- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TRANG SỬ THEO THỰC ĐƠN KHMER ĐỎ VÀ MẠCH SỐNG TRUNG QUỐC

15 Tháng Bảy 20175:35 CH(Xem: 52908)

 

Tưởng niệm hai triệu vong linh

đã chết trong thời kỳ Khmer Đỏ

 

 

Lời Dẫn: "History à la carte", là một thuật ngữ rất mới của Chương Lập Phàm/ Zhang Lifan một sử gia Trung Quốc, khi trả lời phỏng vấn báo New York Times [March, 2015], ông đã đưa ra một ví von: "lịch sử theo thực đơn / history à la carte", theo cái nghĩa nhà nước Trung Quốc chỉ muốn phổ biến tuyên truyền những điều thấy có lợi, trong khi cố né tránh những khía cạnh tiêu cực có thể gây chỉ trích. Mối liên hệ thắm thiết giữa Bắc Kinh và Khmer Đỏ đang là trang khuyết sử, không có trong thực đơn của Trung Quốc. (1)   

 

NGÔ THẾ VINH

 


"Không có trợ giúp của Trung Quốc, chế độ Khmer Đỏ không thể tồn tại quá một tuần lễ. Without China's assistance, Khmer Rouge regime would not last a week" Andrew Mertha, Cornell University 2014. (2)

 

"Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc không có liên hệ chính trị nào với Khmer Đỏ. Sự trợ giúp chỉ giới hạn trong việc cung cấp thực phẩm và nông cụ." Trương Kim Phong/ Zhang Jinfeng, đại xứ TQ tại Cambodia, 2010. (1)

 

*

      Dân số Cambodia 2017 hơn 16 triệu, tăng rất nhanh hơn gấp đôi so với năm 1975 chỉ có hơn 7.5 triệu, hơn 90% theo Đạo Phật Nguyên Thuỷ hay Phật giáo Nam Tông / Theravada Buddhism được coi như quốc giáo của Cambodia. Các sắc tộc thiểu số chính bao gồm: người Việt, người Chăm, người Hoa.

 

CHÂU ĐẠT QUAN, VÀ CHÂN LẠP PHONG THỔ KÝ

       Vào cuối thế kỷ 13, triều đại nhà Nguyên / Yuan một người Tàu tên Châu Đạt Quan / Chou Ta-Kuan周达观 gốc Ôn Châu / Wenzhou tỉnh Phúc Kiến, nhà hải hành Trung Hoa, đã du hành từ Biển Đông rồi theo sông Mekong lên tới Biển Hồ tới thăm Angkor (1296) vào thời vua Indravarman III, lưu lại đó gần một năm (1297). Châu Đạt Quan không phải là người Tàu đầu tiên tới xứ Chùa Tháp, nhưng ông được biết tới do cuốn hồi ký kỳ thú Chân Lạp Phong Thổ Ký 真臘風土記, viết về địa lý nhân văn nước Chân Lạp tức Cambodia ngày nay; cuốn sách sau đó được dịch sang tiếng Pháp [Mémoires Mémoires sur les Coutumes du Cambodge], tiếng Anh [The Customs of Cambodia], tiếng Đức [Sitten in Kambodscha], và tiếng Việt của ký giả Lê Hương, do Kỷ Nguyên Mới xuất bản 1973. 

 

hinh 1-ntv-7-2017

 

Hình 1: từ trái, Chân Lạp Phong Thổ Ký, bản tiếng Việt của Lê Hương, Saigon 1973; Mémoires sur les Coutumes du Cambodge, bản tiếng Pháp của Paul Pellot, Hà Nội 1902; The Customs of Cambodia, bản tiếng Anh 1993; Sitten in Kambodscha, bản tiếng Đức 1999; [nguồn: internet]   

 

      Học giả Tây phương như Peter Harris, người có công dịch từ nguyên bản tiếng Hán sang tiếng Anh đã đối chiếu chuyến du hành thám hiểm của Marco Polo và Châu Đạt Quan trong cùng thời kỳ này. 

 

      Có lẽ người Tàu đã có mặt trên xứ Chùa Tháp sớm hơn nhiều. Trường hợp Châu Đạt Quan cũng giống như Henri Mouhot sau này, tuy Mouhot (1826-1961) không phải là người Tây Phương đầu tiên tới Angkor nhưng do những trang bút ký hấp dẫn và lôi cuốn được in ra 3 năm sau khi ông mất khiến tên tuổi Mouhot đã gắn liền với khu đền đài Angkor. 

