tấm
lá chỉ mê hy vọng 
bàn tay thơm số phận

 

Nung nấu quán 
còn rừng 
xanh xao 
chỉ sợ mình đột nhiên thăng mất
giụa giàn nước mắt em rơi.

 

GHÉP


Không còn mỹ từ thơm tho dành giống cây con không bao giờ cho trái
chỉ mảnh ngôn ngữ hằn học
mong một ngày lại xanh

Không gian sống mở tận cùng
trầm lên hương từ lá thân hay rễ
cái chết của tờ lịch còn bay đâu đó

Từ não đến mắt lúc nào cũng muốn buông
mặt hồ tỉnh cơn phiền muộn
sóng trong bình rót chốn triền miên

Vay người hiện diện mang vác vở diễn
bao nhiêu cuộc đời
rung lắc một cuộc thử
sau bức màn 
đội ngũ hóa trang thả đất trời vào râu ria son phấn.

 

VẬY THÔI

 

Biết bao giờ thảnh thơi hiện tượng vơ vẩn bản chất
như những người bạn nhỏ trên cây mận bên đời
tuôn rơi tự do

 

Uống hết định mức kiếp người

con đường tới ban mai không còn ai
tỉnh mộng
chỉ xác thân khô khốc
chúa gọi về trả tội lại cho mình

 

Ánh mắt lau phẳng bao nhiêu biển
tai nghe tiếng thét của từng đàn cá mập
trước khi xé xác chú cá ngừ tội nghiệp
nơi đường biên no nê

 

Cuộc tình nào chợt vào mùa hạn hán
thân ly lòng sắc dao băm
quá khứ quá lịm ngọt
lúc cuồng nhiệt yêu mê

 

Mong không còn tê
đôi bàn chân 
chờ đợi rất lâu trong quá khứ...

 

 

LỜI


Tro cốt lời nói đã cho con đường
đời lao đi bóng họ không một lần ngoái lại
ai từng nguyền rủa người đang truyền cho mình muốn có được thiên hạ
trong nắng gấp rút đầu kiệt suy lý trí
kẻ say quậy phá và đốt sách

Người mong ước được tự do như chim trời
nhưng quên rằng chính mình có súng săn và đạn 
từ tro cốt dạy cho cách ngắm

Nơi không tìm được âm thanh
dọc đường đất nước

chúng ta hay chứng kiến óc đồng loại tung tấy sau vụ tai nạn giao thông
dừng lại 
tĩnh tâm 
bình an tay lái
còn nhiều việc phải làm

 

Chạy thôi 
về nghe cây trốn gió trong lời.

 

VẠT MÂY NGANG VỰC

Đến trước đó đôi mắt còn lưu
đàn ngựa mây viễn du 
chớp mắt 
vực 
ban mai
cánh tay dài vô tận níu giữ hai bờ
chúng đang rơi
có dốc lòng mình không ai tin
vì họ được ve vuốt quá nhiều
từ thế giới tương lai

Bọn ve núi tưởng nghiêng mùa hạ 
cách riêng mình chi bằng im miệng
rút thật sâu vào rừng nguyên sinh

Sống ở mặt đất này bằng sự bằng mặt
của những con sóng ngầm 
bật dậy sau lưng

Họ nói nhiều và rất hay về tình nghĩa
vận khốn cùng ai lên tiếng hỏi han
nhận thấy 
đất 
trời 
luôn nâng bước
kẻ khất thực 
từ tâm

Phải đến nơi uốn lưỡi hạn định
để bắt đầu khúc hát
“ai cứu rỗi linh hồn anh
lúc nọc độc tan nhanh
tuyết bủa vây trở lại”
cỗ áo quan 
con đường

lung lay.

 

HƯƠNG LINH


Màn đêm rồi xuyên hốc mắt thời gian
soi cuộc tình đâu đó đô thành
cần giải thoát cho nhau
chàng tung vào bất tử
dao
chỉ tình yêu tức tưởi giãi chết

Dòng tâm trạng nghèo nàn nhạt nhẽo
chúng ta như bóng chim vút qua hôn mê
tuổi trời oi bức

Mình không thể chống chọi với bệnh thán thư rộng trên thân cây con trong vườn ươm hy vọng
chỉ loài vô tích sự kháng mọi tật bệnh
quay về
những gì chăm bẵm chết héo
sinh sôi nhiều loài bát nháo nhố nhăng

Họ từng đắm ban mai

ngắm đàn bồ câu tắm cát
miền đời xa xăm

 

Sao không tiếng hát mà là tiếng thét
của linh hồn
thổi
bay tung
bao nhiêu
núi đồi vững chãi
trước lúc hỏa táng.

 

LEO CÂY

Dưới lớp sóng chất vấn đôi tay chém đường vòng
hiển nhiên vượt thử thách
lít chít khung lam yêu đương chim sẻ
rìa mép ngàn năm mặt mọc lên rừng
dây leo bế thốc ước mơ

Để mát đời mình tự xoay như cánh quạt
dòng điện ngắt
ánh sáng ngưng đọng đại biểu ngủ quên
cuộc đào tẩu chơi ú tim ngày nhỏ
lời mẹ hát đạn bom chìm xuống
giờ chỉ át lá khô

Bóng bắt chiếc cầu
dắt qua thời hoang dã
lên ngôi những thức bỏ đi tập tàng quẹt kho cơm cháy
rượu ngà thèm cào cào giun dế bướm ong
sống lâu hơn tiên tổ

Trong sương mù 
ở giờ khắc đụng nhau
xe lao trên đường quá rộng
mờ con mắt quắc lỗ tai
người có khi đi qua đời này rất mỏng

Khát thì cứ lặng im 
không ngăn được cú đá 
như nghệ thuật bi hài kịch còn dài 
con mắt đục ngầu nhìn cái chết trong suốt
đội ngũ rút kinh nghiệm sâu sắc

Để ấm vùi sông đáy
để bình thản tự phê
cây xanh nhìn lúc trọc đồi
leo dây rừng thấy tín điều lung lay…

NGUYỄN ĐĂNG KHƯƠNG

Bến Tre, tháng 4 năm 2018.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1165)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1220)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1908)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5940)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5940)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13322)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30278)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81348)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20314)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
26 Tháng Chín 20219:17 CH(Xem: 179)
những sớm mai tắt nghẹn / thơ giúp tôi cất tiếng nói / thoát ra từ những khung cửa khác nhau / cuộc hẹn hò cùng hoa trắng / đến sự chia tay với thư xanh / những bạn thơ văn hào sảng / mỗi số phận viết lên một đời người / tuổi xế chiều đem lại bao dung / và chữ nghĩa khiến chúng ta gần lại