- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,009

THƠ TRẦN VẤN LỆ

23 Tháng Tám 20179:51 CH(Xem: 15826)
2514216_Tangoulis-Misty-Scapes-6-710x701
Photo - Vassilis Tangoulis


Bài Thơ Đẹp Nhất

 

Hôm nay...nắng, mưa, không biết!

Trời buồn như ngày hôm qua

Bầy chim tôi đâu?  Biền biệt

Chúng đang còn ở rất xa?

 

Mở đầu bài thơ ngơ ngác

Bỗng chiếc lá vàng…Đã Thu?

Lá biết lá rụng về đâu?

…như áo qua cầu gió thổi?

 

Tôi không bạn bè để nói

Những điều nghĩ ngợi sáng nay

Bạn bè chắc cũng không đợi

…tôi rồi như chiếc lá bay?

 

Hôm nay…nắng, mưa, không biết

Học trò lên xe đến trường

Lại thêm một năm học nữa

Đời còn mãi mãi dễ thương!

 

Cái buồn dành cho người lớn

Những kẻ “sinh bất phùng thời”

Uy nghi hay là nhỏ mọn

Nghĩa chi đâu nữa cõi đời…

 

Nắng, mưa cũng là cơn bệnh?

Mà không mưa, nắng, thì sao?

Con bướm bay ngang bờ giậu

Chỗ nào bướm đậu?  Chiêm bao?

 

Câu thơ tôi cầm không chặt

Phải chi là tóc, vuốt ve

Mân mê được dòng nước mắt

Thơ còn mấy chút tình quê?

 

Quê Hương, cây bòng, cây bưởi

Quê Hương, bụi trúc, bờ tre

Quê Hương, nhà tầng cao ngất

Quê Hương, bầy ngựa bỏ đi…

 

Được ngồi bên gốc đa nhỉ

Để tôi đếm ngói trên Đình

Để đọc cho người yêu quý

Bài thơ đẹp nhất chữ Mình!

 

Trần Vấn Lệ

 

 

 

Tứ Tuyệt

 

Tứ Tuyệt:  Bài thơ chỉ bốn câu

Hai mươi tám chữ một tâm tư

Em xinh hồi đó năm mười sáu

Trăng vẫn tròn trăng muôn kiếp sau…

 

Tứ Tuyệt:  Bài thơ tiếp nối thêm

Bài  nào thì cũng chỉ vì em

Vì thương vì nhớ mà trăng tỏ

Tranh thủy mặc lồng Nguyệt trước hiên!

 

Em, buổi chiều Trăng, em – sáng Nguyệt

Tóc vờn mây lụa áo thêu hoa

Em dang tay ngọc thành chim núi

Mười bảy không ngờ em biệt xa…

 

Từ đó con sông…sông Tứ Tuyệt

Bốn câu mà lạnh buốt muôn trùng!

Em, chim về núi xanh màu lá

Hoa nở vì em…Hoa Nhớ Nhung!

 

Anh cúi đầu hôn hoa quỳ vàng

Anh cúi đầu hôn…hôn Đơn Dương

Hôn chiếc xe Lam nằm xếp xó

Hôn ga xe lửa…tưởng em còn!

 

Bài thơ Tứ Tuyệt nằm phơi nguyệt

Mai nắng anh cầm phơi trái tim

Anh ngó chữ xưa nhòe giấy cũ

Vẫn còn đẹp lắm, nhé, thưa Em!

 

Trần Vấn Lệ

 

Khi Trái Tim Còn Đập

 

Em nói nhỏ:  “Em thương anh lắm”.  Anh bị lãng tai, nghe tiếng mất tiếng còn.  Ngó ra trời, lúc đó hoàng hôn.  Anh quay lại, hôn em đắm đuối…

 

Ngó lên trăng, thấy cây đa thằng cuội.  Trăng thấy hoài, trăng mấy tuổi rồi trăng?  Và Cuội ơi, sao lại cứ là thằng?  Lên Ông đi!  Lên Cụ đi!  Cho tôi nhờ một tí!

