- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,551

NHỮNG BÀI THƠ CUỐI NĂM

27 Tháng Giêng 201712:46 SA(Xem: 18512)


anh sang va bong toi-internet
Ánh sáng và bóng tối - ảnh Internet


CHIỀU CUỐI NĂM

 

Chiều cuối năm mưa rối bời

Lạnh từ vai áo

Anh lại viết bài cuối năm

Từng hàng mưa li ti rơi vào phím gõ

 

Những ngón tay lạnh thấm mùa đông

Anh mơ thấy em trong giấc sáng hôm qua

Khi trời chưa đổ cơn mưa

Khi anh vừa thức dậy

 

Anh nằm cùng giấc mơ

Giấc mơ lùi xa như trí nhớ

Nụ cười ngày ở bên nhau

Bàn tay còn nhớ mãi bàn tay

 

Em có nghe mưa khi người không ở lại

Mình có còn gặp lại từ câu hỏi ngày mai

Mùa xuân em về hay em ra đi

Em có thấy buồn lên từ chớm đông sang

 

Chiều cuối năm anh trốn vào cuộc rượu

Nhưng không trốn được cơn mưa

Lòng chợt buồn như khóc

Ai lại tỏ tình khi môi lạnh làn môi

 

Ngoài khi mưa đang hát cùng gió đông

Lời chúc tụng thay lời từ giã

Em sẽ đón năm mới bằng tiếng cười rạng ngời hạnh phúc

Tất nhiên, ngày mai thế nào anh cũng vẫn yêu em

 

Chiều cuối năm mưa rối bời

Lạnh từ vai áo

Những kỷ niệm hãy gởi vào năm cũ

Khoác hộ em chiếc khăn quàng cổ ấm áp ngày đầu năm.

 

ĐẶNG HIỀN

(California 31-12-2016)


TRĂNG THÁNG CHẠP

Trăng tháng chạp vẫn chưa tròn
Đêm nay vành trăng khuyết quá
Chiều mưa vừa qua sáng mưa lại đến
Mặt trăng lờ đờ theo cặp mắt thiếu ngủ của anh

Sợ buồn nên em không kể về cuộc vui sắp đến
Những ngày nắng rộn ràng tiếng cười tươi cùng lá xanh
Em cầu an lành trong buổi lễ đầu năm
Mùa bỗng chao nghiêng theo nỗi nhớ dại khờ

Em nói em vẫn đọc thơ anh
Bài cuối năm âm thầm thủ thỉ
Nghe tình xa theo từng ngày mộng mị
Có thật chúng mình vẫn phải xa nhau

Ai đếm nhớ nhung bằng phút bằng giây
Đêm không ngủ để quên tình vì sợ khóc
Đừng khoe già để đùa cợt với thời gian
Con đường ta đi qua trùng trùng kỷ niệm

Những cơn mưa luôn được báo trước
Sao vẫn bồi hồi khi nhìn mưa rơi
Mùa Xuân đang về mắt em vui như Tết
Anh lặng thầm với tháng ngày trôi

Trăng tháng chạp vẫn chưa tròn
Không biết bao giờ mới gặp lại nhau
Kể câu chuyện về ngày xa cách
Một câu em nói anh viết cả bài thơ...

ĐẶNG HIỀN
(Cali Jan 05-2017)


KHUNG CỬA MÙA ĐÔNG

 

Buổi chiều khung cửa mùa đông

Nghe chiều mê mải niềm trông mong chiều

Nhớ thương đong đếm chi nhiều

Trong từng ô nhỏ cũng liều nhớ em

 

Đường bay nào đã mang đêm

Về qua cõi nhớ môi mềm cuộc say

Bình tĩnh lại hơi rượu cay

Em hoang mang lạ bên ngày chia xa

 

Buồn tan từng cánh hồn hoa

Hát cùng gió sớm nắng nhòa hơi sương

Mưa tương tư tình đoạn trường

Người đi để lại bức tường nhớ nhung

 

Thơ hoài như mối tình chung

Riêng em là một phím chùng xót xa

Làn hương ủ áo trắng ngà

Gió mùa thêm lạnh trăng tà trống không

 

Buổi chiều khung cửa mùa đông

Em băng qua những cánh đồng hồn tôi

Mùa xuân nào cũng chia phôi

Lá mưa em xuống tim tôi xanh tình...

 

 

ĐẶNG HIỀN

(JAN 16-2017)


KHOẢNG TRỐNG

 

Có khoảng trống trong từng ngày rất vội

Chiều ơi chiều sầu từng vạt nắng lên

Bên bóng đổ anh nghe chiều tê lạnh

Khi  em về sao lạc bước chân đêm

 

Đôi  mắt nhớ hắt hiu bờ tóc rối

Nụ hôn xa cho môi nhớ thật gần

Cơn bão rớt bay ngang ngày thấm lạnh

Giữ riêng người ở lời nói yêu thương

 

Đêm xuống thấp như một bài hát nhỏ

Đêm thì thầm "bao giờ thôi nhớ em" (*)

Ngày chợt nắng xanh cùng đêm thương nhớ

Ngày chia xa vỡ giọt rượu yêu người

 

Có khoảng trống làm sao anh lấp nổi

Từng mùa đông lạnh buốt với đất trời

Tờ lịch rơi mà nỗi buồn còn lại

Anh già thêm khi nhung nhớ chất chồng

 

ĐẶNG HIỀN

Cali Jan 20-2017

 

Ý kiến bạn đọc
03 Tháng Hai 20195:53 SA
Khách
Thơ hay tuyệt vời, đọc mà muốn khóc 😢 😢 😢 😢 😢 ....
Có khoảng trống làm sao anh lấp nổi....
.........
Anh già thêm khi nhung nhớ chất chồng...!!!
30 Tháng Giêng 20176:09 SA
Khách
Tuyệt vời !
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1576)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6325)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6183)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13565)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30687)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81706)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20523)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 389)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.