- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Nguyễn Du, Từ Giải Ảo Trung Hoa Đến Giải Thiêng Chế Độ Phong Kiến ( Nghiên Cứu Trường Hợp “ Bắc Hành Tạp Lục”)

15 Tháng Bảy 20174:55 CH(Xem: 53053)

 

nph-hn2008-DH
Tác giả Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phạm Hùng - ảnh ĐH - Hà Nội 2008

 

 



 

Bắc hành tạp lục là tập thơ chữ Hán được Nguyễn Du sáng tác trong thời gian ông dẫn đầu sứ đoàn Việt Nam sang Trung Hoa vào năm 1813-1814. Đây là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam phản ánh một cách chi tiết, sinh động và phong phú thực trạng xã hội Trung Hoa đương thời. Lần đầu tiên trong lịch sử, Nguyễn Du cho chúng ta biết về một đất nước Trung Hoa rộng lớn nhưng không bằng phẳng, tươi đẹp mà gập ghềnh, trắc trở; về một truyền thống kiêu hùng nhưng cũng lắm bi thương; về một dân tộc đông đúc nhưng cam chịu, nghèo khổ và đau đớn, và đặc biệt, về một chế độ phong kiến mạt kỳ đầy phi lý và mất hết sức sống khi nó không còn khả năng giúp cho con người được thực hiện những quyền sống, quyền làm người căn bản mà đáng ra họ phải có. “Những điều trông thấy” của Nguyễn Du trên đất nước Trung Hoa sẽ càng khẳng định chắc chắn hơn cho “những điều trông thấy” của ông trên đất nước Việt Nam về mô hình chế độ phong kiến mạt kỳ nói chung đã trở nên già cỗi, lỗi thời, càng giúp cho chúng ta thấy rõ hơn tư tưởng “giải ảo”, “giải thiêng” “giải Hán hóa” của ông đối với chế độ phong kiến nói chung, đối với “mô hình lý tưởng” Trung Hoa nói riêng.

 

*

 

Nhà nước phong kiến Trung Hoa vốn là mô hình lý tưởng của các triều đại phong kiến Việt Nam. Văn hóa và văn học Trung Hoa vốn cũng là mô hình lý tưởng của văn hóa và văn học Việt Nam suốt thời phong kiến. Trong văn chương Việt Nam thời trung đại, những chất liệu và hình thức của văn chương Trung Hoa được sử dụng một cách tràn ngập, từ ngôn ngữ tới thể loại, từ điển tích điển cố đến các quan  niệm về văn chương, từ hình tượng nhân vật đến kết cấu, hay nội dung cốt truyện… Những sáng tạo của văn chương Việt Nam thời trung đại nhiều khi tưởng chừng như bị trói chặt cứng trong những dây nhợ văn chương Trung Hoa, khó bề giải thoát. Vì thế mà chúng ta hiểu vì sao sau cả nghìn năm văn học tự chủ thời phong kiến, chúng ta cũng chỉ có thể tự mình sáng tạo ra được bốn hình thức thể loại văn học bằng chữ Nôm cho riêng mình, đó là các thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, lục bát, song thất lục bátthơ hát nói,  trong khi hầu hết các thể loại văn học bằng chữ Hán và chữ Nôm khác chúng ta đều phải tiếp thu hầu như nguyên vẹn hình thức của Trung Quốc [6].

Niềm tự hào rằng mình là một bộ phận không tách rời của cái phổ (sphère) “Hán văn hóa” hùng mạnh ấy đã không còn có thể xóa đi nỗi buồn về sự lệ thuộc văn hóa một cách thái quá vào Trung Hoa trong suốt thời phong kiến, làm thành một thứ quán tính văn hóa ảnh hưởng không nhỏ đến tận ngày nay. Vì vậy mà mọi sự cố gắng trong quá trình “giải Hán hóa”, “giải Hoa hóa” luôn được xem là cội nguồn của sự sáng tạo không mệt mỏi của người Việt nhằm xác lập nên “Việt văn hóa”. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một sự “giải Hán hóa” xuất sắc.

Không chỉ “giải Hán hóa”, thời đại Nguyễn Du là thời mạt kỳ của chế độ phong kiến ngày càng bộc lộ rõ nét sự bế tắc, tuyệt vọng và mất sức sống, nên còn nảy sinh một nhu cầu mới, đó là “giải ảo”, “giải thiêng” đối với mô hình chế độ phong kiến. Bằng Truyện Kiều, bằng Văn tế thập loại chúng sinh và nhiều tác phẩm  khác, Nguyễn Du đã rút ra được những kết luận quan trọng về chế độ phong kiến mạt kỳ này, và cho rằng nó đã trở nên đối lập hoàn toàn với quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người, nó không thể tồn tại, và ông tin rằng nó sẽ không tồn tại mãi (“Cổ kim vị kiến thiên niên quốc” – Vị hoàng doanh). Nhận thức đó của Nguyễn Du, một lần nữa được khẳng định rõ ràng hơn trong tập thơ Bắc hành tạp lục [3] được ông làm trên đường đi sứ Trung Quốc năm 1813 - 1914. “Những điều trông thấy” của Nguyễn Du trên đất nước Trung Hoa sẽ càng khẳng định chắc chắn hơn cho “những điều trông thấy” của ông trên đất nước Việt Nam về chế độ phong kiến mạt kỳ nói chung đã trở nên già cỗi, lỗi thời, càng giúp cho chúng ta thấy rõ hơn tư tưởng “giải ảo”, “giải thiêng” của ông đối với mô hình lý tưởng Trung Hoa nói riêng, đối với chế độ phong kiến nói chung.

