- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,551

DI CHỨNG (PHẦN 4)

11 Tháng Mười 20154:46 CH(Xem: 17688)

 

Rose Portrait
tranh Nguyên Khai



Oan hồn ma nữ kia quả thật đã đưa Phương về nhà Vũ. Đang ngồi trầm tư bên ấm trà nóng, ông Hội bỗng giật nảy mình khi nghe ngoài sân có tiếng rên rỉ. Ai nửa đêm khuya khoắt lại vào nhà ông than khóc? Vội vã ông chay lại mở cửa. Ánh điện trên thềm hắt xuống sân, ông trông thấy một người phụ nữ nằm sõng xoài trong vũng nước. Phương. Đúng là Phương.

Ông lao xuống định ôm nàng dậy thì một luồng gió tát thẳng vào mặt ông. Mưa. Mưa máu tanh lợm mửa. Ông giơ tay chắn ngang mặt.

- Bố, cứu con với bố ơi.

Tiếng Phương mỏng tanh như người sắp chết. Ông Hội quáng quàng, hai tay ông run lẩy bẩy. Vừa chạm vào người Phương ông đã thấy một làn âm khí xuyên thấu vào nội tạng.

- Con… Phương, làm sao, làm sao ra nông nỗi này. Thằng, thằng Vũ nó đâu?

Ông lắp bắp nói không ra hơi.

- Cứu cứu, chết mất, chết mất…

Giọng Phương càng thảm thiết hơn. Ánh mắt nàng chất đầy niềm kinh hãi, cánh tay nàng rũ rời giơ lên chỉ về phía sau. Ông Hội ném nhanh cái nhìn ra cổng. Vắng tanh. Làm có gì lạ đâu.

Ông nâng Phương dậy.

- Á, trời ơi !

Tiếng ông lạc đi. Một con mèo đen, cụt hai chân nằm lù lù ngay dưới hạ bộ Phương. Máu từ trong nàng đang trào ra. Một thư máu đen ngòm, tanh tưởi chưa từng thấy. Những hạt mưa đổ xuống càng lúc càng dữ dằn. Mưa như muốn nhấn chìm sự sống nơi trần gian, mưa như muốn vạch trần bí mật của tội ác và âm mưu thôn tính hàng thế kỷ của cái dân tộc tự xưng là Thiên Triều.

Di huấn tổ tiên, di chứng dòng tộc tất cả ùa về nện từng nhát búa vào tâm não ông Hội. Hơi thở ứ nghẹn, máu chèn ngang ngực ông, ông hự lên một tiếng từng bựng huyết đỏ ngầu trào lên miệng. Một bóng người đột ngột xuất hiện trước mắt ông, giọng nói như lời nguyền rủa vọng về từ cõi xa xưa:

- Ta đã chờ, hơn năm trăm năm để có ngày hôm nay. Dòng dõi loài ác thú chúng mày đã đến lúc phải đền tội.

Ông Hội quỳ hai chân xuống vũng nước mưa hòa lẫn máu, hai tay chắp ngang ngực van vỉ:

- Lạy bà, xin bà tha cho người phụ nữ này, chuyện đã qua hàng bao thế kỷ rồi, tội lỗi của dòng họ chúng tôi đã trở thành tro bụi quá khứ, tổ tiên tôi chỉ làm theo lệnh hoàng đế thưa bà, bao thế hệ nối tiếp nhau dòng họ tôi luôn di huấn cho con cháu phải tìm cách chuộc tội với bà, chúng tôi hối hận lắm rồi thưa bà.