 

NGƯỜI TÀU TRÊN ĐẤT MIÊN

      Do người Tàu hầu như đã có mặt khắp nơi trên thế giới, nên mới có câu tục ngữ ví von: “Ở đâu có khói, thì ở đó có người Tàu! Where there's smoke, there's Chinese 

 

[Bước sang thế kỷ 21, câu ví von trên mang thêm một ý nghĩa khác: “Ở đâu có khói, thì ở đó có Tàu! Where there's smoke, there's China” theo cái nghĩa, nơi nào có Tàu nơi đó có ô nhiễm, vì Trung Quốc là quốc gia hàng năm thải ra 9.7 tỉ tấn khí CO2, chiếm 1/4 tổng lượng khí thải nhà kính / greenhouse gases toàn cầu, nhiều hơn của cả hai nước kỹ nghệ Mỹ và Ấn Độ cộng lại].

 

      Vào khoảng cuối thế kỷ 17, đời nhà Thanh do những biến động chính trị ở Hoa lục với phong trào Bài Mãn Phục Minh nên đã có đông đảo những cộng đồng người Hoa di cư xuống các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Cambodia, Lào, Thái. Họ có gốc gác từ các tỉnh duyên hải phía đông nam Trung Quốc như Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến, mà người Khmer gọi một tên chung là Cambodia's Hua Chiao hay người Hoa hải ngoại / Overseas Chinese. Đặc điểm của đám di dân này đa số là đàn ông, và qua những cuộc hôn nhân hợp chủng, họ mau chóng hội nhập vào các cộng đồng cư dân bản địa.

 

       Không ít các cấp lãnh đạo xứ Chùa Tháp đều ít nhiều có mang huyết thống Hán tộc bước sang thế hệ thứ hai thứ ba như Lol Nol [ông ngoại là người Hoa gốc Phúc Kiến/ Fujian], Ieng Sary [sinh đẻ ở Trà Vinh, nam Việt Nam, mẹ gốc Hoa], Khieu Samphan [cũng có gốc Hoa từ bà ngoại], Nuon Chea [có cha người Hoa và mẹ người Khmer lai Hoa], Pol Pot [có cha là người Khmer gốc Hoa và Saloth Sar là một tên khác của Pol Pot, Sar có nghĩa là trắng trong ngôn ngữ Khmer, để phân biệt với nước da rất sậm của người Khmer thuần chủng]...

     

      Sau thời kỳ Khmer Đỏ, trong những năm gần đây, đã lại có thêm những đợt người Tàu từ Hoa Lục, Đài Loan, Mã Lai di cư vào Cambodia tìm cơ hội làm ăn lập nghiệp.  

 

      Người Tàu có khả năng thích nghi cao, họ tới các thành phố nhưng cũng có mặt cả những vùng thôn quê hẻo lánh. Và điều ai cũng nhận thấy là các cộng đồng người Hoa dễ dàng được đón nhận và họ không có khó khăn để hoà nhập vào xã hội người Miên. Do có tài buôn bán và cần cù chịu khó lại đoàn kết nên họ nhanh chóng trở thành những doanh nhân thế lực khống chế nền thương mại kinh tế và cả có nhiều ảnh hưởng chính trị trên quốc gia này.

 

      Rất khác với người Việt cho dù đã trải qua nhiều thế hệ, sinh đẻ trên đất Miên nhưng họ vẫn luôn luôn bị kỳ thị do mối thù hận lịch sử và bị người Khmer gọi một cách bỉ thử là bọn "Yuon / bọn bắc", và cả với cộng đồng người Chăm theo đạo Islam cũng bị người Khmer nghi kỵ vì bị coi như hợp tác với người Việt trong quá khứ như một lực lượng kìm kẹp. Người Việt và người Chăm sống trên đất Miên là hai cộng đồng thiểu số bị sát hại nhiều nhất qua chính sách tẩy sạch chủng tộc / ethnic cleansing trong thời kỳ Khmer Đỏ.  

 

     Không có con số chính xác về số người Tàu hiện sống ở xứ Chùa Tháp, con số 500 000 vẫn được xem là quá thấp, vì số đông người Miên gốc Hoa / Chinese Cambodian đã được coi như người Miên không nằm trong con số thống kê này.  