1. Nguyễn Du và Bắc hành tạp lục

Nguyễn Du (阮攸) (1766–1820) tên chữ Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), biệt hiệu Hồng Sơn Lạp Hộ (鴻山獵戶), là nhà thơ được xem là nổi tiếng nhất của Việt Nam mọi thời đại, sống vào thời Lê mạt, Nguyễn sơ. Ông sáng tác cả bằng chữ Hán và bằng chữ Nôm. Những tác phẩm bằng chữ Hán của ông có Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn; Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga tản mạn lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương phía nam Hà Tĩnh quê ông; và Bắc hành tạp lục (Ghi chép tản mạn trong chuyến đi sứ phương Bắc) gồm 131 bài thơ. Những tác phẩm bằng chữ Nôm có Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột),  còn gọi là Truyện Kiều, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát, có thể được ông viết khi làm Cai bạ ở Quảng Bình (1809-1812)[1];  Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu hồn) gồm 184 câu thơ song thất lục bát, có thể  được sáng tác trước Truyện Kiều ít lâu; Thác lời trai phường nón gồm 48 câu lục bát, thay lời người con trai phường nón tỏ tình với cô gái phường vải, có thể được viết khi ông còn trai trẻ… Năm Quý dậu 1813, Nguyễn Du được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ (hàm Tam phẩm). Chép theo một số tài liệu liên quan: Nguyễn Du cùng phái đoàn đi sứ rời ải Nam Quan ngày 6 tháng 4 năm Quý Dậu (1813), rồi trở về nước tới ải Nam Quan ngày 29 tháng 3 năm Giáp Tuất (1814). Theo tài liệu ghi chép và dựa theo những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du làm khi thăm viếng những di tích lịch sử Trung Hoa thì lộ trình của phái bộ Nguyễn Du như sau: Thăng Long, Nam Quan, Quảng Tây, Quế Lâm, Toàn Châu, Hồ Nam, Lôi Châu, Hành Dương, Giang Nam, Trường Sa, Tương Âm, Nhạc Dương, Hán Dương, Võ Xương, Hứa Đô, Nghiệp, Hàm Đan, Tấn Dương, Yên Kinh, Sơn Đông, Khúc Phụ, Tứ Thủy, Từ Châu, Hoài Nam, An Huy, Võ Xương, Lâm An (Hàng Châu), Quế Lâm, Quảng Tây, Nam Quan.

Bắc hành tạp lục (北 行 雜 錄) là tập thơ gồm 131 bài, chiếm hơn nửa số thơ chữ Hán mà Nguyễn Du viết trong cả cuộc đời[2]. Hơn nữa, lại là tập thơ đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam viết một cách khá chi tiết, tỉ mỉ và phong phú về thực trạng xã hội phong kiến Trung Quốc thời mạt kỳ, nên có một vị trí vô cùng quan trọng. Về thể tài, phần lớn thơ trong Bắc hành tạp lục là thơ luật, gồm 76 bài thất ngôn bát cú, 11 bài ngũ ngôn bát cú, 18 bài thất ngôn tứ tuyệt; 8 bài thất ngôn cổ phong, ngũ ngôn cổ phong và 18 bài trường thiên (thất ngôn, ngũ ngôn hoặc trường đoản cú) theo thể cahành. Về đề tài, có nhiều cách phân chia khác nhau, nhưng chủ yếu gồm hai loại quen thuộc của thơ “sứ trình”, đó là thơ “lộ trình”, khoảng 70 bài, viết về những điều mắt thấy tai nghe trên đường đi sứ, và thơ “vịnh sử”, khoảng 50 bài, viết về những nhân vật lịch sử Trung Hoa. Tuy nhiên, việc phân chia này là tương đối, vì cả hai loại này thực chất đều là một, vì đều là cảm xúc của nhà thơ nảy sinh trực tiếp khi quan sát hiện thực trên đường đi sứ, đều là những điều “mắt thấy tai nghe”. Thơ “vịnh sử”, cũng là một loại thơ “mắt thấy tai nghe” khi nhà thơ tiếp xúc trực tiếp với những di tích liên quan đến những nhân vật lịch sử trên đường đi qua, nhưng có kết hợp với những kiến thức sách vở về những nhân vật đó.

Về tập thơ này, đã có nhiều nhận xét, đánh giá khác nhau. Có người cho đây là một tập thơ nói lên lòng thương cảm sâu xa những người trung nghĩa bị hãm hại, những người tài hoa bị vùi dập, những người lao động cùng khổ bị đói rét cùng nỗi khinh ghét giới thống trị kiêu căng và tàn bạo. Có người cho rằng, trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du “sáng tác được nhiều, một phần vì những vấn đề xã hội trước đây Nguyễn Du mới cảm biết một cách lờ mờ, thì bây giờ cuộc sống giúp nhà thơ nhận thấy rõ nét. Phần nữa, nhờ đi ra nước ngoài, nhà thơ có thể mượn nhiều đề tài lấy từ lịch sử và hiện tại của nước người để nói những điều Nguyễn Du muốn nói về nước mình, tránh được sự công kích của các thế lực phong kiến lúc ấy”[1: 104]. Lại có nhận xét rằng: “Trong Bắc hành tạp lục, những điểm đặc sắc tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn. Có ba nhóm đáng chú ý: Một là ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản diện. Hai là phê phán xã hội phong kiến chà đạp quyền sống con người. Ba là cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi"[7: 94]. Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: “Bắc hành tạp lục là một tập bút ký ghi cảm tưởng dọc đường. Nhân nhìn thấy được một di tích lịch sử nào đó ở Trung Quốc, gợi nhớ đến việc trong nước, nhớ đến những người ông tiếp xúc trong chốn quan trường, thì ông hết lời xỉ mắng, là phường xu danh trục lợi chỉ “cốt cầu phú quí để vênh vang với vợ con” (Tô Tần đình), là giới quan lại “ra ngoài ngựa ngựa, xe xe”. “bàn bàn tán tán, như ông Cao, ông Quì” cốt che đậy “nanh vuốt, nọc độc” để “nhai xé thịt người ngọt xớt như đường”, trong khi đó thì nhân dân “chỉ là những gầy gò, không ai béo tốt” (Phản chiêu hồn)... Tuy vậy, nhìn chung thơ trong Bắc hành tạp lục, đa phần để lại cảm giác chung của một buổi chiều thu tê tái. Buổi chiều đó là xã hội phong kiến ở Việt Nam, ở Trung Quốc, phản ảnh trong tâm hồn Nguyễn Du. Trên con đường đi sứ, nhà thơ được thấy nhiều cảnh xưa nổi danh và đây là những dịp tức cảnh, đề vịnh, cảm hoài… Nhưng Nguyễn Du là một tâm hồn nghệ sĩ lớn, nên có những cái vượt bậc đột ngột, có những cái lượng biến thành chất kỳ diệu, nghĩa là trong cái buổi chiều thu tê tái trên bỗng nhiên có sấm chớp mưa gió bão bùng, có bài Phản Chiêu hồn, căm giận trên đầu tóc dựng...”[11: 110, 172]. Nguyễn Huệ Chi viết: “Mọi ba động đầy kịch tính của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX đã ập vào Nguyễn Du một cách khá đồn dập, làm cho ông choáng váng về tư tưởng, và không phải đã dễ dàng tìm ngay được một lẽ sống, một chỗ đứng nào vững vàng ổn định. Có hiểu như thế thì mới hiểu nổi vì sao trên đường đi sứ, nhà thơ mới đề cao Dự Nhượng hết lòng với chủ, vừa mới bài bác Giả Nghị không hiểu được tấm lòng cô trung “liệt nữ không thờ hai chồng” của Khuất Nguyên, thì liền sau đó ông lại đã chê trách cái thái độ thiếu sáng suốt của Phạm Tăng, chỉ biết giữ lòng trung với nước Sở mà không chịu hiểu rằng “ mệnh trời” đã thuộc về nhà Hán...”[4: 139]. Trương Chính nhận xét: “Lời thơ trong bài Phản chiêu hồn, sôi nổi mà đầy oán hận, không ra vịnh sử hoài cổ. Vì nếu thế thì giọng phải điềm tĩnh hơn, buồn man mác hơn, chứ đâu có cái ảo não thắt ruột, thắt gan đến thế. Vì vậy, nếu giải thích như các ông Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh cho rằng tâm sự Nguyễn Du là tâm sự của một bầy tôi phải thờ hai vua thì chẳng những không có căn cứ chắc chắn, mà còn làm xóa mờ tính chất hiện thực và phê phán của bấy nhiêu bài thơ, là không nhìn thấy đó mới là tâm sự sâu sắc nhất của Nguyễn Du”[9: 41]. Đánh giá chung về Bắc hành tạp lục, Trương Chính cho rằng: “Nhà thơ không triền miên ngây ngất trước danh lam thắng cảnh. Ông chú ý  nhiều đến con người và cuộc đời trên đất nước trung Quốc. Và lúc nào ông cũng xuất phát từ lập trường dân tộc đúng đắn và chủ nghĩa nhân đạo chân thành”[10: 529]. Còn Nguyễn Lộc viết: “Nguyễn Du không phải là nhà thơ chỉ biết đến số phận riêng của cá nhân mình, chỉ biết ngồi ngắm cái bóng dưới chân mình. Nguyễn Du cũng không phải là nhà thơ chỉ quan tâm đến triều đại này, triều đại khác, mà Nguyễn Du là nhà thơ biết đặt lòng mình nơi những con người bất hạnh”[5: 61] … Những nhận xét, đánh giá trên đều có những điểm hợp lý, nhưng có lẽ chưa đầy đủ. Chúng tôi đánh giá cao vai trò tiên phong của tập thơ này không chỉ trong việc phản ánh khá chi tiết, sinh động, phong phú thực trạng xã hội Trung Quốc đương thời, mà quan trọng hơn, qua đó thể hiện rõ quan điểm tư tưởng của Nguyễn Du đối với đất nước Trung Hoa và mô hình xã hội phong kiến thời mạt kỳ.

