- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

DI CHỨNG (PHẦN 4)

11 Tháng Mười 20154:46 CH(Xem: 54633)

 

Rose Portrait
tranh Nguyên Khai



Oan hồn ma nữ kia quả thật đã đưa Phương về nhà Vũ. Đang ngồi trầm tư bên ấm trà nóng, ông Hội bỗng giật nảy mình khi nghe ngoài sân có tiếng rên rỉ. Ai nửa đêm khuya khoắt lại vào nhà ông than khóc? Vội vã ông chay lại mở cửa. Ánh điện trên thềm hắt xuống sân, ông trông thấy một người phụ nữ nằm sõng xoài trong vũng nước. Phương. Đúng là Phương.

Ông lao xuống định ôm nàng dậy thì một luồng gió tát thẳng vào mặt ông. Mưa. Mưa máu tanh lợm mửa. Ông giơ tay chắn ngang mặt.

- Bố, cứu con với bố ơi.

Tiếng Phương mỏng tanh như người sắp chết. Ông Hội quáng quàng, hai tay ông run lẩy bẩy. Vừa chạm vào người Phương ông đã thấy một làn âm khí xuyên thấu vào nội tạng.

- Con… Phương, làm sao, làm sao ra nông nỗi này. Thằng, thằng Vũ nó đâu?

Ông lắp bắp nói không ra hơi.

- Cứu cứu, chết mất, chết mất…

Giọng Phương càng thảm thiết hơn. Ánh mắt nàng chất đầy niềm kinh hãi, cánh tay nàng rũ rời giơ lên chỉ về phía sau. Ông Hội ném nhanh cái nhìn ra cổng. Vắng tanh. Làm có gì lạ đâu.

Ông nâng Phương dậy.

- Á, trời ơi !

Tiếng ông lạc đi. Một con mèo đen, cụt hai chân nằm lù lù ngay dưới hạ bộ Phương. Máu từ trong nàng đang trào ra. Một thư máu đen ngòm, tanh tưởi chưa từng thấy. Những hạt mưa đổ xuống càng lúc càng dữ dằn. Mưa như muốn nhấn chìm sự sống nơi trần gian, mưa như muốn vạch trần bí mật của tội ác và âm mưu thôn tính hàng thế kỷ của cái dân tộc tự xưng là Thiên Triều.

Di huấn tổ tiên, di chứng dòng tộc tất cả ùa về nện từng nhát búa vào tâm não ông Hội. Hơi thở ứ nghẹn, máu chèn ngang ngực ông, ông hự lên một tiếng từng bựng huyết đỏ ngầu trào lên miệng. Một bóng người đột ngột xuất hiện trước mắt ông, giọng nói như lời nguyền rủa vọng về từ cõi xa xưa:

- Ta đã chờ, hơn năm trăm năm để có ngày hôm nay. Dòng dõi loài ác thú chúng mày đã đến lúc phải đền tội.

Ông Hội quỳ hai chân xuống vũng nước mưa hòa lẫn máu, hai tay chắp ngang ngực van vỉ:

- Lạy bà, xin bà tha cho người phụ nữ này, chuyện đã qua hàng bao thế kỷ rồi, tội lỗi của dòng họ chúng tôi đã trở thành tro bụi quá khứ, tổ tiên tôi chỉ làm theo lệnh hoàng đế thưa bà, bao thế hệ nối tiếp nhau dòng họ tôi luôn di huấn cho con cháu phải tìm cách chuộc tội với bà, chúng tôi hối hận lắm rồi thưa bà.