- Hừ, cái gì là quá khứ, cái gì là tro bụi, cái gì là hối cải? Người đó rít lên. Câm miệng, lũ người Trung Hoa các người cũng biết nói về nhân tính hay sao. Các ngươi giết ta một cách dã man, chôn vùi xác ta trong chiếc quan tài tẩm thứ độc kinh hoàng mong kiềm hãm linh hồn ta, các người yểm bùa để làm kiệt quệ nguyên khí dân tộc chúng ta, các ngươi muốn đời đời nước Việt này phải lụy thuộc vào dân tộc ác thú các người. Năm trăm năm qua dòng họ các người bị ta nguyền rủa lẽ ra phải tuyệt tự tuyệt tôn lâu rồi thế mà trời cao không có mắt mỗi đời dòng giống các người vẫn nảy nòi ra một kẻ đủ khả năng duy trì nòi giống. Đến đời ngươi ý nguyện của ta sắp được thực hiện thì ngươi, bà ta chỉ thẳng mặt ông Hội, chính ngươi lại dựa vào sự ngây thơ băng khiết của người đàn bà này để kéo dài âm mưu của các người. Ta không thể để các người tồn tại mãi.

Oan hồn ma nữ ngửa mặt lên trời cười, tiếng cười như muốn nghiền vụn những hờn oán tích tụ suốt năm thế kỷ đằng đẵng:

- Dù gì ngươi cũng sắp chết, ta nói điều này cho ngươi biết. Buổi chiều hôm ấy nơi ruộng ngô, cũng chính là mảnh đất hiện tại gia đình ngươi đang sống, tổ tiên các người đã hành hình ta để làm lễ hiến tế. Bọn chúng nghĩ vĩnh viễn oan hồn ta không thể thoát ra khỏi chiếc quan tài quỷ quái ấy, tuy nhiên bọn chúng không thể ngờ, lúc bấy giờ ta đã không còn là một thiếu nữ băng thanh ngọc khiết. Trong cơ thể ta lúc đó đã mang giọt máu của người đàn ông ta yêu thương. Chính đứa trẻ ấy đã phá vỡ sự trấn yểm của quan tài, giúp ta ra ngoài. Suốt năm trăm năm qua ta luôn bám theo dòng tộc các người, lẽ ra ta đã trả thù, nhưng khốn nạn thay cái sức mạnh bùa yểm của dân tộc Trung Hoa các người phải sau năm trăm năm mới hết hiệu nghiệm. Ta đã kiên trì chờ đợi, ha ha, cuối cùng ngày này cũng đến.

Oan hồn ma nữ nói xong chợt im lặng, rồi bỗng rưng rưng nói:

- Con trai ta đã không có cơ hội nhìn thấy mặt trời và cuộc sống nơi trần thế. Tổ tiên của ngươi là một lũ ác nhân.

Bà ta sấn tới gần ông Hội, hai bàn tay đầy máu bóp nghẹt yết hầu ông…

(Suốt từ nãy tới giờ con chó mực nhà ông Hội không hề có phản ứng gì, cứ như nó bị sức mạnh siêu nhiên nào đó kiềm hãm)

-Bố, bố ơi!

Tiếng Vũ vang lên thê thiết trong màn mưa gió phũ phàng. Chàng vừa về tới cổng đã chứng kiến sự việc kinh hoàng trong sân nhà mình.

Đoàng. Một tiếng sét đinh tai. Mưa tầm tã trút. Vũ trèo qua cổng xông vào.

Chàng lao tới chắn trước ông Hội:

- Tôi xin bà, hãy tha cho bố tôi.

Ông Hội thở dốc nói:

- Đừng con, hãy để ta chết dưới tay bà ấy. Đã đến lúc chân lý được thực thi rồi.

- Không, bố, bố không thể chết.

Vũ ôm chầm lấy ông Hội, bật khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào như đứt từng khúc ruột.

Cơn đau đớn đã khiên Phương ngất đi. Bây giờ nghe tiếng la thảm của Vũ nàng mơ hồ hồi tỉnh.

- Anh Vũ.

- Phương, trời ơi. Em. Phương ơi.

Bây giờ Vũ mới để ý tới Phương nhưng lại không dám buông bỏ cha mình, chỉ biết nhìn Phương đau đớn thốt.

- Hay lắm, hay lắm. Tất cả đều được chết chung tại nơi này. Oan hồn ma nữ cười khằng khặc.

Lúc này bà Nghĩa đã tỉnh ngủ, hớt hơ hớt hải chạy ra.

- Tổ tiên ơi, chuyện gì thế này.