2. Giải ảo Trung Hoa

Mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Hoa, hay cuộc tiếp xúc văn hóa Việt – Trung hơn 2000 năm đã đi qua những chặng đường thật nhiều chông gai, sóng gió, có khi yên bình và cũng có không ít những lúc thù hận. Trong khoảng 1000 năm tự chủ, công cuộc “bang giao” gian nan giữa Việt Nam và Trung Hoa đã in dấu ấn của nhiều  nhà ngoại giao tài giỏi. Lược kê những tên tuổi lớn của sự nghiệp ngoại giao có thể thấy: Thời Tiền Lê có Khuông Việt, Pháp Thuận; thời Lý có Lý Thường Kiệt, Lê Văn Thịnh; thời Trần có Đinh Củng Viên, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Phạm Tông Mại, Doãn Ân Phủ…; thời Hậu Lê có Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Mỹ, Đỗ Cận, Trần Lô, Đào Nghiễm…; thời Mạc có Giáp Hải, Vũ Cận, Hoàng Sĩ Khải…; thời Lê Trung hưng có Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Hãng, Lê Hữu Kiều, Nguyễn Tông Khuê, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Oánh, Đào Công Chính, Nguyễn Tiến, Đặng Đình Tướng, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Kháng, Phạm Khiêm Ích, Nguyễn Kiều, Nguyễn Tông Quai, Đinh Nho Hoàn, Nguyễn Công Cơ, Ngô Đình Thạc, Đoàn Nguyễn Thục, Hồ Sĩ Đống, Lê Quang Viện, Trịnh Xuân Chú… Thời Tây Sơn có Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Đề, Vũ Huy Tấn…; thời Nguyễn có Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Gia Cát, Ngô Thì Vị, Nguyễn Du, Phan Huy Chú, Lý Văn Phức, Nguyễn  Miên Thẩm, Hà Tông Quyền, Trương Hảo Hiệp, Phan Thanh Giản, Phạm Chi Hương, Bùi Quỹ,  Nguyễn Văn Siêu, Đặng Huy Trứ, Bùi Dị, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản... Phần lớn những nhà ngoại giao ấy đều có sáng tác thơ văn, nên đã hình thành một “trào lưu” sáng tác thơ văn bang giao với hàng nghìn tác phẩm, trong đó nhiều tác phẩm “sứ trình” có giá trị không chỉ giúp tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của tác giả, mà còn giúp hiểu thêm về đất nước và con  người Trung Hoa.

Người Việt Nam được biết tới “mô hình lý tưởng” Trung Hoa thời phong kiến chủ yếu qua các sách vở của người Trung Hoa, và một phần qua ghi chép ít ỏi của những người đi sứ. Nhưng trong hoàn cảnh in ấn, xuất bản, phổ biến tác phẩm thời xưa, việc biết tới những ghi chép về Trung Hoa của người Việt đi sứ là rất hạn chế. Vì thế, dù có những tác phẩm của người Việt Nam viết về Trung Hoa, thì hình ảnh Trung Hoa vẫn rất xa lạ với mọi người, mà chủ yếu lại chỉ là những hình ảnh đẹp đẽ trong các sách vở của người Trung Hoa được đem về Việt Nam. Hơn nữa, các ghi chép về Trung Hoa trước đây thường là về những thời thịnh kỳ của chế độ phong kiến. Trong bối cảnh đó, những tác phẩm của Nguyễn Du trong Bắc hành tạp lục lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam đã cho chúng ta biết được một cách khá chi tiết và phong phú về một Trung Hoa khác, một Trung Hoa thời mạt kỳ phong kiến như ở Việt Nam, qua con mắt phán xét của nhà thơ, như một sự thể hiện nghệ thuật cái tư tưởng của ông đối với một mô hình xã hội vốn được coi là lý tưởng và duy nhất đương thời.

Trong Bắc hành tạp lục, chúng ta thấy, ban đầu Nguyễn Du cũng có cái tò mò, phấn khởi, nên thường ngâm hoa vịnh nguyệt, thưởng gió ngó trăng, vịnh nhân vật lịch sử. Trong bài Chu hành tức sự ông viết:

Vị liên thượng quốc phong quang hảo,
Quan toả hương tình vị phóng qui.

