- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Sài Gòn vẫn đẹp

18 Tháng Mười 201511:15 CH(Xem: 58454)


SACH-PHOTO DH
Sách - photo ĐẶNG HIỀN


Sài Gòn quả thật vẫn đẹp mà nó vẫn đẹp theo cái cách mà tôi nhìn ngắm nó, nó vẫn đẹp như mơ, cực kỳ hoàn hảo và trác tuyệt.  Vì đâu mà tôi có thể thấy như vậy nhỉ?  Có lẽ nó xuất phát từ cái chủ quan riêng biệt của tôi mà tôi thấy như vậy.  Nếu như một người nào đấy lên Sài Gòn mà tìm được cái nét yên bình của chốn bồng lai từ một không gian địa lý nào đó trong thành phố thì cái đó cứ như là việc tìm ra ốc đảo giữa sa mạc mênh mông khét nắng của một người du hành khát nước bị lạc trong nhiều ngày.  Đối với cá nhân tôi thì cái chốn bồng lai ấy dẫu có hiện hữu thật đi chăng nữa thì nó cũng không nằm trong cái khuôn mẫu vẻ đẹp được soạn thảo trong tâm trí tôi và cái tâm trí mà mang trong nó sẵn cái bản thảo của vẻ đẹp ấy sẽ thông qua đôi mắt cảm nhận của tôi mà phóng chiếu lên không gian bên ngoài đôi mắt tôi về cái hình ảnh của Sài Gòn – thế nên đấy sẽ là Sài Gòn của riêng tôi – chứ không của ai khác, nó sẽ mang vẻ đẹp như một thuộc tính trong cảm nhận của tôi mà hình tượng chốn bồng lai có vẻ như là một chốn hoang dại, lạc loài nếu như chúng tồn tại trong bản thảo vẻ đẹp này.

Sài Gòn từ khi tồn tại trong lịch sử đến nay đã hơn ba trăm năm.  Tôi nghiền ngẫm lại lịch sử nước nhà thì thấy xứ Sài Gòn-Gia Định từ xưa đã là xứ đặc biệt của đất Đàng Trong.  Tại xứ này vừa có đất rộng để lập chợ buôn, có cảng lớn để thương thuyền cập bến, đường xá lại thuận tiện để đi bất cứ đâu, đất này từ xưa đã là đất dung nạp người dân tứ xứ vì người ta nhìn thấy ở đây sự phát tài phát lộc, hoặc giả như không được thế thì cũng sống được nếu chịu khó làm lụng.  Vì thế những người di dân Việt từ xứ ngoài vào đây để khai hoang lập bến mở chợ, rồi đến cả người Hoa, người Miên, người Khmer cũng chọn đây là nơi lập nghiệp.  Ai đến đất này thấy ưng thì dừng chân mà không ưng nữa thì cứ đi, chẳng cần níu kéo, Sài Gòn từ xưa đã mang trong mình cái khí chất là đất của muôn người, xưa đã thế và giờ vẫn vậy.

Nhớ lúc trước Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi phải cùng thuộc hạ và gia quyến chạy khắp nơi để tránh sự truy đuổi, thế rồi cuối cùng cũng nhân cơ hội thuận lợi để tái chiếm lại thành Gia Định từ tay Đông Định Vương Nguyễn Lữ, rồi tổ chức binh lực, tập trung sức người sức của, chờ thời cơ mà đánh bại dần dần lực lượng Tây Sơn rồi lên ngôi lập nên triều đại nhà Nguyễn.  Nêu đến đây cũng thấy đất này cũng là đất làm nên cơ nghiệp của đế vương chứ không phải chỉ là phiên trấn hạng xoàng.  Lướt lại chuyện xưa chỉ là để thấy Sài Gòn trong rất hoành tráng, vẫn đầy câu chuyện cả văn lẫn võ.