Bà Nghĩa kinh hoàng la lên. Trong trí não của bà mọi chuyện bao nhiêu năm trước vùn vụt hiện về.

“Thôi đúng rồi, gia đình này bị ma ám. Lời của ông ăn mày năm xưa quả không sai.’’

Nhớ tới lời đồn thổi của người Việt Nam từ xa xưa, loài yêu ma rất sợ nước tiểu. Bà Nghĩa vội vàng chạy vào lấy thau đái luôn vào đó, rồi bưng ra liều mạng lao tới hắt lên bóng ma.

Oan hồn ma nữ cười điên dại :

- Ha ha, mụ đàn bà ngu xuẩn. Ngươi tưởng nước tiểu sẽ làm ta tiêu tán linh hồn chăng? Ngươi thật đúng là di chứng của hủ tục u tối của dân tộc này. Đáng thương thay cho một dân tộc mấy ngàn năm quật cường, mà không thoát khỏi tầm nhận thức hạn hẹp. Nếu nước tiểu có thể khiến ma quỷ sợ hãi thì hàng ngàn năm qua tại sao những người dân trên đất nước này không dùng nó mà xua đuổi lũ ma quỷ Trung Hoa ra khỏi tiềm thức phụ thuộc đi?

Bà Nghĩa sợ đến mức chân đập tay run, toàn thân như lên cơn động kinh. Bà vội quỳ xuống, miệng lầm rầm khấn kinh phật.

Từng đợt gió quật, tát, vả xuống màn đêm ngun ngút. Mưa vẫn ào ào như phụ họa cho cảnh tưởng ma quái.

Bỗng một âm thanh khàn khàn vang lên:

- Oan hồn kia, ngừng tay lại.

Tiếp theo một bóng người vọt tường xông vào.

Chính là gã đàn ông kỳ lạ gặp Phương trên chuyến tàu dạo nọ. Vừa vào tới nơi gã nhanh như cắt sấn tới chỗ con chó mực đang nằm đâm thốc thanh gươm đã chuẩn bị sẵn vào người con vật. Nó tru lên ghê rợn. Một vòi máu tươi phún ra, tanh ngòm. Gã lấy chiếc thau lúc nãy bà Nghĩa đựng nước tiểu hứng máu chó. Rất nhanh gã hắt thau máu về phía bóng ma.

- Á. Bóng ma thét lên. Ngươi, ngươi là quân khốn kiếp. Dòng họ ngươi là người nước Nam này, vậy mà ngươi cam tâm phụng sự cho lũ ngoại bang.

Gã đàn ông kỳ lạ bình tĩnh nói :

- Thưa bà, tôi không phải là kẻ phản bội dân tộc. Mọi oan ức của bà không nên giải quyêt bằng máu và mạng người. Tổ tiên những người này có tội chứ không phải họ.

Liền đó gã vung gươm lên. Miệng khấn, tay khua. Chĩa mũi gươm về phía bóng ma.

Bóng ma ngay lập tức sợ hãi lao vút đi.

Gã đàn ông cùng Vũ và bà Nghĩa dìu đỡ ông Hội với Phương vào nhà, đặt hai người lên giường.

- Cảm tạ ông. Bà nghĩa chắp hai tay vào nhau. Tôi nhìn ông sao cứ quen quen. Bà nói tiếp.

- Tôi là cháu của ông ăn mày năm xưa thưa bà.

- Hả, chả trách gì.

Gã đàn ông kể về lai lịch của mình và nguyên nhân tại sao mình có mặt ở đây. Nghe xong Vũ và bà Nghĩa kinh nghi thất sắc. Tất cả những chuyện của dòng họ nhà Vũ tới tận bây giờ chàng và mẹ chàng mới mơ hồ hiểu được phần nào.

- Đau đau quá, cứu tôi với.

Cả ba cùng quay lại. Phương đau đớn vật vã rên la. Bà Nghĩa vội chạy lại, Vũ và gã đàn ông lại theo. Hai tay Phương đang ôm bụng, thân thể nàng oằn oại.