 

Kìa, cán bộ, mới mười lăm, tuổi nhí cũng bắt tù: gọi chúng ông bằng Ông!  Tuổi mười lăm là tuổi còn đi lông nhông, xưa anh thấy má em hồng, chưa làm thơ thương nhớ…

 

Bây giờ anh, sĩ quan đi ở đợ, có ra gì mà em nói thương anh?  Hai trái tim vàng, một túp lều tranh, bài thơ tình, cảm ơn em gợi ý!

 

Anh hôn hai con mắt em, hai con mắt kiều mỵ.  Anh hôn sóng mũi em, cái mũi cao như ngọn núi Lâm Viên.  Em vẫn như ngày nào, em vẫn còn duyên.  Anh quên mất anh là người viễn xứ…

 

Chưa bao giờ anh nghe câu tình tứ như chiều nay…anh nghe được từ em!  Anh để tay lên ngực: anh còn trái tim.  Anh để tay lên vai em:  hoàng hôn đang tới…

 

Em em à, hãy nghe anh nói;  “Anh yêu em đến hơi thở cuối cùng như lời thề anh nói với non sông, là tấm lòng, anh trải đây, nhật nguyệt!

 

*

 

Đó, bữa nọ mình đi ngang Phan Thiết, ra Phan Rang, về Ngoạn Mục, Dran…đi tới Lạc Dương, đi tới Suối Vàng, ngả lưng vào sườn núi Lâm Viên nhìn mây trắng bay trên đầu núi…

 

Cảm ơn em bốn mươi năm chờ đợi.

Cảm ơn em còn Tổ Quốc, anh về…

 

Trần Vấn Lệ

 

Khói Quyện Trầm Hương

 

Hôm nay em nói em đi Chùa, em sẽ ăn trưa ở đó trưa, ăn cho được nhẹ lòng ham muốn, cho thấy đời không có thiếu, thừa…

 

Em muốn hồn nhiên như lúc nhỏ níu tà áo Mạ nép lưng Ba, em quỳ tay chắp Nam Mô Phật…lòng tự nhiên bừng một đóa hoa…

 

Em nói dễ thương như tiểu thuyết để anh mặc sức diễn thành thơ.  Chúng ta rồi sẽ như chim sẻ ríu rít bên nhau trước bệ thờ…

 

Em nói líu lo như chim rừng hôm nào về đậu ở Dran, áng mây Ngoạn Mục trùm Eo Gió, hoa anh đào nở rực sáng Xuân…

 

Em nói như là chuông thánh thót, ờ em hôm nay em đi Chùa, Sư Ông sẽ tặng phong bì đỏ, em cúi đầu, em ấp úng thưa…

 

Ôi em, em vẫn là cô bé, vẫn nhé như trăng tháng Bảy Rằm, xá tội vong nhân, đời hạnh phúc với người kề cạnh kẻ xa xăm…

 

*

 

Hồi tối anh mơ thấy dọc đường, một o xinh lắm áo mù sương, anh đưa tay hứng vầng trăng bạc rồi gọi âm thầm em-cố-hương…

 

Em nói nữa đi, em cố quận, con đò, bến cũ, bóng cây đa…Mái tranh quán lá ngày mưa bão, khói quyện trầm hương anh thiết tha!

 

Trần Vấn Lệ

 

 

Ý kiến bạn đọc
01 Tháng Bảy 202012:45 SA
Khách
Chao Ban thi-si. Toi gap Ban trong hoan canh nghiet-nga o tong trai tu-binh so 8, o xa Ham Tri,BinhThuan 1977-78,
cung 1 khoi uoc do 280 nguoi.. Anh duoc lam viec nha, lua nhung giai cua khoa lang; va toi co trao doi voi anh vechu
"giai"....Chac lau qua,co con nho khong Ban? Men chuc Ban va Quy quyen khoe, hanh phuc...
27 Tháng Tám 20173:28 SA
Khách
Tôi nhớ ông là lính sư đoàn 23 BB hồi đó là Trần thức lệ có đúng khg? Tôi có nói chuyện với ông ơ bv2dc Kon Tum nếu khg lầm ,
27 Tháng Tám 20172:12 SA
Khách
Anh Tran Van Le
Doc tho anh ma nho Dalat vo cung,cam on Anh da cho toi nhung rung dong cuoi doi
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1554)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1605)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2284)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6287)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6156)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13520)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30627)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81659)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20481)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 310)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.