 

KHMER ĐỎ VÀ CHINA CONNECTIONS

      700 năm sau chuyến du hành thăm xứ Chùa Tháp của Châu Đạt Quan, mối liên hệ giữa Cambodia và Trung Quốc là một chặng đường lịch sử rất gập ghềnh và phức tạp. Nếu lấy dấu mốc kể từ ngày Pháp trao trả độc lập cho Cambodia (1953), thì dù với thể chế nào, từ thời ông Hoàng Sihanouk tới Lon Nol, rồi Pol Pot hay Hun Sen; mối liên hệ song phương giữa Bắc Kinh và Phnom Penh luôn luôn có một mẫu số chung: đó là "chính sách đối trọng" của Bắc Kinh đối với Việt Nam, làm sao giảm thiểu ảnh hưởng của Việt Nam trên quốc gia láng giềng này. Cho dù cả Bắc Kinh và Hà Nội vẫn rêu rao mối quan hệ khăng khít "môi hở răng lạnh" giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc với khẩu hiệu "bốn tốt và 16 chữ vàng" nhưng Bắc Kinh thì luôn luôn theo đuổi một chiến lược nhất quán và giấu mặt cốt sao làm suy yếu Việt Nam đưa quốc gia này vào vòng lệ thuộc. Cũng phải kể tới "một cuộc chiến môi sinh" không tuyên chiến của Bắc Kinh, huỷ hoại con sông Mekong cũng là huỷ hoại Đồng Bằng Sông Cửu Long, là vựa lúa cũng là nguồn sống của Việt Nam.

 

      Rất sớm, cấp lãnh đạo Khmer Đỏ đã được Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp đón tại Bắc Kinh và ca ngợi. Tháng 9, 1977 Pol Pot lại sang viếng thăm Trung Quốc và được Hoa Quốc Phong, người kế thừa Mao Trạch Đông tiếp đón trọng hậu. Pol Pot khẳng định, "Đối với Cambodia, sự giúp đỡ quý báu nhất của Trung Quốc là tư tưởng Mao Trạch Đông".

 

hinh 2-ntv-7-2017

 

Hình 2: Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp đón cấp lãnh đạo Khmer Đỏ tại Bắc Kinh, từ trái: Mao Trạch Đông, Pol Pot và Ieng Sary. Khmer Đỏ rập khuôn theo Mao, được hậu thuẫn và viện trợ tối đa của Bắc Kinh, đã tiến chiếm Nam Vang 17.04.1975 khởi đầu một chế độ diệt chủng với 2 triệu người chết, trong đó không ít nạn nhân là người Việt, người Chăm Islam trong khoảng thời gian từ 1975-1979. [nguồn: photo AFP]

 

      Vẫn còn đó những trang sử chưa được soi sáng: mức độ liên hệ giữa Trung Quốc với chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Cho đến nay, đối với Trung Quốc đó vẫn là điều cấm kỵ / taboo, một hộp đen / black box mà Bắc Kinh tránh nhắc tới và muốn mọi người lãng quên.

 

      Và cũng không ngạc nhiên để hiểu tại sao, trong bao nhiêu năm, Bắc Kinh luôn luôn chống đối việc đưa ra các lãnh tụ Khmer Đỏ ra xét xử chính vì mối e ngại những điều sẽ được phanh phui trước toà. Những sự thật ấy nếu được phô bày ra trước thế giới, đó là một hổ thẹn về thể diện quốc gia / national embarassment cho nhà nước Trung Quốc.

 

      Khi được hỏi và phải lên tiếng thì các viên chức Trung Quốc hoặc tìm cách phủ nhận hoặc cố giảm thiểu tầm quan trọng của mối liên hệ này. Zhang Jinfeng / Trương Kim Phong đại sứ Trung Quốc tại Cambodia, năm 2010 đã tuyên bố: "Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc không có liên hệ chính trị nào với Khmer Đỏ. Sự trợ giúp nếu có chỉ giới hạn trong việc cung cấp thực phẩm, và nông cụ như lưỡi cào, liềm hái."

 

       Nhưng theo Youk Chhang người sống sót sau Khmer Đỏ, hiện là Giám đốc Trung Tâm Tài liệu Cambodia / Documentation Center of Cambodia thì sự thật không phải như vậy. Theo hồ sơ lưu trữ và những lời khai của các cựu viên chức Khmer Đỏ thì "Cố vấn Trung Quốc có mặt cả với đám cai tù / prison guards lên tới cấp lãnh đạo cao nhất của Khmer Đỏ; và Trung Quốc chưa bao giờ chịu thừa nhận hoặc xin lỗi cho sự kiện này." (1) 

 

      Theo sử gia Milton Osborne thì phần tham dự dính líu của Trung Quốc với Khmer Đỏ có tầm mức sâu rộng và quan trọng hơn rất nhiều. Từ trước và sau 1975, Khmer Đỏ đã được Trung Quốc trực tiếp hỗ trợ trên mọi phương diện.