- Hừ, cái gì là quá khứ, cái gì là tro bụi, cái gì là hối cải? Người đó rít lên. Câm miệng, lũ người Trung Hoa các người cũng biết nói về nhân tính hay sao. Các ngươi giết ta một cách dã man, chôn vùi xác ta trong chiếc quan tài tẩm thứ độc kinh hoàng mong kiềm hãm linh hồn ta, các người yểm bùa để làm kiệt quệ nguyên khí dân tộc chúng ta, các ngươi muốn đời đời nước Việt này phải lụy thuộc vào dân tộc ác thú các người. Năm trăm năm qua dòng họ các người bị ta nguyền rủa lẽ ra phải tuyệt tự tuyệt tôn lâu rồi thế mà trời cao không có mắt mỗi đời dòng giống các người vẫn nảy nòi ra một kẻ đủ khả năng duy trì nòi giống. Đến đời ngươi ý nguyện của ta sắp được thực hiện thì ngươi, bà ta chỉ thẳng mặt ông Hội, chính ngươi lại dựa vào sự ngây thơ băng khiết của người đàn bà này để kéo dài âm mưu của các người. Ta không thể để các người tồn tại mãi.

Oan hồn ma nữ ngửa mặt lên trời cười, tiếng cười như muốn nghiền vụn những hờn oán tích tụ suốt năm thế kỷ đằng đẵng:

- Dù gì ngươi cũng sắp chết, ta nói điều này cho ngươi biết. Buổi chiều hôm ấy nơi ruộng ngô, cũng chính là mảnh đất hiện tại gia đình ngươi đang sống, tổ tiên các người đã hành hình ta để làm lễ hiến tế. Bọn chúng nghĩ vĩnh viễn oan hồn ta không thể thoát ra khỏi chiếc quan tài quỷ quái ấy, tuy nhiên bọn chúng không thể ngờ, lúc bấy giờ ta đã không còn là một thiếu nữ băng thanh ngọc khiết. Trong cơ thể ta lúc đó đã mang giọt máu của người đàn ông ta yêu thương. Chính đứa trẻ ấy đã phá vỡ sự trấn yểm của quan tài, giúp ta ra ngoài. Suốt năm trăm năm qua ta luôn bám theo dòng tộc các người, lẽ ra ta đã trả thù, nhưng khốn nạn thay cái sức mạnh bùa yểm của dân tộc Trung Hoa các người phải sau năm trăm năm mới hết hiệu nghiệm. Ta đã kiên trì chờ đợi, ha ha, cuối cùng ngày này cũng đến.

Oan hồn ma nữ nói xong chợt im lặng, rồi bỗng rưng rưng nói:

- Con trai ta đã không có cơ hội nhìn thấy mặt trời và cuộc sống nơi trần thế. Tổ tiên của ngươi là một lũ ác nhân.

Bà ta sấn tới gần ông Hội, hai bàn tay đầy máu bóp nghẹt yết hầu ông…

(Suốt từ nãy tới giờ con chó mực nhà ông Hội không hề có phản ứng gì, cứ như nó bị sức mạnh siêu nhiên nào đó kiềm hãm)

-Bố, bố ơi!

Tiếng Vũ vang lên thê thiết trong màn mưa gió phũ phàng. Chàng vừa về tới cổng đã chứng kiến sự việc kinh hoàng trong sân nhà mình.

Đoàng. Một tiếng sét đinh tai. Mưa tầm tã trút. Vũ trèo qua cổng xông vào.

Chàng lao tới chắn trước ông Hội:

- Tôi xin bà, hãy tha cho bố tôi.

Ông Hội thở dốc nói:

- Đừng con, hãy để ta chết dưới tay bà ấy. Đã đến lúc chân lý được thực thi rồi.

- Không, bố, bố không thể chết.

Vũ ôm chầm lấy ông Hội, bật khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào như đứt từng khúc ruột.

Cơn đau đớn đã khiên Phương ngất đi. Bây giờ nghe tiếng la thảm của Vũ nàng mơ hồ hồi tỉnh.

- Anh Vũ.

- Phương, trời ơi. Em. Phương ơi.

Bây giờ Vũ mới để ý tới Phương nhưng lại không dám buông bỏ cha mình, chỉ biết nhìn Phương đau đớn thốt.

- Hay lắm, hay lắm. Tất cả đều được chết chung tại nơi này. Oan hồn ma nữ cười khằng khặc.

Lúc này bà Nghĩa đã tỉnh ngủ, hớt hơ hớt hải chạy ra.

- Tổ tiên ơi, chuyện gì thế này.

Bà Nghĩa kinh hoàng la lên. Trong trí não của bà mọi chuyện bao nhiêu năm trước vùn vụt hiện về.