Đến nay thì thành phố có đến gần tám triệu dân, gấp đôi với thời trước 1975, đông nhất Việt Nam bây giờ, gấp gần chín lần Đà Nẵng, đông hơn cả Hà Nội, mặc dùng Hà Nội bây giờ sát nhập thêm tỉnh Hà Tây nhưng dân số cộng lại vẫn chưa bằng Sài Gòn.  Làn sóng đông đúc của dân cư chủ yếu là từ các tỉnh thành vào Sài Gòn làm ăn sinh sống tấp nập, ai quen sống nhàn hạ kiểu nông tri điền ở làng quê mà lên đây là ngộp thở chịu không nổi với nếp sống công nghiệp, sẽ thấy ngột ngạt vì cảnh tấp nập ấy.  Ở chốn làng quê vắng vẻ đìu hiu nên băng sang bên này băng sang bên kia vô tư nhưng nếu băng sang bên kia đường ở Sài Gòn thì phải tính toán rất kỹ như nhà vật lý, lúc băng sang bên kia mà nhìn thấy chiếc xe đang đi đến thì trong đầu dần dần ước lượng đoán định, đo đếm chiếc xe ấy còn cách bao xa và nó chạy nhanh hay chậm để mà còn bước đi hay đứng yên để chờ cái xe ấy đi qua để bước tiếp sang bên kia đường.  Chuyện này phải thật sự cẩn trọng vì nếu không sẽ không biết chuyện gì xảy ra, khoảnh khắc của cái tính toán này nếu miêu tả thì thấy dài dòng nhưng thực ra nó diễn ra rất nhanh trong tiềm thức tựa như đã trở thành một kỹ năng được thuần thục khi đối diện với 'dòng sông xe' như thế hàng ngày mà chẳng cần cái máy tính hay công thức gì cả.  Những người ngoại quốc từng nói rằng “Nếu bạn cảm thấy leo núi băng rừng là chưa đủ mạo hiểm thì hãy đến và tham gia giao thông ở Việt Nam”.  Câu nói này đủ để thấy cái thực trạng chung của đất nước mà Sài Gòn cũng là ở trong cái nỗi niềm ấy.

Theo dòng dân cư từ khắp nơi đổ về cũng mang theo cái đa dạng, mọi người đến đây để học tập và sinh sống mà lâu dần trở thành cư dân thành phố nhưng vẫn mang cái sự riêng biệt của địa phương nhưng thống nhất trong một chỉnh thể là “người Sài Gòn”, một trong rất nhiều biểu hiện trong cái sự đa dạng mà người Sài Gòn đã làm nên nó ví như trên một con đường có thể vừa có cả mì Quảng, cơm tàu người Hoa hay phở gà miền Bắc …ấy là về ẩm thực.  Rượu ở Sài Gòn thì có nơi bán cả rượu Gò Đen Long An, Bàu Đá ở Bình Định, rượu nếp Bắc, vodka Hà Nội, rồi có cả rượu ngoại nhập như Sochu của Hàn Quốc … dù là thật giả đủ loại nhưng sức phong phú cho các bàn nhậu về rượu thì có thừa.  Đa dạng còn biểu hiện ở chỗ là khi chúng ta thử vào một khu dân cư nào đó hoặc khu ký túc xá của khu đô thị Làng Đại Học thuộc phường Linh Trung thuộc quận Thủ Đức giáp ranh với Bình Dương là có thể nghe thấy các âm điệu của các giọng nói: trọ trẹ như Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi hay cao ngất “tau,mi  mô, răng, rứa” như Huế, Quảng Trị, Nghệ Tĩnh …. nhờ thế mà làm cho Sài Gòn sôi động hẳn lên, tạo nên một nền văn hóa mở, thu hút sự riêng biệt vào một chỗ, tạo nên cái đa dạng trong thống nhất.  Chính vì đa dạng như thế nên muốn tồn tại thì phải chấp nhận nhau, chứ không thể có một chủ thể hùng mạnh che lấp các chủ thể khác, vì nhu cầu cộng sinh mà tồn tại nên cái tính cục bộ địa phương bị xóa mờ mà thay vào đó là sự hòa hợp, ít xung khắc, đây có thể nói là cái đặc biệt hiếm có trong số các đô thị của Việt Nam.

