- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,188,128

Nhà Sử Học Tạ Chí Đại Trường qua đời tại Sài Gòn

26 Tháng Ba 20162:40 SA(Xem: 4868)

TCDT- TranTriet
Nhà Sử Học Tạ Chí Đại Trường - ảnh Trần Triết / Người Việt


Theo tin Nhật Báo Người Việt- Nhà sử học, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông Tạ Chí Đại Trường, vừa qua đời tại Sài Gòn, thọ 81 tuổi. Người chị dâu của ông Tạ Chí Đại Trường, là bà Nguyễn Thị Minh Hiền, xác nhận với Người Việt tin này.

Theo bà Minh Hiền, ông Tạ Chí Đại Trường mất vào khoảng từ 4 giờ đến 4:30 sáng ngày 24 tháng Ba (giờ Việt Nam), tại tư gia ở Quận 5 của người anh ruột, là ông Tạ Chí Đông Hải.

Bà Minh Hiền cho biết ông Tạ Chí Đại Trường sinh năm 1935 (nhưng trên giấy tờ ghi 21 tháng Sáu, 1938), tại tỉnh Bình Định. Và vì ông có quốc tịch Hoa Kỳ nên gia đình phải khai báo để cơ quan hữu trách thực hiện khám nghiệm tử thi. Gia đình cho biết người quá cố sẽ được hỏa thiêu tại Việt Nam.

Bác Sĩ Ngô Thế Vinh, tác giả “Vành Đai Xanh” và “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng,” nói với Người Việt: “Tạ Chí Đại Trường là một nhà nghiên cứu sử học quan trọng, không chỉ với miền Nam, mà của cả Việt Nam.”

Theo Wikipedia, tên của ông, Đại Trường, được ghép từ hai địa danh của tỉnh Khánh Hòa là Đại Lãnh và Trường Giang (sông Cái). Ông là con trai Cử Nhân Hán Học Tạ Chương Phùng, một nhà cách mạng hoạt động trong phong trào toàn dân chống Pháp giành độc lập dân tộc thập niên 40 - 50.

Vẫn theo Wikipedia, năm 1964, Tạ Chí Đại Trường tốt nghiệp cao học Sử tại Đại Học Sài Gòn rồi nhập ngũ. Ông phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1964, cấp bực cuối cùng là đại úy. Trong thời gian chiến tranh, Tạ Chí Đại Trường bắt đầu sưu tập tiền cổ và tập trung nghiên cứu về đề tài này. Những bài viết của ông về tiền cổ trong thời gian sau đó được giới nghiên cứu sử học quốc tế đánh giá cao.

Năm 1964, trong thời gian học Cao Học, Tạ Chí Đại Trường cho ra đời một cuốn tiểu luận lịch sử Việt Nam giai đoạn 1771 đến 1802, trong đó ghi lại những sự kiện xoay quanh cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Tác phẩm này đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn Sử năm 1970 và được nhà xuất bản Văn Sử Địa in thành sách năm 1973 với tựa đề Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ năm 1771 đến 1802.

Wikipedia viết, sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, cuốn sách với nội dung đặt lại vấn đề về nhà Tây Sơn đã khiến Tạ Chí Đại Trường gặp nhiều rắc rối. Lịch sử nội chiến bị cho là “hạ thấp Quang Trung, đề cao Gia Long” và bị cấm lưu hành tại Việt Nam trong một thời gian dài và chỉ được in lại trong nước từ cuối thập niên 2000.

Sau năm 1975 ông bị tù “cải tạo” đến năm 1981.

Tháng Tám năm 1994, Tạ Chí Đại Trường định cư tại Hoa Kỳ. Do điều kiện cuộc sống, phải tới 10 năm sau ông mới quay trở lại Việt Nam và khó có cơ hội tiếp xúc với tài liệu sử học trong nước, vì vậy Tạ Chí Đại Trường phải từ bỏ những đề tài chuyên biệt để tập trung nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung thông qua các tư liệu thu thập được qua nhiều nguồn ở Mỹ, kể cả từ các chợ sách ngoài trời.

Tại Mỹ ông bắt đầu cho in các tác phẩm chính của mình, như Những bài dã sử Việt (1996), vốn là tập hợp các bài viết ở Việt Nam của ông giai đoạn 1984-1986; hay cuốn Thần, Người và Đất Việt (1989, 2000). Cuốn Thần, Người và Đất Việt khi xuất hiện không chính thức ở Việt Nam được đánh giá cao, nhiều nhà sử học Việt Nam nhận xét rằng Tạ Chí Đại Trường là một chuyên gia sử học, dân tộc học đáng tin cậy.

Kể từ cuối thập niên 2000, sách của Tạ Chí Đại Trường mới được chính thức in và phát hành tại Việt Nam. Năm 2014, Tạ Chí Đại Trường được Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh trao giải thưởng Văn Hóa Phan Chu Trinh về ngành nghiên cứu.

Các tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường đã được xuất bản tại Hoa Kỳ: Thần, Người và Đất Việt (1989, 2000), Những bài văn sử (1999), Những bài dã sử Việt (1996), Việt Nam nhìn từ bên trong (viết cùng Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, 1994), Một khoảng Việt Nam Cộng hòa nối dài (1993), Lịch sử nội chiến Việt Nam (1771-1802) (1991, in lại từ bản gốc năm 1973). (T.Đ.)