“Thôi đúng rồi, gia đình này bị ma ám. Lời của ông ăn mày năm xưa quả không sai.’’

Nhớ tới lời đồn thổi của người Việt Nam từ xa xưa, loài yêu ma rất sợ nước tiểu. Bà Nghĩa vội vàng chạy vào lấy thau đái luôn vào đó, rồi bưng ra liều mạng lao tới hắt lên bóng ma.

Oan hồn ma nữ cười điên dại :

- Ha ha, mụ đàn bà ngu xuẩn. Ngươi tưởng nước tiểu sẽ làm ta tiêu tán linh hồn chăng? Ngươi thật đúng là di chứng của hủ tục u tối của dân tộc này. Đáng thương thay cho một dân tộc mấy ngàn năm quật cường, mà không thoát khỏi tầm nhận thức hạn hẹp. Nếu nước tiểu có thể khiến ma quỷ sợ hãi thì hàng ngàn năm qua tại sao những người dân trên đất nước này không dùng nó mà xua đuổi lũ ma quỷ Trung Hoa ra khỏi tiềm thức phụ thuộc đi?

Bà Nghĩa sợ đến mức chân đập tay run, toàn thân như lên cơn động kinh. Bà vội quỳ xuống, miệng lầm rầm khấn kinh phật.

Từng đợt gió quật, tát, vả xuống màn đêm ngun ngút. Mưa vẫn ào ào như phụ họa cho cảnh tưởng ma quái.

Bỗng một âm thanh khàn khàn vang lên:

- Oan hồn kia, ngừng tay lại.

Tiếp theo một bóng người vọt tường xông vào.

Chính là gã đàn ông kỳ lạ gặp Phương trên chuyến tàu dạo nọ. Vừa vào tới nơi gã nhanh như cắt sấn tới chỗ con chó mực đang nằm đâm thốc thanh gươm đã chuẩn bị sẵn vào người con vật. Nó tru lên ghê rợn. Một vòi máu tươi phún ra, tanh ngòm. Gã lấy chiếc thau lúc nãy bà Nghĩa đựng nước tiểu hứng máu chó. Rất nhanh gã hắt thau máu về phía bóng ma.

- Á. Bóng ma thét lên. Ngươi, ngươi là quân khốn kiếp. Dòng họ ngươi là người nước Nam này, vậy mà ngươi cam tâm phụng sự cho lũ ngoại bang.

Gã đàn ông kỳ lạ bình tĩnh nói :

- Thưa bà, tôi không phải là kẻ phản bội dân tộc. Mọi oan ức của bà không nên giải quyêt bằng máu và mạng người. Tổ tiên những người này có tội chứ không phải họ.

Liền đó gã vung gươm lên. Miệng khấn, tay khua. Chĩa mũi gươm về phía bóng ma.

Bóng ma ngay lập tức sợ hãi lao vút đi.

Gã đàn ông cùng Vũ và bà Nghĩa dìu đỡ ông Hội với Phương vào nhà, đặt hai người lên giường.

- Cảm tạ ông. Bà nghĩa chắp hai tay vào nhau. Tôi nhìn ông sao cứ quen quen. Bà nói tiếp.

- Tôi là cháu của ông ăn mày năm xưa thưa bà.

- Hả, chả trách gì.

Gã đàn ông kể về lai lịch của mình và nguyên nhân tại sao mình có mặt ở đây. Nghe xong Vũ và bà Nghĩa kinh nghi thất sắc. Tất cả những chuyện của dòng họ nhà Vũ tới tận bây giờ chàng và mẹ chàng mới mơ hồ hiểu được phần nào.

- Đau đau quá, cứu tôi với.

Cả ba cùng quay lại. Phương đau đớn vật vã rên la. Bà Nghĩa vội chạy lại, Vũ và gã đàn ông lại theo. Hai tay Phương đang ôm bụng, thân thể nàng oằn oại.

- Chắc là lên cơn đau đẻ. Bà Nghĩa nói, Vũ con vào bếp đun ngay ấm nước nóng cho mẹ.