- Chắc là lên cơn đau đẻ. Bà Nghĩa nói, Vũ con vào bếp đun ngay ấm nước nóng cho mẹ.

- Dạ. Vũ ứng tiếng và đi làm theo lời bà.

Hai mắt Phương trợn trừng, miệng sùi bọt.

- Đừng, đừng giết tôi.

Phương rên la.

- Đừng sợ, ta đây, bình tĩnh lại đi con.

Bà Nghĩa đặt tay lên người Phương, trấn an nàng. Phương vẫn quằn quại rên rỉ không ngớt. Vũ đưa nước sôi ra. Bà Nghĩa sắn tay, chuẩn bị làm bà đỡ.

Ngoài trời mưa đã ngớt, gió đã lặng, nhưng sự việc ma quái lúc nãy vẫn còn quanh quất. Không khí khủng bố vẫn bao trùm căn nhà ông Hội.

Gã đàn ông và Vũ để một mình bà Nghĩa xoay sở, hai người lại bàn ngồi, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.

-Ối cha mẹ ơi.

Tiếng bà Nghĩa vang lên như bị một đòn đánh vào ngực. Hai người đàn ông lao ngay lại. Vũ hỏi dồn:

- Gì vậy mẹ, gì vậy mẹ.

- Kia, kia…

Bà Nghĩa lắp bắp chỉ lên giường.

Vũ và gã đàn ông cũng tái xám mặt khi nhìn thấy vật trên giường. Phương đã đẻ. Không phải một đứa con trai. Cũng không phải là đứa con gái. Mà là hai cái chân mèo đen thui. Phương cố mở mắt nhìn.

-Không, không thể như thế. Phương thét lên rồi ngất lịm đi.

Ba ngày sau Phương và ông Hội dần phục hồi sức khỏe. Suốt từ sáng tới tối Phương ngồi thẫn thờ như tượng gỗ trên giường, nước mắt lưng tròng. Nàng vô cùng đau khổ. Dù đó là sự loạn luân, nhưng tại sao đứa con nàng mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày lại là hai cái chân mèo đen? Chính người đàn bà đó, cái oan hồn thiếu nữ, đã móc giọt máu của ông Hội ra khỏi người nàng và nhét hai cái gớm ghiếc ấy vào cơ thể nàng. Đêm đó, cái đêm rùng rợn ấy…

Gã đàn ông kia vẫn chưa rời nhà ông Hội, gã đang chờ để giải quyết mọi vấn đề.

- Cô hãy bình tâm lại, đừng đau lòng nữa. Gã cầm tay Phương an ủi. Lẽ ra tôi nên nói trước với cô về cái bào thai đêm ấy trên tàu. Cô tha lỗi cho tôi.

Phương gượng cười:

- Tôi không trách gì ông cả. Tất cả là tại tôi. Tôi là một ả đàn bà lăng loàn. Tôi đáng bị như vậy.

Ánh mắt nàng ngập tràn thống khổ.

Ông Hội chỏi tay ngồi dây, uể oải gọi :

- Bà Nghĩa ơi.

Bà Nghĩa từ dưới bếp chạy lên.

- Gì vậy ông ?

- Bà gọi thằng Vũ và Phương lại đây. Tôi có chuyện muốn nói.

Rồi mọi người ngồi xung quanh ông Hội.

Ông bắt đầu nói :

- Đây là bí mật được giữ kín suốt hơn năm thế kỷ của dòng họ tôi, ông quay qua nhìn gã đàn ông kỳ lạ, mọi chuyện anh đã biết hết rồi thì phải?

Gã đàn ông gật đầu.