     

      Theo Andrew Mertha, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc và Á châu Thái Bình Dương / China and Asia Pacific Studies Program tại Đại học Cornell, cũng là tác giả cuốn sách Brothers in Arms; Chinese Aid to the Khmer Rouge 1975-1979, thì chính Trung Quốc đã cung cấp 90% viện trợ cho Khmer Đỏ: từ lương thực, các thiết bị xây dựng tới trọng pháo, xe tăng và cả máy bay. Cho dù biết Khmer Đỏ đang tàn sát chính nhân dân Cambodia nhưng đám cố vấn quân sự và các kỹ sư Trung Quốc vẫn cứ tiếp tục trợ giúp cho những người bạn đồng minh cộng sản của họ. Andrew Mertha khẳng định: "Không có trợ giúp của Trung Quốc, Khmer Đỏ không thể tồn tại quá một tuần lễ." (2)

 

     Giới nghiên cứu cho rằng ít nhất có tới hàng chục ngàn cố vấn Trung Quốc được mệnh danh là "chuyên viên kỹ thuật" hiện diện kín đáo từ cấp lãnh đạo cao nhất của Khmer Đỏ xuống tới hạ tầng, cùng với viện trợ quân sự với đủ loại súng đạn vũ khí và cả huấn luyện. Trung Quốc còn giúp Khmer Đỏ xây dựng đường xá, cầu cống, đường sắt, nhà máy lọc dầu kể cả một phi trường lớn nơi tỉnh Kampong Chhnang cách thủ đô Nam Vang hơn 90 km, với đường bay dài 2.4 km; tới cuối năm 1978 các công trình này gần như hoàn tất. Có giả thiết cho rằng, phi đạo ấy có thể sẽ được Trung Quốc sử dụng như điểm xuất phát cho các máy bay quân sự ném bom oanh kích các tỉnh phía nam Việt Nam khi có chiến tranh. [Hình 4]

 

hinh 3-ntv-7-2017

 

Hình 3: Bộ trưởng Quốc Phòng Khmer Đỏ Son Sen (giữa), đứng bao quanh bởi các cố vấn Trung Quốc 1977 [nguồn: Trung tâm Tài liệu Cambodia].      

 

      Có lẽ Hà Nội thấy trước được nguy cơ cận kề đó, lại bị quân Khmer Đỏ đồng loạt tấn công các tỉnh biên giới phía tây, nên tháng 12 năm 1978, hơn 100,000 quân đội cộng sản Việt Nam đã tràn qua Cambodia lật đổ chế độ Pol Pot và lập nên một chính phủ Phnom Penh ban đầu thân Việt Nam. Và để cứu chế độ Khmer Đỏ khỏi hoàn toàn sụp đổ, Trung Quốc cũng đã mở ngay các cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 phía bắc Việt Nam như một áp lực trả đũa mà Đặng Tiểu Bình đã giận dữ gọi "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam một bài học".

 

       Những trang sử về mối liên hệ của Trung Quốc và chế độ Khmer Đỏ diệt chủng đã và đang bị kiểm duyệt, không chỉ bởi Bắc Kinh mà nơi chính quốc gia nạn nhân do những lợi lộc nhỏ nhặt trước mắt. Cho dù đó là chặng đường lịch sử đẫm máu và đen tối nhất của quốc gia Cambodia trong Thế kỷ XX nhưng vẫn không được soi sáng.

 

 

 hinh 4-ntv-7-2017

Hình 4: Phi trường nơi tỉnh Kampong Chhnang cách Nam Vang hơn 90 km của Khmer Đỏ do hàng trăm kỹ sư Trung Quốc giúp xây, với phi đạo dài 2.4 km, nhân công là hàng chục ngàn tù nhân khổ sai và phần lớn đã bỏ mạng nơi công trường này. [nguồn: Nikkei Asian Review, August 21, 2015].

 

 

hinh 5-ntv-7-2017

     

Hình 5: Cán bộ Khmer Đỏ Um Sarun đứng giữa, cùng với các cố vấn quân sự Trung Quốc, đám cố vấn TQ cũng mặc pyjama đen cổ quấn khăn rằn và hiện diện rất kín đáo [nguồn: Trung tâm Tài liệu Cambodia]

 

      Ngay chính Hun Sen, ở cương vị Thủ tướng Cambodia cho dù không thể công khai ngăn cản việc đem ra xét xử các tội phạm Khmer Đỏ, nhưng ông vẫn đưa ra lời cảnh báo như một hăm doạ rằng: "nếu để việc điều tra và xét xử Khmer Đỏ đi quá xa, Cambodia sẽ có nguy cơ nội chiến." Trong khi đó thì Om Mak, một người dân tỉnh Banteay Meanchey thì cho rằng lo ngại của ông Hun Sen là không có cơ sở, ông ta nhận xét: "Tôi không nghĩ rằng việc mở rộng điều tra tội ác Khmer Đỏ sẽ khơi mào cho chiến tranh. Không ai trốn trong rừng cả, cũng không ai có đủ võ trang để gây bất ổn cho đất nước."