- Dạ. Vũ ứng tiếng và đi làm theo lời bà.

Hai mắt Phương trợn trừng, miệng sùi bọt.

- Đừng, đừng giết tôi.

Phương rên la.

- Đừng sợ, ta đây, bình tĩnh lại đi con.

Bà Nghĩa đặt tay lên người Phương, trấn an nàng. Phương vẫn quằn quại rên rỉ không ngớt. Vũ đưa nước sôi ra. Bà Nghĩa sắn tay, chuẩn bị làm bà đỡ.

Ngoài trời mưa đã ngớt, gió đã lặng, nhưng sự việc ma quái lúc nãy vẫn còn quanh quất. Không khí khủng bố vẫn bao trùm căn nhà ông Hội.

Gã đàn ông và Vũ để một mình bà Nghĩa xoay sở, hai người lại bàn ngồi, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.

-Ối cha mẹ ơi.

Tiếng bà Nghĩa vang lên như bị một đòn đánh vào ngực. Hai người đàn ông lao ngay lại. Vũ hỏi dồn:

- Gì vậy mẹ, gì vậy mẹ.

- Kia, kia…

Bà Nghĩa lắp bắp chỉ lên giường.

Vũ và gã đàn ông cũng tái xám mặt khi nhìn thấy vật trên giường. Phương đã đẻ. Không phải một đứa con trai. Cũng không phải là đứa con gái. Mà là hai cái chân mèo đen thui. Phương cố mở mắt nhìn.

-Không, không thể như thế. Phương thét lên rồi ngất lịm đi.

Ba ngày sau Phương và ông Hội dần phục hồi sức khỏe. Suốt từ sáng tới tối Phương ngồi thẫn thờ như tượng gỗ trên giường, nước mắt lưng tròng. Nàng vô cùng đau khổ. Dù đó là sự loạn luân, nhưng tại sao đứa con nàng mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày lại là hai cái chân mèo đen? Chính người đàn bà đó, cái oan hồn thiếu nữ, đã móc giọt máu của ông Hội ra khỏi người nàng và nhét hai cái gớm ghiếc ấy vào cơ thể nàng. Đêm đó, cái đêm rùng rợn ấy…

Gã đàn ông kia vẫn chưa rời nhà ông Hội, gã đang chờ để giải quyết mọi vấn đề.

- Cô hãy bình tâm lại, đừng đau lòng nữa. Gã cầm tay Phương an ủi. Lẽ ra tôi nên nói trước với cô về cái bào thai đêm ấy trên tàu. Cô tha lỗi cho tôi.

Phương gượng cười:

- Tôi không trách gì ông cả. Tất cả là tại tôi. Tôi là một ả đàn bà lăng loàn. Tôi đáng bị như vậy.

Ánh mắt nàng ngập tràn thống khổ.

Ông Hội chỏi tay ngồi dây, uể oải gọi :

- Bà Nghĩa ơi.

Bà Nghĩa từ dưới bếp chạy lên.

- Gì vậy ông ?

- Bà gọi thằng Vũ và Phương lại đây. Tôi có chuyện muốn nói.

Rồi mọi người ngồi xung quanh ông Hội.

Ông bắt đầu nói :

- Đây là bí mật được giữ kín suốt hơn năm thế kỷ của dòng họ tôi, ông quay qua nhìn gã đàn ông kỳ lạ, mọi chuyện anh đã biết hết rồi thì phải?

Gã đàn ông gật đầu.