- Có lẽ cả bà, thằng Vũ và Phương cũng đã biết một số chuyện rồi. Ông Hội nói tiếp. Tuy nhiên tôi vẫn muốn nói lại tất cả mọi sự việc một cách rõ ràng trước khi chết. Ông nhìn ra sân. Tâm tư trôi về thuở xa xưa. Gia tộc tôi vốn khởi nguồn ở vùng Triết Giang bên Trung Quốc đời Hậu Hán, đến đời thứ hai thì được lệnh dụ của hoàng đế mật phái sang Việt Nam với sứ mệnh chọn một vùng đất phù hợp phong thủy định cư và đồng thời thực hiện việc trấn yểm để kềm hãm sự hưng vượng đất nước này. Nếu việc trấn yểm thành công thì hàng ngàn thế hệ sau dân tộc Việt Nam phải phụ thuộc vào đất nước Trung Hoa về mọi mặt. Sau ba năm nghiên cứu tìm hiểu tổ tiên tôi đã chọn được một vùng đất thích hợp cho mọi việc. Mảnh đất ấy nằm bên một dòng sông, quanh năm nước mang một sắc vàng, có núi non trùng điệp. Tránh sự nghi ngờ của mọi người và cũng để có thời gian chuẩn bị họ đã làm nương trồng dâu như những người dân bản địa. Cuối năm đó, bọn họ sau nhiều ngày rà soát đã tìm cách bắt cóc một cô gái trong vùng. Vào một buổi chiều họ đã cùng nhau thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng được hoàng đế giao phó.

Ông Hội vừa thở vừa kể lại toàn bộ nghi lễ yểm bùa ấy. Nghe chuyện đó hai bàn tay Phương toát mồ hôi. Tất cả đúng y như giấc mơ của nàng chiều hôm nọ trên tàu.

Giọng ông trùng dần:

- Từ đó về sau không biết do quả báo hay một lý do siêu nhiên nào đó mà dòng họ tôi phát sinh căn bệnh mỗi đời chỉ sinh được hai người con trai, và một trong hai kiểu gì cùng có một kẻ không có khả năng duy trì nòi giống.

Câu chuyên ông Hội kể đã dứt từ lâu mà mọi người vẫn như đang đắm chìm trong muôn vàn cảm xúc lạ kỳ, sợ hãi đan xen. Cuối cùng những bí ẩn suốt mấy mươi năm lẩn quất trong tâm trí bà Nghĩa đã có lời giải.

- Như vậy, cái đêm ông từ chiến trường trở về cuộc nói chuyện mà tôi nghe trong nhà tắm là của ông và người đàn bà chết oan kia?  Bà Nghĩa nhìn ông Hội hỏi.

Ông chớp chớp mắt khẳng định :

- Đúng như vây, đêm đó bà ta đã hiện lên và định giết tôi nhưng không hiểu sao sau đó bà ta lại bỏ cuộc.

Thều thào ông tiếp:

- Bí mật này được chúng tôi lưu truyền kín đáo trong dòng họ qua từng thế hệ. Đến đời tôi thực sự tôi không hề muốn duy trì cái sứ mệnh vô nhân này. Chỉ vì tôi chỉ sinh được mỗi một thằng con trai nên tôi đã phải làm bao nhiêu chuyện trái lẽ trời. Dù không phải để duy trì sự bùa yểm kia thì dòng họ này cũng không đáng bị tuyệt tự mà. Ông trào nước mắt khi nói đến đây.

Gã đàn ông kỳ lạ cúi đầu ngẫm nghĩ một lát rồi ngẩng lên nói :

- Thưa ông, mọi chuyện đã thuộc về xa xưa rồi. Dân tộc Việt Nam không sống mãi trên xác hận thù, cái gì đã qua người dân đất nước này sẵn sàng xóa bỏ để sống trong an lạc và thanh thản. Tuy nhiên bây giờ gia đình ông bà muốn yên ổn thì tôi cần phải trục xuất oan hồn ma nữ kia ra khỏi vùng đất này. Linh hồn bà ta phải được giải thoát khỏi những oán hận tích tụ suốt mấy thế kỷ qua. Ông hãy chỉ cho tôi chỗ chôn chiếc quan tài kia tôi nghĩ nó ở đâu ngay trong căn nhà này thôi.

