- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,421,835

Lời nhà xuất bản

15 Tháng Mười Một 20152:57 SA(Xem: 26815)

 dh 2013

Sau một thời gian khá dài tạm ngưng xuất bản báo in của Hợp Lưu, chúng tôi quyết định sẽ theo chiếu hướng phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật truyền thông, để tái bản Tạp Chí Hợp Lưu in, đồng thời phát động việc ấn hành các tác phẩm có giá trị của các học giả và tác giả ngoài cũng như trong nước.

Tác phẩm được chọn để mở đầu hoạt động của Nhà Xuất Bản Hợp Lưu là biên khảo mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu và Bà Hoàng Đỗ Vũ, về một đề tài sôi động dư luận suốt bốn thập niên qua, tức vấn đề “tranh chấp biển đảo” Đông Nam Á. Nghiên cứu nặng về khía cạnh pháp lý này đã được sơ thảo năm 1999, bằng Anh ngữ, tức tiểu luận về khía cạnh Nhân Quyền trong bang giao Liên Bang Mỹ và Việt Nam từ 1975 tới 1995. Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu và bà Hoàng Đỗ Vũ cũng đã nhận học bổng Fulbright của Bộ Ngoại Giao Mỹ du khảo Việt Nam trong niên khóa 2004-2005, nghiên cứu về khía cạnh pháp luật của kế hoạch đổi mới (1986 tới hiện tại), đồng thời có dịp làm việc, thăm viếng từ bắc chí nam, qua sự trợ giúp của Đại học Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh—tức Đại học Văn Khoa cũ của Sài Gòn, nơi Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu đã tốt nghiệp bằng Cử Nhân Giáo Khoa Triết Đông năm 1974, mặc dù đã bị động viên, tái ngũ sau cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968.

Phần thứ hai của tác phẩm này là một nghiên cứu về tham tâm xâm chiếm Đại Việt của nhà Minh (1368-1644), đổi tên nước ta thành Giao Chỉ Đô thống sứ ti (5/7/1407-2/1/1428). Dựa trên tư liệu Trung Hoa, đặc biệt là Minh thực lục [Ming shi-lu], cùng các bộ quốc sử Lê, Tây Sơn và Nguyễn, Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu tóm lược những kỷ niệm buồn vui của hơn 20 năm chiến tranh kháng Minh (1407-1428), cùng thí nghiệm “đô thống sứ ti” [dutong tusi] mà nhà Minh đã áp dụng ở Đại Việt, cho tới năm 1647, khi Chu Do Lang, tức Minh Quế Vương, phong Thái thượng Hoàng Lê Duy Kỳ (Lê Thần Tông, 23/6/1619-27/11/1643, TTH 1643-1649,11-12/1649-2/11/1662) làm An Nam Quốc Vương, và rồi 20 năm sau, 1667, Ải Tân Giác La Huyền Hoa (Khang Hy, 1661-1722) nhà Thanh cũng phong Lê Huyền Tông (1662-1671) làm An Nam Quốc Vương, trả lại quốc thống cho vua chúa Việt. Trong bài phúng điếu Quang Trung, Ải Tân Giác La Hoằng Lịch (Càn Long, 1735-1796) cũng giúp khẳng định về tục lệ cống tượng người vàng [kimren] khoanh tay, cúi đầu mà vua Minh bắt các vua An Nam phải cống lễ, cùng với số quí kim vàng bạc lên tới 5,000-10,000 lạng (187 kilograms 500 tới 375 kg) mỗi năm. Trong nghiên cứu mới nhất này, sử gia Vũ Ngự Chiêu đã dùng phương pháp tỉ đối nhiều nguồn tư liệu gốc, trả lại sự thực cho lịch sử dân tộc. Đặc biệt, tác giả dành phần kết luận cho độc giả và hậu thế, hơn tiếm đặt những kết luận mà mỗi công dân Việt cần tự suy gẫm, tìm hiểu cho mình. Kết luận cần thiết vì tình trạng địa lý-chính trị giữa Việt Nam với Trung Hoa—hai nước láng giềng, nhưng nhỏ lớn khác nhau, và tham vọng làm chủ cả vũ trụ của Hán tộc. Chúng tôi cũng sẽ phổ biến những sáng tác văn chương có giá trị, với niềm tin không thể có sự trói buộc phi nhân, vô lý nào quyến tự do được sáng tác, và tự do thông tin.

Đa tạ sự yểm trợ của quí vị độc giả cùng văn thi hữu suốt hơn hai thập niên qua.

Tạp Chí Hợp Lưu

ĐÃ PHÁT HÀNH:

Sách có thể đặt mua từ hệ thống phát hành AMAZON theo đường dẫn dưới đây:

Nhuc Han Bien Dong Nam A -Kien Hay Khong Kien, tap 1 (Volume 1) (Vietnamese Edition) (Vietnamese) Paperback – November 11, 2015

by Chieu N Vu (Author)

http://www.amazon.com/Nhuc-Bien--Kien-Khong-Vietnamese/dp/1944372008/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1447811671&sr=8-1&keywords=NHUC+HAN+BIEN+DONG+NAM+A

 






Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1048)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4144)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
22 Tháng Hai 20204:40 CH(Xem: 520)
20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng. Với tầm nhìn qua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.
16 Tháng Hai 20204:43 CH(Xem: 569)
Người dân Vũ Hán thảm sầu / Một trời ú ám nhuộm màu thê lương / Xuân về phủ kín màn sương / Khắp nơi phong tỏa, phố phường vắng tanh
16 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 524)
hãy kéo dài nụ hôn che lấp tiếng cười / để bước chân người trôi nhẹ / khuôn mặt sẽ mờ theo ngày mưa vỡ / nghìn trùng thanh xuân trong đôi mắt nàng Thơ
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 515)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 502)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
13 Tháng Hai 20207:42 CH(Xem: 604)
khi người thức đợi bóng trăng / có con bướm nhỏ / chợt ngần ngại bay / tơ trời theo gió nhẹ lay / để em kết lại / nối ngày thành đêm...
08 Tháng Hai 202012:06 SA(Xem: 690)
Ở xứ người Phan có lạnh không Phan / Chắc quanh năm hiếm gặp nắng vàng / Ở nơi ấy có con trăng mười sáu / Cả nỗi buồn chưa kịp quá giang /
07 Tháng Hai 202011:53 CH(Xem: 555)
đôi mắt mỏi mệt không thể nhìn xuyên đêm / bóng đêm làm chúng ta mù lòa / hãy im lặng như thiền sư ngồi nghe tiếng côn trùng / nhớ lại đêm trừ tịch / chờ nghe tiếng thú đầu tiên mừng năm mới / ở đây ta chẳng nghe gì cả / trên cao độ của ngọn đồi chỉ có tiếng mưa rỉ rả / ngôn ngữ của im lặng /