- Có lẽ cả bà, thằng Vũ và Phương cũng đã biết một số chuyện rồi. Ông Hội nói tiếp. Tuy nhiên tôi vẫn muốn nói lại tất cả mọi sự việc một cách rõ ràng trước khi chết. Ông nhìn ra sân. Tâm tư trôi về thuở xa xưa. Gia tộc tôi vốn khởi nguồn ở vùng Triết Giang bên Trung Quốc đời Hậu Hán, đến đời thứ hai thì được lệnh dụ của hoàng đế mật phái sang Việt Nam với sứ mệnh chọn một vùng đất phù hợp phong thủy định cư và đồng thời thực hiện việc trấn yểm để kềm hãm sự hưng vượng đất nước này. Nếu việc trấn yểm thành công thì hàng ngàn thế hệ sau dân tộc Việt Nam phải phụ thuộc vào đất nước Trung Hoa về mọi mặt. Sau ba năm nghiên cứu tìm hiểu tổ tiên tôi đã chọn được một vùng đất thích hợp cho mọi việc. Mảnh đất ấy nằm bên một dòng sông, quanh năm nước mang một sắc vàng, có núi non trùng điệp. Tránh sự nghi ngờ của mọi người và cũng để có thời gian chuẩn bị họ đã làm nương trồng dâu như những người dân bản địa. Cuối năm đó, bọn họ sau nhiều ngày rà soát đã tìm cách bắt cóc một cô gái trong vùng. Vào một buổi chiều họ đã cùng nhau thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng được hoàng đế giao phó.

Ông Hội vừa thở vừa kể lại toàn bộ nghi lễ yểm bùa ấy. Nghe chuyện đó hai bàn tay Phương toát mồ hôi. Tất cả đúng y như giấc mơ của nàng chiều hôm nọ trên tàu.

Giọng ông trùng dần:

- Từ đó về sau không biết do quả báo hay một lý do siêu nhiên nào đó mà dòng họ tôi phát sinh căn bệnh mỗi đời chỉ sinh được hai người con trai, và một trong hai kiểu gì cùng có một kẻ không có khả năng duy trì nòi giống.

Câu chuyên ông Hội kể đã dứt từ lâu mà mọi người vẫn như đang đắm chìm trong muôn vàn cảm xúc lạ kỳ, sợ hãi đan xen. Cuối cùng những bí ẩn suốt mấy mươi năm lẩn quất trong tâm trí bà Nghĩa đã có lời giải.

- Như vậy, cái đêm ông từ chiến trường trở về cuộc nói chuyện mà tôi nghe trong nhà tắm là của ông và người đàn bà chết oan kia?  Bà Nghĩa nhìn ông Hội hỏi.

Ông chớp chớp mắt khẳng định :

- Đúng như vây, đêm đó bà ta đã hiện lên và định giết tôi nhưng không hiểu sao sau đó bà ta lại bỏ cuộc.

Thều thào ông tiếp:

- Bí mật này được chúng tôi lưu truyền kín đáo trong dòng họ qua từng thế hệ. Đến đời tôi thực sự tôi không hề muốn duy trì cái sứ mệnh vô nhân này. Chỉ vì tôi chỉ sinh được mỗi một thằng con trai nên tôi đã phải làm bao nhiêu chuyện trái lẽ trời. Dù không phải để duy trì sự bùa yểm kia thì dòng họ này cũng không đáng bị tuyệt tự mà. Ông trào nước mắt khi nói đến đây.

Gã đàn ông kỳ lạ cúi đầu ngẫm nghĩ một lát rồi ngẩng lên nói :

- Thưa ông, mọi chuyện đã thuộc về xa xưa rồi. Dân tộc Việt Nam không sống mãi trên xác hận thù, cái gì đã qua người dân đất nước này sẵn sàng xóa bỏ để sống trong an lạc và thanh thản. Tuy nhiên bây giờ gia đình ông bà muốn yên ổn thì tôi cần phải trục xuất oan hồn ma nữ kia ra khỏi vùng đất này. Linh hồn bà ta phải được giải thoát khỏi những oán hận tích tụ suốt mấy thế kỷ qua. Ông hãy chỉ cho tôi chỗ chôn chiếc quan tài kia tôi nghĩ nó ở đâu ngay trong căn nhà này thôi.

Vũ, Phương và bà Nghĩa nghe vậy đều giật bắn. Phần ông Hội run run nói :

- Đúng thế, chiếc quan tài ấy hiện vẫn ở trong vùng đất này. Ông chống tay ngồi dậy. Năm xưa khi phá dỡ dãy nhà gỗ xây lên căn nhà bằng này, tốp thợ xây đã đào phải chiếc quan tài. Tôi đã không cho họ lấy nó lên và tôi cũng bảo họ tính làm sao để nó nằm ở một chỗ thuận tiện, khi nào có điều kiện tôi sẽ di chuyển nó đi nơi khác an táng.