Vũ, Phương và bà Nghĩa nghe vậy đều giật bắn. Phần ông Hội run run nói :

- Đúng thế, chiếc quan tài ấy hiện vẫn ở trong vùng đất này. Ông chống tay ngồi dậy. Năm xưa khi phá dỡ dãy nhà gỗ xây lên căn nhà bằng này, tốp thợ xây đã đào phải chiếc quan tài. Tôi đã không cho họ lấy nó lên và tôi cũng bảo họ tính làm sao để nó nằm ở một chỗ thuận tiện, khi nào có điều kiện tôi sẽ di chuyển nó đi nơi khác an táng.

Ông bão Vũ:

- Vũ, con dìu ta đi để ta sẽ chỉ chỗ quan tài cho anh ta.

Vũ ôm ngang người bố đỡ ông dậy. Mọi người theo chân ông Hội. Thời gian trôi qua từng khắc. Mọi người như ngừng thở.

- Chính chỗ này đây. Ông Hội chỉ xuống bậc tam cấp trước nhà. Năm đó tôi để chiếc quan tài ấy nằm ở đây vì theo quan niệm người Trung Hoa thì ma quỷ sẽ không thể vào nhà nếu không được sự cho phép của thần canh cửa. Có lẽ điều đó đã linh nghiệm vì vậy mà suốt những năm qua hồn ma ấy không xâm nhập được vào nhà.

- Tốt rồi. Bây giờ mọi người hãy sinh hoạt bình thường, đêm nay đúng mười hai giờ là giờ mà ma quỷ rời địa ngục lên dương thế tôi sẽ thực hiện sự giải thoát cho oan hồn bà ta.

Đêm xuống. Mùa đông trời tối đen như mực. Tuy không mưa nhưng cái lạnh lẽo ẩm mốc của những ngày mưa vừa qua vẫn còn ngập ngụa trong không khí.

Gã đàn ông kỳ bí lập một bàn thờ ngay trước cửa nhà ông Hội. Gã nói mọi người hãy ở trong nhà, nếu không muốn bị nhiễm âm khí.

Mười hai giờ. Điện đường đã tắt hết. Thị trấn chìm vào tấm áo choàng thinh lặng. Ông Hội nằm trên giường hơi thở đều đều, chừng như ông đã ngủ. Phương, Vũ và bà Hội ngồi bên chiếc bàn hồi hộp chờ đợi.

“Âm dương hòa hợp. Cõi thế trầm luân. Miền địa ngục tối tăm nhiều oan trái. Bao thế kỷ bạo tàn xương chất thành núi, máu trào như biển. Kẻ bạo quyền tay nực mùi tanh, người bị chà đạp nhục thảm ê chề.

Nào phương đông, ấy phương tây. Đã làm người ai cũng máu nóng, tim hồng. Cớ chi gây bao cuộc tang thương. Oán hận ngập tràn. Mộng bá đồ vương liệu có tồn tại ngàn vạn năm. Cớ chi không rũ bỏ hư danh làm kẻ bình phàm sồng chết trong tiếng cười bình thản.

Máu trả máu oan oan tương báo bao giờ nguôi. Hồn ơi hồn, mau mau tỉnh ngộ. Thoát ly cõi u mê tăm tối. Tìm về miền cực lạc trường sinh. Hóa giải mọi oan cừu…”

Gã đàn ông kỳ bí vung gươm múa tít mù. Tay trái cầm hai lá bùa châm lửa vung vẩy. Miệng lâm râm khấn khứa một tràng. Bất ngờ gã kề gươm vào cổ tay cứa mạnh, một tia máu phụt ra. Chảy đầm đìa xuống bậc tam cấp. Trời đang tĩnh lặng bỗng nổi gió. Hòa trong tiếng gió là một chuỗi âm thanh ma quái. Rồi đó từ đâu một đàn rắn quái dị trườn vào mảnh sân nhà ông Hội, chúng phát ra tiếng khè khè, mắt con nào con nấy mở trừng. Từ dưới đất một làn khói đỏ quạch bốc lên. Ẩn hiện trong làn khói ấy là một hai chiếc bóng, một người thiếu nữ và một con mèo, cả hai đều cụt chân.