      Cũng dễ hiểu khi biết Hun Sen có gốc gác từ Khmer Đỏ, sau đó mới đào ngũ sang Việt Nam năm 1977, ban đầu thân Việt Nam nhưng nay thì đang chọn đi vào quỹ đạo Trung Quốc.  

     

      LỊCH SỬ THEO THỰC ĐƠN

      Chương Lập Phàm / Zhang Lifan một học giả cũng là sử gia Trung Quốc, khi trả lời phỏng vấn của New York Times [March, 2015] đã đưa ra một thuật ngữ ví von: "lịch sử theo thực đơn / history à la carte", theo cái nghĩa nhà nước Trung Quốc chỉ muốn phổ biến tuyên truyền những điều thấy có lợi, trong khi cố né tránh những khía cạnh tiêu cực có thể gây chỉ trích. (1)

 

      Câu chuyện kể lại, khi có đoàn du khách tới thăm Viện Bảo Tàng Diệt Chủng Tuol Sleng ở thủ đô Nam Vang [Hình 6,7], trước tiên viên hướng dẫn du lịch hỏi có ai trong đoàn tới từ Trung Quốc không, không có ai lên tiếng hoặc giơ tay, khi ấy anh ta mới yên tâm thuyết trình về cuộc chiến diệt chủng của Khmer Đỏ từ 1975 với 2 triệu người chết và trong đó có vai trò của Trung Quốc.

 

      Sau này, anh ta giải thích thêm là nếu có người Tàu trong đoàn du khách thì "Họ sẽ rất giận dữ khi nghe tôi nói Pol Pot được Trung Quốc trợ giúp nên mới giết được nhiều người đến như vậy." Và họ đáp trả là "Điều đó không có thật, hơn nữa bây giờ chúng ta là bạn, không nhắc về quá khứ nữa." (1)

 

 

hinh 6-ntv-7-2017

 

Hình 6: Cổng vào Viện Bảo Tàng Diệt Chủng Toul Sleng, còn có tên S-21 [trái]; tượng Pol Pot trên nền nhà trong Viện Bảo Tàng [phải] với trên tường là vô số hình ảnh đen trắng do Khmer Đỏ chụp các nạn nhân bị tra tấn và thảm sát nơi đây. [photo by Ngô Thế Vinh]

 

 

 hinh 7-ntv-7-2017

Hình 7: Bản đồ đất nước Cambodia thời kỳ Khmer Đỏ được ghép bằng những sọ người với Biển Hồ và con sông máu Tonle Sap. [photo by Ngô Thế Vinh].

 

hinh 8-ntv-7-2017 

Hình 8: Brothers in Arms; Chinese Aid to the Khmer Rouge 1975-1979. Andrew Mertha. Cornell University Press, February 2014. (2)

 

      Chuẩn bị kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến Thứ II vào tháng 9, 2015 với cuộc diễn hành quân sự vĩ đại, Bắc Kinh không quên lên án tội ác chiến tranh của quân đội Nhật Bản, và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường/ Li Keqiang nói với báo giới: "Giới lãnh đạo Nhật Bản phải nhận lãnh những trách nhiệm lịch sử về tội ác của các thế hệ trước."

 

      Nhưng điều trớ trêu là chính Trung Quốc không hành xử như vậy đối với các tội ác tầy trời của chính họ trong quá khứ. Kuni Miakabe, một nhà ngoại giao Nhật hồi hưu đã mai mỉa về chính sách nước đôi / double standard của Bắc Kinh mà ông gọi là "tiêu chuẩn toàn cầu về liêm khiết trí thức / the global standard of intellectual fairness"; đó là một mặt thì yêu cầu các quốc gia khác không xoá bỏ lịch sử / whitewash the history nhưng chính Trung Quốc lại không muốn nhắc tới phần trách nhiệm về cái chết của 45 triệu người do chính sách Đại Nhẩy Vọt / Great Leap Forward của Mao Trạch Đông, cũng như tội ác về cuộc Cách mạng Văn Hoá 1966-76 gây chết chóc và chấn thương cho cả một thế hệ và rồi mới đây là vụ thảm sát sinh viên đòi dân chủ ở Thiên An Môn. Và Trung Quốc đã không hề có một Viện Bảo tàng cho những giai đoạn lịch sử như vậy." (1)