Ông bão Vũ:

- Vũ, con dìu ta đi để ta sẽ chỉ chỗ quan tài cho anh ta.

Vũ ôm ngang người bố đỡ ông dậy. Mọi người theo chân ông Hội. Thời gian trôi qua từng khắc. Mọi người như ngừng thở.

- Chính chỗ này đây. Ông Hội chỉ xuống bậc tam cấp trước nhà. Năm đó tôi để chiếc quan tài ấy nằm ở đây vì theo quan niệm người Trung Hoa thì ma quỷ sẽ không thể vào nhà nếu không được sự cho phép của thần canh cửa. Có lẽ điều đó đã linh nghiệm vì vậy mà suốt những năm qua hồn ma ấy không xâm nhập được vào nhà.

- Tốt rồi. Bây giờ mọi người hãy sinh hoạt bình thường, đêm nay đúng mười hai giờ là giờ mà ma quỷ rời địa ngục lên dương thế tôi sẽ thực hiện sự giải thoát cho oan hồn bà ta.

Đêm xuống. Mùa đông trời tối đen như mực. Tuy không mưa nhưng cái lạnh lẽo ẩm mốc của những ngày mưa vừa qua vẫn còn ngập ngụa trong không khí.

Gã đàn ông kỳ bí lập một bàn thờ ngay trước cửa nhà ông Hội. Gã nói mọi người hãy ở trong nhà, nếu không muốn bị nhiễm âm khí.

Mười hai giờ. Điện đường đã tắt hết. Thị trấn chìm vào tấm áo choàng thinh lặng. Ông Hội nằm trên giường hơi thở đều đều, chừng như ông đã ngủ. Phương, Vũ và bà Hội ngồi bên chiếc bàn hồi hộp chờ đợi.

“Âm dương hòa hợp. Cõi thế trầm luân. Miền địa ngục tối tăm nhiều oan trái. Bao thế kỷ bạo tàn xương chất thành núi, máu trào như biển. Kẻ bạo quyền tay nực mùi tanh, người bị chà đạp nhục thảm ê chề.

Nào phương đông, ấy phương tây. Đã làm người ai cũng máu nóng, tim hồng. Cớ chi gây bao cuộc tang thương. Oán hận ngập tràn. Mộng bá đồ vương liệu có tồn tại ngàn vạn năm. Cớ chi không rũ bỏ hư danh làm kẻ bình phàm sồng chết trong tiếng cười bình thản.

Máu trả máu oan oan tương báo bao giờ nguôi. Hồn ơi hồn, mau mau tỉnh ngộ. Thoát ly cõi u mê tăm tối. Tìm về miền cực lạc trường sinh. Hóa giải mọi oan cừu…”

Gã đàn ông kỳ bí vung gươm múa tít mù. Tay trái cầm hai lá bùa châm lửa vung vẩy. Miệng lâm râm khấn khứa một tràng. Bất ngờ gã kề gươm vào cổ tay cứa mạnh, một tia máu phụt ra. Chảy đầm đìa xuống bậc tam cấp. Trời đang tĩnh lặng bỗng nổi gió. Hòa trong tiếng gió là một chuỗi âm thanh ma quái. Rồi đó từ đâu một đàn rắn quái dị trườn vào mảnh sân nhà ông Hội, chúng phát ra tiếng khè khè, mắt con nào con nấy mở trừng. Từ dưới đất một làn khói đỏ quạch bốc lên. Ẩn hiện trong làn khói ấy là một hai chiếc bóng, một người thiếu nữ và một con mèo, cả hai đều cụt chân.

Gã đàn ông kỳ dị khấn to hơn:

- Ánh sáng dẫn lối về miền cực lạc. Tạo hóa sinh ra hình hài mỗi loài mỗi vẻ. Mắt của loài nào loài ấy sử dụng. Nào mắt mèo xin trả cho mèo. Mắt người xin trở lại trên thân người.