Cái khí chất là “đất muôn người” làm người dân tựu lại đây để mưu sinh, thế nên chẳng có cái lề đường vỉa hè nào ở Sài Gòn là vắng vẻ cả.  Đi bộ trên phố mà đói bụng thì cứ sà vào cái quán hủ tiếu bên lề, gọi một tô hủ tiếu, ăn xong thì ngó sang bên kia đường cũng sẽ thấy một cái quán nước trên lề thì ghé qua đấy để giải khát, hoặc có khi nếu từ bên này đến bên kia mà gần nhau thì gọi vọng sang thì người bên đó nghe thấy cũng sẽ mang đồ giải khát sang cho mình.  Rồi có những quán nước mà quán ăn gần kế bên nhau cùng một chủ quán trên cùng một lề đường thành ra vào quán “2 trong 1” này cũng rất tiện, có những quán chỉ có ghế mà không có bàn bởi vì bàn cũng chính là cái ghế để cho khách để chai nước lên hay ly cà phê lên vừa ngồi nhấp môi từng ngụm vừa ngắm đường phố và thể nào lát nữa cũng sẽ có người ghé đến mời mua vé số.  Rồi nếu nhìn sang phía cuối lề đường của những con đường gần ngã tư hay ngã ba thì sẽ thấy các chú xe ôm mặc áo quần xuề xòa, ngồi trên chiếc xe Dream hay Wave đã cài trống xe dựng đứng để chờ được chạy một cuốc xe ôm, tay thì cầm điếu thuốc hiệu Jet hay Craven A thỉnh thoảng lại rít một hơi phả vào không trung, đầu đội nón che nắng nhưng nước da thì đen ngòm vì nắng, khuôn mặt thì trầm ngâm và thỉnh thoảng lại ngáp ngắn ngáp dài vì chờ mãi mà chưa chở được cuốc nào cả … thế mới thấy lề đường Sài Gòn ra sao.

Các hoạt động của cư dân diễn ra trên lề rất yên ổn nhưng có khi thì lại rất bát nháo, tôi đã từng chứng kiến cảnh những người buôn bán trên lề đường cãi nhau rồi đánh nhau làm inh ỏi khu dân cư quanh đấy.  Người dân hiếu kỳ chạy ra xem, can ngăn, hỏi kỹ mới biết ông bán phá lấu và ông bán cháo lòng này không ưa nhau từ trước.  Mâu thuẫn tích tụ dần mà lại buôn bán kề bên nhau, liên tục đụng mặt nhau, nên đến lúc bộc phát mà sinh sự mà thôi.  Rồi có lúc ông quán cà phê nọ dắt xe khách nhầm vào chỗ để xe khách của ông ở quán bên cạnh mà cũng xảy ra cự cãi xô xát, kêu cả người quen vác hung khí để dằn mặt, sau cùng công an phải ra giải quyết.  Hai bên hòa giải được nhưng hai quán cà phê lề đường này cũng sẽ không được phép tiếp tục buôn bán nữa vì họ đã gọi công an nhờ giải quyết mâu thuẫn mà luật pháp quy định là không được buôn bán trên lề đường.  Kể từ đấy không còn thấy quán nước của họ ở lề đường vỉa hè này nữa.  Vậy nên những người buôn bán trên lề, nếu họ xảy ra mâu thuẫn thì thường phải tự giải quyết, nếu nhờ công an thì buộc phải chấm dứt buôn bán nhưng nếu để họ tự giải quyết thì cũng sẽ không ổn mà có khi dẫn đến hậu quả lớn.

Sở dĩ tôi nói dông dài về chuyện buôn bán lề đường để cho thấy rằng chính trên cái lề đường mà người ta còn phải vất vả lam lũ và đôi khi bất hòa với nhau vì cái không khí hoạt động kinh tế sôi nổi, thế thì cũng đủ biết các lĩnh vực khác cần trình độ thì chúng sẽ diễn ra như thế nào.

Khi xưa là nơi trù phú sầm uất buôn bán của lái buôn thì đến nay được gọi là trung tâm kinh tế đầu tàu của Việt Nam, Sài Gòn có vai trò mà theo chiều dài lịch sử vẫn không hề thay đổi nhưng kèm theo đấy cũng là sự đa dạng nhiều chiều trong tâm tính của người Sài Gòn, lúc thì nắng lúc thì mưa.  Có lẽ vì bộ mặt kinh tế cũng phản ánh bộ mặt tâm tính này trên nền tảng đa dạng dân cư, chính vì hoạt động kinh tế đa dạng nên dẫn đến cái khuôn mặt của con người cũng muôn kiểu muôn vẻ như vậy, khi thì cười nói hả hê vì bán hàng chạy, khi thì méo mó trầm buồn vì một ngày làm việc không hiệu quả ít lời mà nhiều lỗ, lúc nào rộng rãi hay hẹp hòi thì cũng phải căn cơ vào cái bát cơm có nhiều hay không, có lúc những sự căng thẳng của mưu sinh chín mùi đến mức độ không thể kềm nén thì phát ra tiếng than thở lẫn giọt nước mắt hoặc những sự cãi cọ nhau vì cơm áo gạo tiền mà quan hệ con người bị rạn vỡ.  Có những trường hợp sinh kế túng quẫn làm con người tiêu hao dần nghị lực mà dẫn đến những sự thương tâm đáng tiếc, đó cũng là vì con người phải oằn mình trong cái lo cho vô vàn thứ,có người thì lo đến khoản nợ chưa trả khi sắp đến hạn phải trả, lo đến khoản tiền thuê nhà hay phải mua bảo hiểm y tế để phòng khi ốm đau bệnh tật, người thì dư dả của ăn của mặc thì dự tính mua này sắm nọ cho sự lợi ích tiện nghi của mình nhưng cũng có kẻ vung vãi tiền bạc của mình vào những thứ vô bổ mà chẳng hề suy nghĩ gì cho ngày mai, thậm chí có nhiều những người túng thiếu mà làm liều như một mặt trái trong mâu thuẫn đến từ sự lo toan cái miếng cơm manh áo.