(Bởi yêu phong cảnh xứ người đẹp
Khóa chặt tình quê chửa vút bay)

Có tới 15 bài Thương Ngô trúc chi ca vịnh về cảnh sắc, con người mang cảm hứng tán tụng. Tiếp tục vịnh các nhân vật lịch sử gắn với những địa danh đi qua. Nhưng đồng thời và ngay sau đó ta thấy toàn là những cảnh gập gềnh, trắc trở, lũ lụt, mất mùa, đói khát, nghèo khổ, loạn lạc, binh đao… Dường như có một đất nước Trung Hoa khác, không chỉ toàn đẹp đẽ như trong sách vở tuyên truyền, quảng cáo, mà đen tối bi thương, như nhà thơ nhận ra trong một đêm Từ Châu ở Giang Tô:

Hành lộ tị can qua
Nghiêm hàn độ dạ hà
Nguyệt lai nam quốc đại
Sơn nhập bắc Từ đa
Thành ngoại liệt binh giáp
Thành trung văn huyền ca
Khô dương tam bách thụ
Thụ thụ hữu đề nha

(Đi đường phải tránh vùng giặc giã / Giữa đêm đông giá lạnh, qua sông / Phía nước Nam, trăng lớn / Bắc Từ Châu, núi nhiều / Ngoài thành đầy binh giáp / Trong thành nghe đàn ca / Ba trăm cây dương khô héo / Trên các cây, tiếng quạ kêu - Từ Châu dạ)

Hay trong một ngày trên đường Tổ Sơn, vùng núi phía bắc Hoàng Châu, tỉnh Chiết Giang:

Khứ nhật Lưỡng Hà tằng tập chiến
Hu đồ thiên lí chính tư quy
Bà bà bạch phát hồng trần lộ
Nhật mộ đăng cao bi mạc bi

(Hôm trước, Lưỡng Hà chiến tranh liên miên / Đường đi vòng dài nghìn dặm, làm nhớ quê / Tóc bạc phơ trên đường bụi đỏ / Trời tối lên cao, không gì buồn thế - Tổ Sơn đạo trung).

Có rất nhiều hình ảnh đau khổ, nhất là hình ảnh của những con người Trung Hoa nhỏ bé, nghèo đói, tha hương như người hát rong ở phủ Thái Bình:

Thái Bình cổ sư thô bố y
Tiểu nhi khiên vãn hành giang mi
Vân thị thành ngoại lão khất tử
Mại ca khất tiền cung thần xuy
Lân chu thời hữu hiếu âm giả
Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ
Thử thời thuyền trung ám vô đăng
Khí phạn bát thủy thù lang tạ

(Ở phủ Thái Bình có ông lão / Hai mắt mù mặc áo vải thô / Nắm tay trẻ dắt ngoại ô / Ven sông hát dạo lần mò kiếm ăn / Thuyền bên có kẻ ham nghe hát / Dẫn ông già xuống sát cửa thuyền / Lúc này thuyền tối không đèn / Cơm thừa canh cặn đổ tràn tứ tung…-  Thái Bình mại ca giả)

Có rất nhiều cảnh loạn lạc làm cản trở chuyến đi sứ của tác giả, và bên cạnh đó là những hình ảnh nheo nhóc, đói khát của người dân nghèo Trung Hoa:

Sổ bách lý địa biến qua giáp
Đạo lộ ủng tắc vô nhân hành
Trường tống trường thán, đoản tống mặc
Tiến thoái duy cốc nan vi tình
Tạc nhật Hoàng Hà thủy đại chí
Ngũ nhật vô thực thê sa đinh
Kim nhật Vệ Châu trở đạo tặc
Bất tri tiền lộ hà thời thanh …
Đại nam tiểu nữ tần cơ sắc
Khang tì vi thực lê vi canh
Nhãn kiến cơ biểu tử đương đạo
Hoài trung táo tử thân biên khuynh
Không ốc bích thượng hữu "tra" tự
Sổ bách dư hộ giai cơ linh
Tiểu dân bất nhẫn hàn thả cơ
Cầu đồ bão úc thân vi khinh

(Mấy trăm dặm chỗ nào cũng có binh lính / Đường sá bế tắc, không người đi / Người đưa tiễn xa than dài, người đưa tiễn gần im lặng / Tới lui đều trong tình trạng khó khăn / Hôm qua nước Hoàng Hà dâng cao / Năm ngày không có ăn, đậu thuyền trên bãi sông / Hôm nay ở Vệ Châu giặc cướp chặn đường / Không biết đường trước mặt bao giờ yên … / Trai lớn gái nhỏ vẻ ốm đói / Tấm cám làm cơm, rau lê làm canh / Tận mắt thấy người đói chết trên đường / Hột táo trong bọc lăn bên mình / Nhà bỏ không, có chữ "tra" (xét) trên vách / Mấy trăm nhà đều trôi giạt vì đói / Dân mọn không kham nổi đã lạnh lại đói / Chỉ sao lo được no ấm mà coi nhẹ tấm thân - Trở binh hành)

Có rất nhiều cảnh “đau đớn lòng” mà đỉnh điểm là “những điều trông thấy” của nhà thơ giữa “thiên đường” Trung Hoa, về sự đau khổ của người dân, về sự độc ác, thờ ơ, vô cảm của người đời, về sự đối nghịch gay gắt giữa kẻ thống trị và kẻ bị trị:

Hữu phụ huề tam nhi
Tương tương tọa đạo bàng
Tiểu giả tại hoài trung
Đại giả trì trúc khuông
Khuông trung hà sở thịnh
Lê hoắc tạp tì khang
Nhật án bất đắc thực
Y quần hà khuông nhương
Kiến nhân bất ngưỡng thị
Lệ lưu khâm lang lang

Huyết nhục tự sài lang
Mẫu tử bất túc tuất
Phủ nhi tăng đoạn trường
Kỳ thống tại tâm đầu

Tạc tiêu Tây Hà dịch
Cung cụ hà trương hoàng
Lộc cân tạp ngư xí
Mãn trác trần trư dương
Trưởng quan bất hạ trợ
Tiểu môn chỉ lược thường
Bát khí vô cố tích
Lân cẩu yếm cao lương
Bất tri quan đạo thượng
Hữu thử cùng nhi nương

(Có người đàn bà dắt ba đứa con / Cùng nhau ngồi bên đường / Đứa nhỏ trong bụng mẹ / Đứa lớn cầm giỏ tre / Trong giỏ đựng gì lắm thế ? / Rau lê, hoắc lẫn cám / Qua trưa rồi chưa được ăn / Áo quần sao mà rách rưới quá / Thấy người không ngẩng nhìn / Nước mắt chảy ròng ròng trên áo…/ Máu thịt nuôi lang sói / Mẹ chết không thương tiếc / Vỗ về con càng thêm đứt ruột / Trong lòng đau xót lạ thường …/ Đêm qua ở trạm Tây Hà / Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức / Gân hươu cùng vây cá / Đầy bàn thịt heo, thịt dê / Quan lớn không thèm đụng đũa / Đám theo hầu chỉ nếm qua / Vứt bỏ không luyến tiếc / Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon / Không biết trên đường cái / Có mẹ con đói khổ nhà này… - Sở kiến hành)