Gã đàn ông kỳ dị khấn to hơn:

- Ánh sáng dẫn lối về miền cực lạc. Tạo hóa sinh ra hình hài mỗi loài mỗi vẻ. Mắt của loài nào loài ấy sử dụng. Nào mắt mèo xin trả cho mèo. Mắt người xin trở lại trên thân người.

Lời gã vừa dứt, hai đôi mắt lần lượt trở về chính chủ. Gã tiếp:

- Oán hờn rũ bỏ đi thôi. Thoát ly cõi cặn tìm vui miên trường.

Gã đâm thanh gươm xuyên qua màn khói máu. Khuấy khoắng một hồi. Khói đột nhiên tan. Gió ngừng. Hai oan hồn bị trói buộc hơn năm trăm năm phút chốc tan biến vào cõi hư vô.

Gã mệt mỏi gục xuống. Mồ hôi tuôn ra như suối, chảy dọc sống lưng. Gã chống kiếm đứng dậy lê vào nhà.

Bỗng một thanh âm xé nát màn đêm.

- Á! Trời ơi, ông Hội ơi.

Đó tiếng bà Nghĩa. Cơn mệt mỏi tan biến, gã lao nhanh vào. Trên giường ông Hôi nằm bất động. Máu trào ra hai lỗ mũi và miệng. Hai con ngươi trồi hẳn ra ngoài. Kinh dị nhất là quần ông ta đã bị xé nát để lộ ra bộ hạ nhơm nhớp máu. Dương vật không còn trên cơ thể ông Hội….

Năm ngày sau ông Hội được mang đi chôn. Và cỗ quan tài ký bí chôn dấu dưới mảnh đất nhà ông hơn năm trăm năm cũng được gã đàn ông kia thuê đào lên mang ra hỏa táng ngoài nghĩa trang thị trấn.

Nửa tháng sau một đêm Vũ và Phương đang ngủ thì nghe tiếng bà Nghĩa hò hét từ phòng bên vọng sang. Hai vợ chồng hốt hoảng chạy qua. Đầu bà Nghĩa nằm dưới đất, hai chân chổng lên trời, và cả hai chân đều bị tiện đứt tận khụy gối…

Những ngày sau đó Phương và Vũ luôn sống trong tâm trạng lo sợ. Như vậy là mối họa quả báo kia đã không được hóa giải. Sự trả thù của oan hồn ma nữ vẫn diễn ra dữ dội kinh hoàng.

Mấy lần Phương tìm cách liên lạc với gã đàn ông kia nhưng đều nhận về sự tuyệt vọng. Số điện thoại mà gã cho nàng không đúng. Gã đã đi đâu? Có lẽ nào gã đến đây chỉ để giải thoát cho oan hồn thiếu nữ ấy, cũng chính là hóa giải sự trấn yểm cho dân tộc Việt Nam. Còn sự quả báo đối với gia đình Vũ gã không quan tâm đến?

Trước sau gì cũng đến lượt Vũ phải trả giá cho tội lỗi của dòng họ chàng và cũng là của đất nước Trung Hoa, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Vũ không muốn Phương bị kéo vào. Bởi vậy đêm nay chàng nhất quyết đuổi nàng đi. Nhưng Phương không muốn bỏ rơi Vũ lúc này, với nàng giờ đây chỉ có tình yêu thương và sự đồng cảm, còn những nỗi oán hận thật sự đã chết trong nàng.

Phương đưa đôi mắt buồn thảm cố nhìn xuyên vào bóng đêm. Bàn tay vẫn để trên vai Vũ. Vũ cầm lấy tay Phương, thổn thức:

- Phương, anh cảm ơn em nhiều lắm. Trải qua bao đớn đau nhục hờn mà em không hề oán giận anh. Bố mẹ anh đều đã chết rồi. Trước sau gì cũng tới lượt anh thôi. Nghe lời anh em đi đi. Đừng ở lại nơi ma quái này nữa. Gia đình anh đáng bị quả báo như vậy.

- Không, có chết em cũng không đi. Phương khóc, nàng khóc bằng tất cả sự bi ai tự tâm hồn.

Bất ngờ Vũ vùng ra khỏi Phương. Trên tay chàng một ngọn trủy thủ đã được chàng thủ sẵn tự bao giờ.