Nguồn:

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=224906&zoneid=1

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Mười 20189:13 SA(Xem: 1397)
Sinh ngày 6/10 Nhâm Ngọ, tức 13/11/1942, tại thôn “Me Vừng,” làng Phụng Viện thượng Hải Dương, Bình Giang, Hải Dương—nhưng trên khai sinh, đề ngày 6/0/1942—tôi có một lá tử vi khá kỳ lạ. Giáo sư Nguyễn Bỉnh Tuyên—một lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã, thày dạy kèm chữ Pháp cho tôi trong hai năm Đệ Tam, Đệ Nhị (1957-1959)—nói tôi có số “ở tù;” nên “ở lính” có thể giải thích như ở tù. Mãi tới năm 1971, bác Phan Vọng Húc—bạn cha tôi ở Hải Dương, phụ thân nhà thơ Phan Lạc Giang Đông—mới đưa ra lời giải đoán khá chính xác: Tôi có số “Ngựa Trời,” sẽ xuất ngoại, đỗ đại khoa, và thọ tới hơn 70.
02 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 59568)
Khái Hưng gốc làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương–nơi chính quyền Bảo hộ Pháp từng dùng bom đạn san bằng sau cuộc khởi nghĩa mùa Xuân năm 1930 của Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ]. Thân phụ là Trần Mỹ, Tuần phủ Phú Thọ [Thái Bình?].
12 Tháng Mười Một 20189:44 CH(Xem: 302)
Bức điện ngắn ngủi. Tôi đọc và không tin ở mắt mình. Chiếc ấm điện chưa đổ nước đã cắm phích, vài khắc nổ tung. Thach giật minh chúi đầu vào bức chân dung đang vẽ dở. Tôi nhẩm nhẩm đọc lại: ‘’Em hay vô đây, anh đã xây cho chúng ta một ngôi nhà...’’.Thạch dành bức điện, lướt mắt rồi vò nát:’’ Thằng nào?’’ .Tôi không trả lời, ểu oải nằm vật ra giường.Thạch tức tối vò bức tranh. Tôi như trượt về ký ức. Đà Lạt năm ấy giữa mùa hạ chói gắt, chiecs xe khách vất vả vượt đèo Ngoạn Mục. Tôi đến Đà Lạt, bên này đỉnh đèo là mùa dông rét mướt. Cái lạnh đột ngột phả vào nỗi bức bối mà tôi đang phải chốn chạy.
12 Tháng Mười Một 20187:44 CH(Xem: 263)
Tôi chọn em và thơ để sống mỗi ngày được nhiều hơn 24 tiếng. / Em đừng treo anh vắt vẻo lên câu thơ, bắt anh giữ thăng bằng cùng thời cuộc. Anh yêu mến đám đông nhưng đám đông trì níu anh đến chết. / Em chỉ đau ngón chân đã làm anh đau cả bàn tay phải. Những bờ huyền thuần khiết đã nhường nhịn em, những hờ lan mệt mỏi đã nhường nhịn em. Anh cũng nhường nhịn em dù anh không phải là người đàn ông tốt nhịn. /
04 Tháng Mười Một 20188:37 CH(Xem: 560)
Những đứa trẻ mùa đông / Nô đùa cùng giá rét / Củ khoai lùi ấm áp khất thực tuổi thơ / Còng lưng chữ nghĩa đu đưa sợi dây vực thẳm trố mắt ngẩn ngơ /
04 Tháng Mười Một 20188:27 CH(Xem: 542)
không thề xác tín được / nụ hôn luôn bí mật hiện đang phiêu du / nó sẽ dành cho bóng hình ẩn mặt / khi ý thức chẳng hiểu gì về sự phỉnh dụ của giọng nói /
31 Tháng Mười 20186:16 CH(Xem: 758)
Vài phút nữa em thức dậy / Vậy là tháng mười sắp hết / Tình rét co ro em con mèo nhỏ / Em khoác áo vàng mùa dã quỳ mưa /
30 Tháng Mười 20189:28 CH(Xem: 710)
Mưa không ngưng từ ngày cô bỏ đi. / Cô đếm từng đêm. / Đã 4000 đêm mưa. Từ khi cô đã cuống cuồng bỏ chạy, đã hấp tấp đến nỗi không kịp mang theo một thứ gì, cô lật đật lưỡi đưỡi, vấp váp, rồi vùng dậy, đứng lên, lao ra khỏi vùng phai tàn. / Phải rồi, ở đó, trong bóng tối mát dịu của người đàn ông ấy, quanh chỗ rợp đổ xuống của bờ vai rộng mà cô dựa vào mỗi đêm, quanh vồng ngực ấm mà cô chúi vào mỗi đêm, giờ chỉ là một vùng phai tàn. / Từ khi cô bỏ chạy, đã được 4000 đêm.
26 Tháng Mười 20188:54 CH(Xem: 533)
Nhân dịp nhà văn Nguyên Ngọc giõng dạc tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 26/10/2018, xin đăng lại cuộc chuyện trò đã đăng trên Hợp Lưu mới chớp mắt đây mà đã 15 năm truân chuyên vận nước (ND)
26 Tháng Mười 20185:31 CH(Xem: 640)
Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, “tự diễn biến” thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước. Tôi không thể còn đứng trong một tổ chức như vậy. Tôi vẫn tin ở tương lai của đất nước, nhất là ở lớp trẻ, vì không có lực lượng vô luân nào có thể ngăn trở dân tộc này quyết định vận mệnh của mình. Nguyên Ngọc Ngày 26-10-2018