Có rất nhiều bi kịch của những con người tài hoa, trung hậu Trung Hoa. Chúng ta bắt gặp nỗi “thương người tiếc tài” của ông về những kẻ cùng trong “hội đoạn trường” như nàng Kiều trong Đoạn trường tân thanh, hay nàng Tiểu Thanh trong Độc Tiểu Thanh ký. Nguyễn Du thường  bày tỏ lòng cảm thông, chia sẻ với những con người tài giỏi chịu nhiều tai ương, bạc phận. Trong bài Phản chiêu hồn, ông phản đối lời gọi hồn trong bài từ Chiêu hồn của Tống Ngọc, người cùng thời với Khuất Nguyên. Tống Ngọc thương Khuất Nguyên hồn phách sắp tiêu tan nên làm bài từ để gọi hồn trở về. Nguyễn Du phản đối lại ý đó, muốn hồn Khuất Nguyên không nên trở lại cõi trần gian có đầy những kẻ gian ác, thâm hiểm:

Hồn hề! Hồn hề! hồn bất qui?
Đông tây nam bắc vô sở y.
Thướng thiên há địa giai bất khả,
Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi ?
Thành quách do thị, nhân dân phi,
Trần ai cổn cổn ô nhân y.
Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa,
Tọa đàm lập nghị giai Cao, Quỳ.
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,
Giảo tước nhân nhục cam như di!
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,
Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.
Hồn hề! Hồn hề! suất thử đạo
Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì.
Tảo liễm tinh thần phản thái cực,
Thận vật tái phản linh nhân xi,
Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La,
Ngư long bất thực, sài hổ thực,
Hồn hề! Hồn hề! nại hồn hà?

(Hồn ơi! hồn ơi! sao chẳng về? / Đông tây nam bắc không chốn nương tựa / Lên trời xuống đất đều không được / Còn trở về thành Yên thành Sính làm gì ? / Thành quách còn đây, nhân dân đã khác / Bụi bặm mù bay làm dơ bẩn quần áo / Ra ngoài thì ruổi xe, vào nhà ngồi chễm chệ / Đứng ngồi bàn bạc như hai bậc hiền thần Cao, Quì / Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc / Mà cắn xé thịt người ngọt xớt / Không thấy sao mấy trăm châu ở Hồ Nam / Chỉ có người gầy gò, không ai béo tốt / Hồn ơi! hồn ơi! nếu cứ noi theo lối đó / Thì sau Tam Hoàng không hợp thời nữa / Hãy sớm thu góp tinh thần trở lại Thái Cực / Đừng trở lại đây nữa để người ta mai mỉa / Đời sau đều là Thượng Quan / Khắp mặt đất đều là sông Mịch La / Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt / Hồn ơi! hồn ơi! hồn làm sao đây? - Phản Chiêu hồn)

Trong bài Tỉ Can mộ, Nguyễn Du thương cảm những kẻ chết vì trung lương như Tỉ Can chết vì khuyên can vua Trụ tàn độc:

Độn cuồng quân tử các toàn thân
Bát bách chư hầu hội Mạnh Tân
Thất khiếu hữu tâm an tỵ phẫu
Nhất khâu di thực tẫn thành nhân
Mục trung sở xúc năng vô lệ
Địa hạ đồng du khả hữu nhân
Tàm quí tham sinh Ngụy điền xá
Trung lương hồ loạn cưỡng tương phân

(Bậc quân tử phải đi trốn hoặc giả điên để khỏi bị giết / Tám trăm chư hầu họp nhau ở Mạnh Tân (để đánh vua Trụ tàn ác) / Có trái tim bảy lỗ thì sao không khỏi bị mổ ? / (Này đây) một gò cây cỏ (của người chịu chết) thành bậc nhân / Trông tận mắt, có thể nào không rơi nước mắt / Ở dưới đất có người có thể làm bạn đồng tâm / Đáng xấu hổ họ Ngụy quê mùa tham sống / Dám hồ đồ gượng ép chia hai Trung với Lương)

Trong Bắc hành tạp lục, cuộc sống Trung Hoa thật đen tối, loạn lạc và bất hạnh. Vì thế, ông tiếc thương cho con kỳ lân linh thiêng đã không chọn được đất lành để hiển linh, phải chết nơi đất ác Trung Hoa dưới triều Vĩnh Lạc. Ông tiếc cho lân thiêng không biết đường sang nước Việt lúc đó có minh quân xuất hiện, mà lại ở nơi của bọn hôn quân nên chịu chết oan:

Lân hề, lân hề, nhĩ hà khổ?

Hà huống Yên Đệ hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhất sính di thập tộc
Đại bổng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết an

Lân hề quả vị thử nhân xuất
Đại thị yêu vật hà túc trân

Hoặc thị nhĩ sinh bất nhẫn kiến sát lục
Tiên tựu thử địa quyên kỳ thân
Hu ta nhân thú hề kỳ lân
Ư thế bất kiến dĩ vi tường
Kiến chi bất quá đồng khuyển dương
Nhược đạo năng vị thánh nhân xuất
Đương thế hà bất nam du tường

(Ôi kỳ lân, kỳ lân, thân mày sao khổ thế? / Phương chi Yên vương Đệ là người thế nào / Cướp ngôi cháu, hắn đâu là bậc nhân quân / Khi giận dữ thì giết cả mười họ người ta / Đánh gậy và ném vạc dầu người trung thần / Chỉ năm năm mà giết hơn trăm vạn người / Xương trắng thành núi, máu chảy đỏ đất / Ôi kỳ lân, nếu mày vì kẻ ấy mà ra đi / Thì mày chỉ là loại yêu quái có đáng gì / Hay mày không nỡ sống để thấy cảnh chém giết / Nên đến nơi này bỏ mình trước / Than ôi, kỳ lân là giống thú có nhân / Trên đời ít thấy nên cho là điềm lành/ Thấy, thì chẳng qua cũng như dê chó / Nếu bảo vì thánh nhân mà kỳ lân xuất hiện / Sao khi đó không sang chơi phương Nam? -  Kỳ lân mộ).

Bài này rõ ràng Nguyễn Du chê bai triều nhà Minh ở Trung Quốc, mà khen nước Đại Việt thời Lê Lợi là  hơn hẳn.