Lời gã vừa dứt, hai đôi mắt lần lượt trở về chính chủ. Gã tiếp:

- Oán hờn rũ bỏ đi thôi. Thoát ly cõi cặn tìm vui miên trường.

Gã đâm thanh gươm xuyên qua màn khói máu. Khuấy khoắng một hồi. Khói đột nhiên tan. Gió ngừng. Hai oan hồn bị trói buộc hơn năm trăm năm phút chốc tan biến vào cõi hư vô.

Gã mệt mỏi gục xuống. Mồ hôi tuôn ra như suối, chảy dọc sống lưng. Gã chống kiếm đứng dậy lê vào nhà.

Bỗng một thanh âm xé nát màn đêm.

- Á! Trời ơi, ông Hội ơi.

Đó tiếng bà Nghĩa. Cơn mệt mỏi tan biến, gã lao nhanh vào. Trên giường ông Hôi nằm bất động. Máu trào ra hai lỗ mũi và miệng. Hai con ngươi trồi hẳn ra ngoài. Kinh dị nhất là quần ông ta đã bị xé nát để lộ ra bộ hạ nhơm nhớp máu. Dương vật không còn trên cơ thể ông Hội….

Năm ngày sau ông Hội được mang đi chôn. Và cỗ quan tài ký bí chôn dấu dưới mảnh đất nhà ông hơn năm trăm năm cũng được gã đàn ông kia thuê đào lên mang ra hỏa táng ngoài nghĩa trang thị trấn.

Nửa tháng sau một đêm Vũ và Phương đang ngủ thì nghe tiếng bà Nghĩa hò hét từ phòng bên vọng sang. Hai vợ chồng hốt hoảng chạy qua. Đầu bà Nghĩa nằm dưới đất, hai chân chổng lên trời, và cả hai chân đều bị tiện đứt tận khụy gối…

Những ngày sau đó Phương và Vũ luôn sống trong tâm trạng lo sợ. Như vậy là mối họa quả báo kia đã không được hóa giải. Sự trả thù của oan hồn ma nữ vẫn diễn ra dữ dội kinh hoàng.

Mấy lần Phương tìm cách liên lạc với gã đàn ông kia nhưng đều nhận về sự tuyệt vọng. Số điện thoại mà gã cho nàng không đúng. Gã đã đi đâu? Có lẽ nào gã đến đây chỉ để giải thoát cho oan hồn thiếu nữ ấy, cũng chính là hóa giải sự trấn yểm cho dân tộc Việt Nam. Còn sự quả báo đối với gia đình Vũ gã không quan tâm đến?

Trước sau gì cũng đến lượt Vũ phải trả giá cho tội lỗi của dòng họ chàng và cũng là của đất nước Trung Hoa, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Vũ không muốn Phương bị kéo vào. Bởi vậy đêm nay chàng nhất quyết đuổi nàng đi. Nhưng Phương không muốn bỏ rơi Vũ lúc này, với nàng giờ đây chỉ có tình yêu thương và sự đồng cảm, còn những nỗi oán hận thật sự đã chết trong nàng.

Phương đưa đôi mắt buồn thảm cố nhìn xuyên vào bóng đêm. Bàn tay vẫn để trên vai Vũ. Vũ cầm lấy tay Phương, thổn thức:

- Phương, anh cảm ơn em nhiều lắm. Trải qua bao đớn đau nhục hờn mà em không hề oán giận anh. Bố mẹ anh đều đã chết rồi. Trước sau gì cũng tới lượt anh thôi. Nghe lời anh em đi đi. Đừng ở lại nơi ma quái này nữa. Gia đình anh đáng bị quả báo như vậy.

- Không, có chết em cũng không đi. Phương khóc, nàng khóc bằng tất cả sự bi ai tự tâm hồn.

Bất ngờ Vũ vùng ra khỏi Phương. Trên tay chàng một ngọn trủy thủ đã được chàng thủ sẵn tự bao giờ.

- Kìa Vũ, anh định làm gì vậy. Đừng khiến em sợ. Phương bấn loạn hét lên.

Vũ bình tĩnh nói:

- Em đứng yên tại đó, đừng tiến lại gần anh.