Tựu chung lại cái con người ở Sài Gòn muốn mình phải đủ sống, sống để làm và làm để sống, vậy nên Sài Gòn mới trở thành trung tâm kinh tế, là chỗ dựa của nhiều người, nhưng cũng là trung tâm của sự lo toan, mưu tính.  Có lẽ những điều này cũng có thể thấy ở những thành phố khác nhưng ở đây tác giả lại muốn chọn nơi đầu tàu của đất nước để miêu tả như một sự nhấn mạnh rằng dân cư ở đây đa dạng phong phú và đông nhất Việt Nam thì hoạt động của các tầng lớp tứ dân “sĩ nông công thương” ở đây cũng vào loại nhộn nhịp nhất cả nước.

Nhân tiện muốn nói cho rõ một chi tiết là đến cả tầng lớp “nông” vốn chẳng liên quan gì đến phố xá thành thị mà cũng đến thành phố làm lụng thì cũng đã cho thấy có tồn tại một niềm hy vọng ở họ mà trong đó có sự mong thay đổi những hiện trạng của mình khi còn bên ruộng đồng, mặc dù không phải tất cả nhưng thật sự là có rất nhiều lao động xuất thân là nông dân tại các vùng quê mà lên thành phố làm việc.

Người nhiều thì lao động nhiều mà lao động càng nhiều thì bộ mặt xã hội bộc lộ ra càng nhiều cái hiện tượng cũng như cái bản chất biến thiên nhiều vẻ mặt: tốt đẹp, lương thiện, chân thật, nghiêm túc, kỷ luật hoặc là xấu xa, thâm hiểm, dối trá, hời hợt, cẩu thả v..v..  mà muốn quan sát và khắc họa về những mặt này thì thiết nghĩ rằng Sài Gòn là nơi thích hợp hơn cả.

Vì nó đông đúc và bon chen xô bồ như thế nên cái chốn bồng lai như tôi nêu ở trên chỉ là cái chốn lạc loài rỗng tuếch trong bản thảo của tâm trí đó, bởi vì Sài Gòn là phải bao gồm tất cả cung bậc cảm xúc của một thành phố năng động.  Không phải bây giờ nó mới như vậy mà từ trong lịch sử nó đã như vậy.  Có lẽ cái chốn bồng lai tĩnh lặng đứng trong cái căn tính náo nhiệt chỉ là làm cho cái đẹp của Sài Gòn bị lệch đi mà thôi, cái tĩnh lặng có giá trị nhất có lẽ là cái tĩnh lặng trong tâm trí, tĩnh lặng giữa chốn náo nhiệt.  Tìm lại chính mình trong cảnh chợ búa là một việc rất khó khăn khi mà xung quanh đầy lời rao vặt, tiếng kỳ kèo thách giá mời gọi làm chúng ta bị cuốn vào chúng, bị lôi vào cái lo toan thường nhật khi đó sự tĩnh lặng nổi lên như một chốn bồng lai duy nhất trong tâm hồn chứ nó không hề có ý nghĩa của một không gian địa lý hiện hữu nào đó.  Sài Gòn là nơi hiếm cho thấy sự tĩnh lặng của chốn bồng lai hiện hữu về không gian địa lý vì vậy mà sự tĩnh lặng trong tâm hồn con người mới là cái quý giá.