Trước đây, niềm vui sướng, tự hào và cảm giác choáng ngợp Trung Hoa đã không thay thế được nỗi lòng nhớ nước của người đi sứ, như từng xuất hiện trong thơ Nguyễn Trung Ngạn đời Trần:

Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo

Giang Nam tuy lạc bất như quy

(Nghe nói ở nhà nghèo nhưng vẫn tốt đẹp

Còn Giang Nam tuy lắm thú vui nhưng chẳng bằng về - Quy hứng)

Còn nay, thơ Nguyễn Du lại tỏ rõ nỗi chán ngán, ghê sợ Trung Hoa, muốn về cho thật nhanh. Cái nỗi nhớ nhà mong về là thường tình, những nối chán ngán, ghê sợ thì là hoàn toàn mới mẻ. Có thể thấy nguyên nhân từ sự thất vọng, sự vỡ mộng của ông đối với thực trạng xã hội Trung Quốc. Chúng ta có thể cảm nhận được phần nào suy tư và tâm trạng vỡ mộng này của Nguyễn Du.

Mô hình lý tưởng của xã hội Trung Hoa phong kiến hiện ra trong mắt Nguyễn Du dường như mất hết sức sống, mất hết hấp dẫn. Bởi Nguyễn Du nhìn nó từ góc nhìn của những người trong cuộc, lại là góc nhìn từ phía dưới nhìn lên, nên mọi thứ hiện ra thật rõ ràng. Nó không còn là ảo ảnh vàng son lộng lẫy hay rực rỡ chói lọi, mà chỉ là những hình ảnh đầy u ám, tối tăm không còn làm ông choáng ngợp, mà thậm chí còn khiến ông vừa ghê sợ, vừa lãnh đạm.

3. Giải thiêng chế độ phong kiến

Đối với đương thời, thậm chí đến cuối thế kỷ XIX, chế độ phong kiến nói chung, đất nước Trung Hoa nói riêng, vẫn là mô hình xã hội lý tưởng của tuyệt đại đã số trí thức phong kiến Việt Nam. Dù rất gian lao, vất vả, nhưng với những người được triều đình cử đi sứ, thì được đến Trung Hoa là cả một niềm sung sướng, tự hào. Họ sung sướng, tự hào vì được đi làm nhiệm vụ trọng đại của triều đình, được đón tiếp, giao đãi với vua quan “thiên triều”, được tận mắt nhìn thấy cái “thiên đường” sung sướng của vua Nghiêu vua Thuấn, vì thế thơ văn của họ thường phản ánh một cách chân thành, tha thiết và cảm phục về đất nước, con người Trung Hoa. Trung Hoa là chốn thiêng liêng, lý tưởng đối với họ. Nhưng lần đầu tiên trong lịch sử văn học, chúng ta thấy các tác phẩm sứ trình của Nguyễn Du không phản ánh như thế. Trong Bắc hành tạp lục, tuyệt nhiên chúng ta không thấy có bất kỳ tác phẩm thơ văn thù tạc, đối đáp với quan chức ngoại giao Trung Quốc nào. Cũng không có một bài thơ nào nói về công việc ngoại giao, không có một cuộc gặp gỡ ngoại giao nào, không có nội dung nào về bang giao được nói tới. Tất cả chỉ là những bài thơ ghi chép những con người, sự vật, cảnh sắc rất riêng. Nếu so sánh Bắc hành tạp lục với những tập thơ văn sứ trình cùng thời như Tinh sà kỷ hành[8] của Phan Huy Ích (1751 – 1822), hay Bang giao hảo thoại, Hoàng Hoa đồ phả [2] của Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) được viết cũng trong khi đi sứ nhà Thanh liền ngay trước đó, chúng ta sẽ thấy rõ cái mới lạ trong tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Du đối với Trung Hoa, thấy rõ hơn tư tưởng giải thiêng của Nguyễn Du đối với chế độ phong kiến mạt kỳ Trung Hoa. Dường như, bằng nghệ thuật, Nguyễn Du muốn nói rằng, Trung  Hoa không phải là mảnh đất “thiên đường” như nhiều người ảo tưởng, mà chỉ là một “mảnh đất lắm người nhiều ma”, đầy đau khổ và bất trắc.

Chúng ta biết rằng, sau khi Quang Trung đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, Phan Huy Ích được phụ trách công việc ngoại giao. Cuối tháng 2 năm 1790, ông cùng với Đại tư mã Ngô Văn Sở tham gia phái đoàn do Phạm Văn Trị đóng giả vua Quang Trung dẫn đầu sang Trung Quốc mừng vua Càn Long 80 tuổi. Phan Huy Ích đã làm nhiều thơ văn ghi chép về chuyến đi sứ này, từ lúc khởi hành đến khi hồi quốc, khá chi tiết, đầy đủ.

Lúc mới vào đất Trung Quốc thì, “ra đón sứ bộ có Phúc Khang An, Tổng đốc Lưỡng Quảng…, và các vị đề trấn quan lại ở đài, phủ, huyện. Cờ quạt rợp núi, lừa ngựa hí vang. Sứ bộ vào nghỉ ở Chiêu Đức đài. Mở đầu bài Xuất quan, tác giả viết:

Chiêu Đức đài trung tự chủ tân

Mãn sơn kỳ cái hệ chinh trần

Lân giao sáng thỉ y thường hội

Từ mệnh quan do hàn mặc thần…

(Vào đài Chiêu Đức phân chủ khách mà đón tiếp / Cờ lọng rợp núi che bụi đường cho khách đi xa / Mối tình bang giao giữa hai nước sẽ bắt đầu bằng hội y thường / Việc từ mệnh sẽ do ta là quan văn đảm nhiệm…)[ ](Viện Văn học 1981: 439).

Trong khi hành sứ thì, “khi dự yến ở ngự điện, quan Bộ Lễ nhà Thanh dẫn đoàn văn công của ta vào hát chúc thọ. Những bài hát này Phan Huy Ích soạn theo các điệu từ của Trung Quốc, như Mãn đình phương, Pháp gia dẫn, Thiên thu tuế…”[10: 443].

Lúc trở về thì, “ngày 20, chiêu đãi ở điện Chính Đại Quang Minh, trước khi sứ bộ lên đường về nước. Hoàng đế nhà Thanh thân rót rượu vào chén ngọc bích, mời, vỗ. Phan Huy Ích có làm một bài thơ trường thiên ghi lại việc này, kể hết cung cách vua Thanh tiếp đãi sứ bộ và kết luận:

Phiên quốc phụng thám tần

Kỷ đắc kỳ tao ngộ

Phi tiên báo quốc nhân

Hoàng hoa đệ nhất bộ

(Các phiên quốc sang chầu nhà vua  / Mấy ai được tiếp đãi như thế / Xin báo tin về cho người trong nước biết / Sứ bộ của ta là nhất) [10: 444].