- Kìa Vũ, anh định làm gì vậy. Đừng khiến em sợ. Phương bấn loạn hét lên.

Vũ bình tĩnh nói:

- Em đứng yên tại đó, đừng tiến lại gần anh.

Phương chững lại. Vũ khóc, run run nói tiếp:

- Đây là thanh trủy thủ hơn năm trăm năm trước tổ tiên anh đã dùng để hành hình người thiếu nữ ấy. Nó được truyền qua các thế hệ với di huấn sẽ có ngày oan hồn đó thoát ra ngoài. Thanh trủy thủ này có thể giết chết hồn ma cô ta thêm lần nữa. Trước khi chết bố anh đã trao nó cho anh. Ông muốn anh dùng nó để bảo về chính mình thoát khỏi sự trả thù của oan hồn ấy. Nhưng anh, Phương ơi, anh chỉ muốn dùng thanh trủy thủ này để kết liễu sự sống của anh mà thôi.Anh chết đi em sẽ được an toàn vĩnh viễn. Hứa với anh em phải sống thật tốt, em nhé.

Dứt lời Vũ quay mũi đao đâm thẳng vào bối tâm mình. Một dòng máu tuôn ra xối xả. Phương lao tới ôm chầm lấy chồng. Tiếng khóc nghẹn ngào lan trong đêm trường nhầy nhụa mùi chết…

- Vũ ơi, Vũ ơi. Anh ơi, đừng, anh đừng chết…

 

- Thưa bà, sau đó bà ở lại Việt Nam bao lâu rồi mới sang đây.

- Cuối năm đó, khi mùa đông sắp cạn tôi từ giã bố mẹ tôi và quyết định sang Mỹ sống anh bạn ạ.

- Từ đó đến nay bà có về Việt Nam không?

- Không tôi không muốn về đó. Những nỗi đau xưa thật sự chưa hề liền trong trái tim tôi.

- Bà đã từng kể với ai câu chuyện chưa?

- Đây là lần đầu tiên anh bạn ạ. Tôi thấy anh là một người có tinh thần yêu nước rất cao. Tôi quý trọng điều đó.

- Cảm ơn bà đã ưu ái tôi.

- Không có gì. Mà tôi nghĩ có lẽ sẽ chẳng ai tin câu chuyện của tôi kể là sự thật đâu anh bạn ạ.

- Tôi tin, thưa bà. Bởi vì hàng mấy thế kỷ nay người Việt Nam luôn bị phụ thuộc vào người Trung Quốc, tôi tin nguyên nhân bắt nguồn từ sự yếm bùa ấy.

- Cậu có suy nghĩ khác người lắm. Điều đó đúng hay không tôi không luận bàn. Chỉ có điều cậu bạn này.

- Sao vậy bà?

- Tôi nghĩ, không hẳn chỉ có dòng họ nhà ông Hội được cử sang làm công việc trấn yếm đất nước Việt Nam đâu mà có thể còn nhiều dòng họ khác nữa.

- Thật sao bà? Nếu đó là sự thật thì phải làm sao đây?

- Sự tồn vong của một dân tộc phụ thuộc vào nhiều thứ anh bạn trẻ ạ. Cho dù có vạn ngàn sự trấn yểm cũng chẳng hề gì nếu tất cả người Việt Nam biết đoàn kết một lòng hy sinh quyền lợi và hạnh phúc cá nhân cho dân tộc.

- Điều đó rất khó thưa bà!

- Thôi kệ đi cậu, một bàn tay không vỗ thành tiếng. Một giọt nước không tạo thành đại dương. Việc thiên hạ cứ để thiên hạ lo đi vậy. Tôi mệt rồi. Hôm nay tôi đã nói hơi nhiều. Công viên tới giờ đóng cửa rồi. Chúng ta về thôi.

-Vâng, tôi sẽ tiễn bà một quãng đường…


HẾT

 

Trương Đình Phượng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1576)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6323)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6183)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13565)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30687)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81706)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20523)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 389)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.