 

      Nhà nước Trung Quốc rõ ràng có một chính sách "uốn nắn lịch sử" khởi đầu từ trong các trường học. Các bộ sách giáo khoa về lịch sử đã tránh đề cập tới thời kỳ Khmer Đỏ, kể cả cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 do Đặng Tiểu Bình phát động để trừng phạt Việt Nam và cứu chế độ Pol Pot cũng bị kiểm duyệt và không được nhắc tới. Chính sách kiểm duyệt lịch sử từ sách vở tới báo chí truyền thông của Trung Quốc hữu hiệu tới nỗi đa số các sinh viên đại học ở Trung Quốc hầu như không biết gì về cả hai sự kiện này.

 

     Nhìn về Việt Nam thì giới viết sử chính thống theo tuyên giáo của đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt bảy thập niên qua cũng tồi tệ và không hơn gì Trung Quốc. Môn sử học cũng chỉ là một công cụ chính trị cho các đảng Cộng sản và những chế độ độc tài trên thế giới.

 

HUN SEN ĐI VÀO QUỸ ĐẠO TRUNG QUỐC

      Sinh năm 1952 tại một ngôi làng nhỏ thuộc tỉnh Kompong Cham bên bờ con sông Mekong, nhưng khai sinh sớm hơn [4/4/1951], để đủ tuổi gia nhập Khmer Đỏ. Học vấn qua bậc tiểu học, sau đó tham gia các phong trào tranh đấu. Có gốc là sĩ quan Khmer Đỏ, bị thương hư một mắt khi theo Pol Pot tấn công thủ đô Phnom Penh tháng 4, 1975. Sau đó đào ngũ qua Việt Nam trước 1979.

      Khi quân CS Việt Nam tràn qua Cam Bốt, lật đổ chính quyền Khmer Đỏ, Hun Sen được đưa lên làm Ngoại Trưởng trẻ nhất năm 27 tuổi, rồi Thủ tướng Cambodia từ tháng 1, 1985 lúc mới 33 tuổi, giữ ghế Thủ tướng cho tới nay đã hơn 32 năm, lâu nhất của cả thế giới. [Phnom Penh Post, Jan 21, 2010]

 

hinh 9-ntv-7-2017

 

Hình 9: Hun Sen, con người muôn mặt, là Thủ tướng Cambodia,

trị vì lâu năm nhất trên thế giới [nguồn: internet]

 

      Và nếu không có gì bất ngờ, Hun Sen sẽ còn thống lĩnh chính trường Cam Bốt và là khuôn mặt lớn của khối ASEAN trong hàng thập niên nữa.

Lãnh đạo Đảng Nhân Dân Cam Bốt, Hun Sen được giới ngoại giao và báo chí coi như một thứ “Người Hùng” của Cambodia.

 

      Sẽ thiếu sót, nếu không ghi nhận ở đây, trong thời gian làm Thủ tướng, ông Hun Sen đã nhận được khoảng hơn 10 học vị Tiến sĩ Danh dự từ các đại học khác nhau trên khắp thế giới, trong đó có 2 học vị Tiến sĩ của Hà Nội: một về Chính trị học (1991), và một về khoa Giáo Dục (2007). Với từng ấy quyền lực và hào quang, Hun Sen được quốc vương Sihanouk phong cho phẩm tước cao quý “Samdech” [Wikipedia] và còn được mệnh danh là “Đứa Con của Đế quốc Khmer / The Son of the Khmer Empire”.

 

      Năm 1987, Hun Sen từng bị Amnesty International lên án vi phạm nhân quyền vì các vụ tra tấn tù nhân chính trị. Nổi tiếng cai trị bằng đôi bàn tay sắt, nhưng cũng không thiếu tai tiếng về các vụ tham nhũng về đất đai, dầu khí và các hợp đồng khai thác tài nguyên của Cambodia. Bị các đối thủ lên án là “bù nhìn” của Hà Nội, nhưng thực tế Hun Sen rất bản lãnh và độc lập, tuy không công khai lên tiếng chống Việt Nam nhưng đã dần dần từng bước chọn đưa đất nước Cambodia tiến gần vào quỹ đạo của Bắc Kinh; với dòng sự kiện:

 

Tháng 11, 2010_ Thủ tướng Hun Sen, sau Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS ở Nam Vang, lại một lần nữa đã bác bỏ mọi mối quan ngại về ảnh hưởng của các đập thủy điện trên thượng nguồn đối với dòng chảy sông Mekong. Ông khẳng định rằng chu kỳ lũ lụt hay hạn hán mới đây là hậu quả của thay đổi khí hậu / climate change và khí thải carbon / carbon emissions chứ chẳng liên hệ gì tới chuỗi những con đập thủy điện của Trung Quốc.