Tiếp sau đó là sứ bộ do Ngô Thì Nhậm làm Chánh sứ, khởi hành tháng Ba năm 1793, làm nhiệm vụ báo tang vua Quang Trung từ trần ngày 29 tháng Bảy, năm Nhâm Tý (1792) và cầu phong cho vua Cảnh Thịnh kế vị, thì “suốt dọc đường, ông đã làm hàng trăm bài thơ xướng họa với các quan chức địa phương, vịnh cảnh, tả tình, và nêu lên sự đánh giá của mình đối với rất nhiều nhân vật lịch sử. Thơ văn ông lời lẽ chải chuốt, ý tứ sâu sắc và luôn toát ra khí phách anh hùng và lòng tự hào dân tộc. Trong thơ gửi các bạn bè đi tiễn, ông xác định trách nhiệm của người đi sứ là vừa làm tròn sứ mệnh của vua giao, vừa giữ gìn uy tín của Tổ quốc” …“Khi Ngô Thì Nhậm đến tỉnh Hồ Nam, Tổng đốc Hồ Nam là Trạng nguyên họ Tất  đã đón tiếp ông và mời ông đi viếng mộ Chu phu tử… Ngô Thì Nhậm đã viết bài Hoãn nhĩ ngâm với lời lẽ đầy niềm tự hào…”[10: 427]. 

Dường như với các sứ thần Việt Nam, cả trước đây và cùng thời, Trung Hoa luôn là một đất nước lý tưởng, chế độ phong kiến Trung Hoa luôn là một mô hình xã hội hoàn mĩ đáng ngợi ca và noi theo, và việc đi sứ là cả một niềm vinh dự, tự hào khi được đặt chân lên “thiên đường phong kiến”. Nhưng với Nguyễn Du, điều này đã thay đổi hoàn toàn. Những bài thơ sứ trình trong  Bắc hành tạp lục cho ta thấy ông chẳng say mê, hứng thú gì chuyến công cán này, nên ông chỉ thấy trên đường những cảnh sắc xa lạ, đường đi thì gập ghềnh hiểm trở:

Kinh tuần khứ quốc tâm như tử,
Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh.
Sơn lộc tích nê thâm một mã,
Khê tuyền phục quái lão thành tinh.
Khách tình chí thử dĩ vô hạn,
Hựu thị Yên sơn vạn lý hành.

(Xa nước mấy tuần lòng tựa chết / Dọc đường toàn gặp khách quê người / Bùn khe đọng lại lút mình ngựa / Ma quái thành tinh khắp mọi nơi / Tình cảnh khách xa đây khó tả / Yên kinh muôn dặm bước đường dài - Mạc phủ tức sự).

Ông có cảm giác lạnh lẽo, cô liêu khi nghe tiếng sáo dưới thành Thái Bình:

Giang thủy trừu hề giang nguyệt hàn,
Thùy gia hoành địch bằng lan can.
Nhị thập thất nhân cộng hồi thủ,
Cố hương dĩ cách vạn trùng san.

 (Nước sông gợn sóng, lạnh trăng sông,  / Ai đâu thổi sáo tựa bên song? / Hai mươi bảy người đều ngoái cổ / Quê nhà đã cách núi muôn trùng! - Thái Bình thành hạ văn xuy địch).

Hay tâm sự riêng không người chia sẻ, nơi công quán mà chẳng màng công việc ngoại giao ở Quế Lâm:

Lao lạc xuân vô phận,
Sa đà lão tự kinh.
Thành đầu văn họa giác,
Tự ngữ đáo thiên minh.

(Lo buồn xuân không đến với mình / Lần lữa thấy cảnh già giật mình kinh sợ / Nghe tiếng tù và vọng từ đầu thành / Nói chuyện một mình cho đến sáng - Quế Lâm công quán).

Nếu như sứ đoàn được đón tiếp trọng thị thì Chánh sứ Nguyễn Du cũng có thể cảm động mà làm thơ, như Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm làm nhiều thơ văn thù tạc với quan chức ngoại giao Trung Quốc. Cũng có thể là ông nhận thấy thân phận nhược tiểu của quốc gia khiến sứ đoàn bị khinh bỉ, nên chẳng có cảm xúc thi ca. Cũng có thể Chánh sứ thờ ơ với một thứ nhiệm vụ mà ông cho là vô thưởng vô phạt? Nếu Chánh sứ là người tâm huyết với nhiệm vụ, thì sẽ có cảm xúc mà thành thơ. Nhưng hình như vấn đề cần được nhìn nhận theo một khía cạnh khác. Nhiều bài thơ của ông, vừa như là tả thực lại vừa như là ám dụ, việc lựa chọn đối tượng trình bày cũng có dụng ý, cảnh sắc, sự việc, con người được nói tới, dường như ít nhiều đều nhằm thể hiện một gam màu đen tối và một âm thanh buồn thảm. Đó quyết không phải là phản ánh một tâm trạng vui vẻ, một thái độ thỏa mãn tự hào, mà là một sự thất vọng, một sự chán ngán, một sự phủ nhận chất chứa từ sâu thẳm tâm hồn ông, đã dồn nén từ lâu trong lòng ông. Trung Hoa không còn là chốn thiêng liêng đối với ông.

Lần đầu tiên trong lịch sử, Nguyễn Du cho chúng ta biết về một đất nước Trung Hoa rộng lớn những không bằng phẳng, tươi đẹp mà gập ghềnh, trắc trở, về một truyền thống kiêu hùng nhưng cũng lắm bi thương, về một dân tộc đông đúc nhưng cam chịu, nghèo khổ và đau đớn… Một bức tranh rất nhiều màu tối. Nó khiến cho ông phải kêu lên ai oán, rằng đâu đâu dưới gầm trời này cũng thế cả thôi, con người ta không thể thoát được nó, còn nếu đã rời khỏi nó thì đừng bao giờ trở về. Nên ông mới có Phản chiêu hồn. Toàn bộ những phản ánh đó của Nguyễn Du đã làm thành một sự đối lập quyết liệt với những hình ảnh tươi đẹp, lộng lẫy vàng son của chế độ phong kiến lý tưởng Trung Hoa thời thịnh kỳ được phổ biến trong sách vở, hay trong kí ức ông, luôn song hành như một thứ “tiền giả định” để đối sánh, để đánh giá. Thái độ của Nguyễn Du là một cách nhìn khác về chế độ phong kiến mạt kỳ Trung Hoa, chứa đầy thất vọng. Nó củng cố thêm thái độ của ông đối với cái chế độ phong kiến mạt kỳ nói chung đã mất hết sức sống, như một sự phản tỉnh, ngấm ngầm phủ nhận cái lý tưởng hằng theo đuổi của nhà Nho. Chế độ phong kiến đó không còn là điều thiêng liêng, không còn là lý tưởng đối với ông.