Có người cho rằng Sài Gòn thời nay không còn như Sài Gòn thời “Hòn Ngọc Viễn Đông” nữa nhưng tôi lại không cho là thế.  Tại sao phải là thời chính thể miền Nam Việt Nam thì nó mới là đẹp? Thực ra với tôi, Sài Gòn thời nào mà chẳng giống nhau, cũng đều phải năng nổ vận động, trật tự xen lẫn bề bộn, thế mới làm nên Sài Gòn.  Có người gọi Sài Gòn là miền đất hứa nhưng xin thưa rằng Sài Gòn là miền đất hứa nhưng cũng là miền đất khổ nhọc, miền đất này đã cõng trên lưng của nó những người lao động từ tứ xứ thế nên có thể thấy rằng miền đất này từ xưa đã vất vả như thế, vất vả như những con người sinh sống trên nó mà theo kinh nghiệm người đời thì vất vả trước thì mới sung sướng được, vậy mới là hợp quy luật của cuộc đời, phải làm lụng cực nhọc thì mới có ngày mai no đủ và dư dả, thế thì kết luận đây vừa là đất hứa mà vừa là đất khổ nhọc là vì vậy, hai cái thái cực này đến bây giờ cũng chẳng khác khi xưa ở Sài Gòn mà dầu là nơi nào cũng như thế.  Sài Gòn vừa phải có hai mặt như vậy thì nó mới là cái đẹp của Sài Gòn, ở những biểu hiện khác thì nó cũng có thể trang hoàng và ngăn nắp nhưng cũng có thể là hỗn độn bừa bãi nhưng với tôi cái sự hỗn độn bừa bãi đấy cũng là cái tuyệt vời của nó, mặt phải và mặt trái của vấn đề được phản ánh mới chính là phản ánh tuyệt hảo và đa chiều toàn diện, cũng giống như vẻ đẹp Sài Gòn không chỉ gồm cái đẹp mà bao gồm cả cái không đẹp, vậy nên nếu chỉ nói về cái đẹp của Sài Gòn như từng nghe nhiều về nó thì đó cũng chỉ tự ru ngủ hão huyền, từ chối bức tranh thật sự của thành phố.  Chẳng lẽ ở nơi mà đến nay đã gần tám triệu con người như thế mà chỉ nói về cái thật thà thằng thắn, hào sảng phóng khoáng mà không lấy một ai lừa lọc lươn lẹo, hà tiện hẹp hòi hay sao?  Mà trong cái guồng máy kinh tế khổng lồ và cạnh tranh như vậy đôi khi người ta cũng trải đủ đắng cay lẫn ngọi bùi mới là làm nên cái sự đa dạng của tinh thần và vật chất chứ nó không chỉ nghiêng về một cực.

Sài Gòn vẫn đẹp lắm vì là nó tồn tại nhiều hiện tượng trong sự trái ngược và đối lập nhau như vậy, dẫu biết rằng những thành phố khác có những điều tương tự nhưng sự biểu hiện chưa thể bằng Sài Gòn, vì nó có những đặc trưng, ưu việt riêng.  Đối với những người cầm bút như tôi, được sinh ra ở một thành phố như vậy là một điều may mắn vô cùng, được có sẵn cái khung cảnh chứa đựng nhiều sắc thái tinh thần và vật chất tồn tại trong hai cực khác nhau và viết về những điều này thì không thể trong một bài văn mà viết hết được, nó như một chủ đề vô hạn mà tôi thật sự như được dọn sẵn một mâm cỗ của Thạch Sanh và ăn không bao giờ hết.  Chẳng có điều gì hạnh phúc hơn việc được cảm nhận rồi viết về thành phố quê hương của mình và viết không bao giờ hết như vậy.  Vậy thì Sài Gòn đối với tôi vẫn còn đẹp lắm chứ, đẹp ngay cả cái không đẹp của nó, nó cũng hoàn hảo lắm chứ, nó hoàn hảo vì nó không hoàn hảo, nó cũng thật trác tuyệt vì nó tồn tại sự không trác tuyệt.

 

 LỮ HÀNH GIA

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1885)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1377)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1961)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1644)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1993)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1863)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1733)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1558)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2348)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2485)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9478)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16347)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15291)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15666)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1884)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1960)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1992)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2347)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4400)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6212)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5537)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6133)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1863)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2064)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1929)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1732)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1558)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1739)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1724)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12503)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28704)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35251)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35116)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10038)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12091)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1376)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1960)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2347)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2482)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2879)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7142)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6561)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8601)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.