Phương chững lại. Vũ khóc, run run nói tiếp:

- Đây là thanh trủy thủ hơn năm trăm năm trước tổ tiên anh đã dùng để hành hình người thiếu nữ ấy. Nó được truyền qua các thế hệ với di huấn sẽ có ngày oan hồn đó thoát ra ngoài. Thanh trủy thủ này có thể giết chết hồn ma cô ta thêm lần nữa. Trước khi chết bố anh đã trao nó cho anh. Ông muốn anh dùng nó để bảo về chính mình thoát khỏi sự trả thù của oan hồn ấy. Nhưng anh, Phương ơi, anh chỉ muốn dùng thanh trủy thủ này để kết liễu sự sống của anh mà thôi.Anh chết đi em sẽ được an toàn vĩnh viễn. Hứa với anh em phải sống thật tốt, em nhé.

Dứt lời Vũ quay mũi đao đâm thẳng vào bối tâm mình. Một dòng máu tuôn ra xối xả. Phương lao tới ôm chầm lấy chồng. Tiếng khóc nghẹn ngào lan trong đêm trường nhầy nhụa mùi chết…

- Vũ ơi, Vũ ơi. Anh ơi, đừng, anh đừng chết…

 

- Thưa bà, sau đó bà ở lại Việt Nam bao lâu rồi mới sang đây.

- Cuối năm đó, khi mùa đông sắp cạn tôi từ giã bố mẹ tôi và quyết định sang Mỹ sống anh bạn ạ.

- Từ đó đến nay bà có về Việt Nam không?

- Không tôi không muốn về đó. Những nỗi đau xưa thật sự chưa hề liền trong trái tim tôi.

- Bà đã từng kể với ai câu chuyện chưa?

- Đây là lần đầu tiên anh bạn ạ. Tôi thấy anh là một người có tinh thần yêu nước rất cao. Tôi quý trọng điều đó.

- Cảm ơn bà đã ưu ái tôi.

- Không có gì. Mà tôi nghĩ có lẽ sẽ chẳng ai tin câu chuyện của tôi kể là sự thật đâu anh bạn ạ.

- Tôi tin, thưa bà. Bởi vì hàng mấy thế kỷ nay người Việt Nam luôn bị phụ thuộc vào người Trung Quốc, tôi tin nguyên nhân bắt nguồn từ sự yếm bùa ấy.

- Cậu có suy nghĩ khác người lắm. Điều đó đúng hay không tôi không luận bàn. Chỉ có điều cậu bạn này.

- Sao vậy bà?

- Tôi nghĩ, không hẳn chỉ có dòng họ nhà ông Hội được cử sang làm công việc trấn yếm đất nước Việt Nam đâu mà có thể còn nhiều dòng họ khác nữa.

- Thật sao bà? Nếu đó là sự thật thì phải làm sao đây?

- Sự tồn vong của một dân tộc phụ thuộc vào nhiều thứ anh bạn trẻ ạ. Cho dù có vạn ngàn sự trấn yểm cũng chẳng hề gì nếu tất cả người Việt Nam biết đoàn kết một lòng hy sinh quyền lợi và hạnh phúc cá nhân cho dân tộc.

- Điều đó rất khó thưa bà!

- Thôi kệ đi cậu, một bàn tay không vỗ thành tiếng. Một giọt nước không tạo thành đại dương. Việc thiên hạ cứ để thiên hạ lo đi vậy. Tôi mệt rồi. Hôm nay tôi đã nói hơi nhiều. Công viên tới giờ đóng cửa rồi. Chúng ta về thôi.

-Vâng, tôi sẽ tiễn bà một quãng đường…


HẾT

 

Trương Đình Phượng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1739)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1378)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1291)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2146)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1708)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2295)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1671)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2007)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2168)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 2359)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1671)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11604)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18193)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17255)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2146)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2295)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3457)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3595)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 1708)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3192)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2978)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 3616)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1738)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2006)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2167)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2395)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1377)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1290)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2356)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2973)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3902)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14765)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30911)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37461)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12629)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13895)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 4815)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7116)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6375)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6852)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7701)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9591)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8813)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11756)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.