Rõ ràng, Bắc hành tạp lục cho ta thấy, khác với những người đương thời khi tiếp xúc với Trung Hoa, trong đầu Nguyễn Du đã chứa chất sẵn sự hoài nghi và phủ định đối với chế độ phong kiến mạt kỳ nói chung, với chế độ phong kiến mạt kỳ Trung Hoa nói riêng, nên mọi “điều trông thấy” đều chịu sự phán xét nghiêm khắc của ông. Điều này cũng lại cho ta thấy rằng, xét về mặt tư tưởng, ông đã đi trước những người cùng thời rất nhiều.

Bằng thực tiễn cuộc đời trải qua “thập tải phong trần”, và những năm tháng sống dưới vài vương triều phong kiến mạt kỳ Việt Nam với bao “cuộc bể dâu”, với bao “điều trông thấy mà đau đớn lòng”, Nguyễn Du đã chán ngán cái chế độ phong kiến ở Việt Nam đến độ nhìn đâu dường như cũng chỉ thấy toàn những xấu xa, đen tối, khiến cho ông, dù không đỗ đạt cao, dù được vương triều mới nhà Nguyễn không thể nói là không có những điểm sáng, và không phải không có những ưu ái riêng ông, nhưng lúc nào ông cũng buồn rầu thúc thủ, lúc nào cũng ngại ngùng dè dặt, nên dù “không bệnh mà lúc nào lưng cũng cúi khom khom” (“Vô bệnh cố câu câu” – Thu chí). Đứng ở một  góc độ nhất định, có thể xem việc đi sứ Trung Hoa của Nguyễn Du chỉ như một chuyến đi trải nghiệm thực tế về cái “thiên đường”, cái mô hình phong kiến “lý tưởng” mà sách vở nhà Nho tuyên truyền, trong thời mạt kỳ của nó, để kết quả càng khẳng định sâu sắc thêm cái nhận thức mà ông đã đúc rút ra từ thực tiễn Việt Nam, rằng chế độ này không còn lý do tồn tại, vì mặt đất này đâu đâu cũng là sông Mịch La (Đại địa xứ xứ giai Mịch La), vì ở đâu thì bọn lang sói cũng nhai xé thịt người ngọt xớt như đường (Giảo tước nhân nhục cam như di), ở đâu thì cái ác cũng hoành hành mà cái thiện thì cũng bị vùi dập, người dân thấp cổ bé họng bị đọa đày, còn những người tài hoa, trung thực đều phải chịu cảnh thiệt thòi, bạc mệnh. Trung Hoa dường như chỉ là cái minh chứng cuối cùng cho sự giải ảo, giải thiêng chế độ phong kiến mạt kỳ đã mất hết sức sống đối với ông.

*

Bắc hành tạp lục là tập thơ đầy tâm trạng, củng cố thêm thái độ hoài nghi, phủ nhận của Nguyễn Du đối với mô hình chế độ phong kiến lỗi thời. Ông không thể đứng ngoài lịch sử, lại càng không thể đi trước lịch sử. Ông là sản phẩm của thời đại lịch sử ấy, nhưng bằng linh giác nghệ thuật, ông thấy được sự phi lý và mất hết sức sống của chế độ phong kiến mạt kỳ khi nó không đem đến cho con người, hay đúng hơn, nó không còn khả năng giúp cho con người được thực hiện những quyền sống, quyền làm người căn bản mà đáng ra họ phải có. Nó vẫn, hoặc giãy giụa hoặc dữ tợn, tồn tại một cách đầy phi lý và thách thức như thế, trước khi mất hút vào bóng đêm lịch sử. Nhưng ông cũng không thể nhìn thấy ánh sáng của thời đại mới, khiến cho tâm trạng của ông tù túng, bế tắc, thậm chí tuyệt vọng. Cái bế tắc, tù túng, tuyệt vọng ấy chính là cội nguồn của những tấn bi kịch trong cuộc đời những nhân vật đẹp đẽ nhất trong các sáng tác của ông, và đó cũng là phản ánh tấn bi kịch tinh thần của chính ông. Đây là bài học quan trọng nhất mà Nguyễn Du muốn gửi cho hậu thế.

Nguyễn Phạm Hùng

(Đại học Quốc gia Hà Nội)

 

Tài liệu trích dẫn

[1] Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên. 2004. Từ điển văn học (Bộ mới). Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới.

[2] Ngô Thì Nhậm. 1978. Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, Quyển I. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

[3] Nguyễn Du. 1978. Thơ chữ Hán. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.

[4] Nguyễn Huệ Chi. 1983. Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Tác phẩm mới.

[5] Nguyễn Lộc. 1978. Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

[6] Nguyễn Phạm Hùng. 2006. Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

[7] Nhiều tác giả. 2008. Ngữ văn 10. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.

[8] Phan Huy Ích. 1978. Thơ văn Phan Huy Ích, 3 tập. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

[9] Trương Chính. 1978. Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.

[10] Viện Văn học. 1981. Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến trung Quốc xâm lược. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

[11] Xuân Diệu. 1981. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, T. I. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.

 

 

 

 

 

 



[1] Về thời điểm sáng tác Truyện Kiều hiện nay có hai giả thuyết, giả thuyết thứ nhất căn cứ vào Đại Nam chính biên liệt truyện, cho rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1813 – 1814); giả thuyết thứ hai được nhiều người tán thành hơn, cho rằng ông viết Truyện Kiều khi làm Cai bạ ở Quảng Bình (1809 - 1812).

[2] Hầu hết các nhà nghiên cứu khi đọc Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du đều cất lời khen ngợi rằng ông viết “rất khỏe”, bởi trong có hơn một năm với bao công việc của sứ bộ, mà viết được 131 bài thơ, là điều đáng khâm phục. Phan Huy Ích cũng trong thời gian và công việc tương tự chỉ viết được 80 bài trong tập thơ sứ trình Tinh sà kỷ hành, còn Ngô Thì Nhâm viết ít hơn nhiều trong tập Bang giao hảo thoại.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2389)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2452)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3081)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3477)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3717)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4332)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3834)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4856)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3134)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 3050)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8867)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15804)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14820)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15179)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2389)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3081)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4332)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5710)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3134)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4616)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4130)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4886)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3477)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3717)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3834)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4856)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2452)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 3050)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3133)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3642)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11723)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28119)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34509)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34591)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9243)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11496)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2389)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5710)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5182)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5237)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4565)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6528)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5770)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7592)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.