 

Tháng 6, 2009_ Fred Pearce trong một tường trình Environment 360 Đại học Yale cho rằng xây đập chắn ngang sông Mekong là một đòn giáng nghiêm trọng / major blow đối với con sông Mekong dũng mãnh. Trung Quốc đang xây hàng loạt những con đập trên khoảng 2,800 dặm khúc sông Mekong thượng nguồn, sẽ giới hạn dòng chảy, làm mất đi chu kỳ lũ lụt hàng năm / annual flood pulse, con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ, như một trong những kỳ quan thiên nhiên của thế giới.

 

Tháng 7, 2005_ Thủ tướng Hun Sen, rất sớm cách đây 12 năm, trước khi sang dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Côn Minh, đã tỏ ra thỏa mãn với tình hình khai thác con sông Mekong như hiện nay, theo ông chẳng có vấn đề gì phải quan tâm. Ông công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh, đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, ông còn cho rằng các ý kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ họ chú ý tới môi sinh, và đôi khi họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn sự hợp tác nên có giữa 6 quốc gia.

 

Tháng 11, 2002_ Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên Cứu Nhiệt Đới Smithsonian đã phát biểu: “Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết dòng sông. Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử và các con sông lớn khác của Trung Quốc.

 

TAM GIÁC VÀNG BẮC KINH - NAM VANG - HÀ NỘI

      Cho đến nay cũng đã 38 năm kể từ ngày hơn 100 ngàn quân đội cộng sản Việt Nam tràn qua Cambodia lật đổ chế độ Khmer Đỏ và giải phóng đất nước này. Nhiều lãnh tụ cao cấp Khmer Đỏ đã chết trước khi bị đem ra xét xử. Pol Pot / Anh Cả là nhân vật số 1 đã chết từ 15.04.1998.

 

      Riêng hai ông Nuon Chea / Anh Hai và Khieu Samphan/ Anh Ba là hai nhân vật cao cấp nhất của Khmer Đỏ còn sống đã bị Tòa án xét xử tội ác diệt chủng ở Cambodia / Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia (ECCC) do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, cả hai đã bị kết án tù chung thân từ ngày 07.08.2014.

 

      Và rồi chỉ mới đây thôi, ngày 23.06.2017, hai ông Nuon Chea và Khieu Samphan lại được ECCC đưa ra tái xét xử với những tội danh khác. Ông Nuon Chea 90 tuổi nguyên Thủ Tướng, do vấn đề sức khoẻ chỉ ngồi theo dõi phiên toà trước màn hình trong nhà giam, và qua luật sư của mình, ông cho biết chỉ coi phiên toà như một trò trình diễn "show trial".

 

      Riêng ông Khieu Samphan 85 tuổi, có học vị tiến sĩ Đại học Paris, được coi như lý thuyết gia, nguyên Chủ tịch nhà nước Campuchia Dân chủ / Khmer Đỏ thì có mặt và đã có lời nói cuối trước toà, ông đã hoàn toàn bác bỏ cáo buộc "tội ác chống nhân loại và diệt chủng."

 

 

 

 

 

hinh 10-ntv-7-2017

 

Hình 10: Khieu Samphan, nguyên Chủ tịch nhà nước Khmer Đỏ phát biểu tại phiên toà ở Nam Vang ngày 23.06.2017: Ông hoàn toàn bác bỏ cáo buộc "tội chống nhân loại và diệt chủng" và khẳng định nói đó là những lời nguỵ tạo của Việt Nam nhằm xâm lược Cambodia. [nguồn: AFP photo]

 

      Ông Khieu Samphan đã giận dữ khẳng định đó là những lời vu cáo nguỵ tạo của Việt Nam nhằm xâm lược Cambodia, rồi ông đổ hết trách nhiệm cho Việt Nam trong trong tấn thảm kịch 2 triệu người dân Khmer chết bằng các nhục hình như bỏ đói, lao động cưỡng bức, tra tấn và cả giết chóc.

 

      Điều rất trớ trêu và đáng nói ở đây là do mối thù hận lịch sử, sẵn có tinh thần bài Việt, lại luôn luôn được kích động bởi khẩu hiệu: "Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp" nên không ít người Cambodia may mắn sống sót và cả thế hệ trẻ sinh sau thời kỳ Khmer Đỏ, khi nghe phát biểu của ông Khieu Samphan họ cũng hoang mang, và nếu cứ bị tiếp tục bị tuyên truyền nhồi sọ, rồi ra họ có thể dễ dàng cả tin về điều này.

 

CÙNG NHAU GIẢI LỜI NGUYỀN

      Khó mà kiếm được người Miên nào nói tốt về người Việt đang sống trên đất nước của họ. Một thành viên nhóm bảo vệ nhân quyền ở Nam Vang đã nói với ký giả báo Far Eastern Economic Review (FEER 1994): nếu có được quyền lựa chọn thì đa số người Khmer đều muốn tống xuất tất cả người Việt ra khỏi Cambodia. Chống Việt Nam bằng bất cứ luận điệu nào cho dù đúng hay sai vẫn luôn luôn là một chiêu bài rất ăn khách và dễ dàng được đa số người Miên cả tin và lắng nghe.

 

       Không lẽ bước sang Thế kỷ XXI một cách rất vô lý Việt Nam lại phải đưa vai ra gánh phần trách nhiệm về tội ác mà kẻ thực sự chủ mưu là Trung Quốc thì lại dấu mặt. Để giải toả mối oan khiên đó, chưa bao giờ khẩn thiết như lúc này, phải có một giới sử gia chân chính viết nên những trang sử về thời kỳ Khmer Đỏ một cách công tâm và minh bạch để trả lại tất cả sự thật cho lịch sử.

 

      Trong mấy thế kỷ qua, quá khứ hai dân tộc Khmer và Việt Nam đã có những tang thương đổ vỡ nhưng họ lại phải cùng sống với nhau trên một vùng đất định mệnh. Và những thù hận trong quá khứ vẫn âm ỉ đến mức đã trở thành Một Lời Nguyền rất bất hạnh cho cả hai phía. Đã đến lúc phải cùng nhau giải lời nguyền ấy.

 

      Hiện tại, cả hai dân tộc cùng rất nghèo, cùng ở cuối nguồn con sông Mekong, đang cùng là nạn nhân của một trận chiến môi sinh thế kỷ: do chuỗi những con đập thượng nguồn từ Trung Quốc xuống tới Lào, do kế hoạch vĩ mô đổi dòng lấy nước từ con sông Mekong của Thái Lan, rồi nạn ô nhiễm do khai thác khoáng sản bừa bãi, cộng thêm với tác động của thay đổi khí hậu đưa tới lũ lụt và hạn hán. Hậu quả sẽ là hai vùng châu thổ Tonle Sap và châu thổ Đồng Bằng Sông Cửu Long đang trước nguy cơ chết dần.

 

       Gần đây thôi, trong một phạm vi nhỏ hẹp nhưng tích cực là các tổ chức môi sinh Việt Nam như Việt Ecology Foundation, Vietnam River Network đã có những bước đầu nối kết với 5 tổ chức môi sinh NGOs/ phi chính phủ của Cambodia, liên kết dưới chung một tên River Coalition in Cambodia (RCC), và trong bối cảnh mở rộng một hợp tác vùng: Save the Mekong Coalition (StM). Từ những bước khởi đầu ấy, hai dân tộc Khmer và Việt Nam sẽ cùng chia xẻ trách nhiệm và hướng tới một tương lai thịnh vượng chung. Đó cũng chính là nỗ lực hàn gắn vết thương lịch sử giữa hai quốc gia, như một hoá giải Lời Nguyền giữa hai dân tộc Cambodia và Việt Nam.

 

 

 

NGÔ THẾ VINH

California 08.07.2017

 

 

Tham Khảo:

1)    Dan Levin, “China Is Urged to Confront Its Own History,” The New York Times (March 31, 2015).

2)    Andrew Mertha, Brothers in Arms: Chinese Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979 (Ithaca, NY: Cornell Univ. Press, 2014).

3)    Luke Hunt, “What Was China’s Khmer Rouge Role?” The Diplomat (December 17, 2011).

4)    David Chandler, A History of Cambodia, 4th ed., updated (Boulder, CO: Westview Press, 2009).

5)    Ngô Thế Vinh, "Vực Dậy Từ Tro Than, Đi ra từ những Cánh Đồng Chết." Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch, (Văn Nghệ Mới 2007).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2365)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2440)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3063)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3458)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3698)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4305)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3800)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4813)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3115)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 3041)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8862)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15801)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14816)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15177)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2364)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3063)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4305)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5689)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3115)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4605)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4108)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4873)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3458)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3697)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3800)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4813)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2440)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 3041)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3118)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3625)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11701)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28105)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34502)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34579)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9232)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11486)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2364)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5689)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5166)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5226)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4546)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6524)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5749)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7584)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.