- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NHỔ NƯỚC BỌT

19 Tháng Tám 20158:04 CH(Xem: 61845)

WW

Wound Man - tài liệu wikipedia.



Tôi ngồi trong quán cà phê “Bụi” vào một buổi sáng chủ nhật yên tĩnh, ngoài cửa sổ bầu trời ngập ngụa trong những đám mây xám ảm đạm, những ngày tháng tám khởi đầu bằng một trận bão liếm vào đường bờ biển, ảnh hưởng tới cái thành phố chật chội và ồn ào này. Cả thế giới đường như được thu gọn trong cái ô cửa sổ đóng chặt nhìn xuống con đường tấp nập bên dưới.

Tôi nhấp một ngụm cà phê nguội, giữ nó một lúc ở trong miệng cho tới khi vị chua xuất hiện và hòa vào vị đắng rồi khẽ khàng nuốt.

Năm ấy tôi mười bảy tuổi, ngày thứ hai kể từ khi bỏ nhà đi.

Nheo mắt, tôi vùi mình vào chiếc ghế lười êm ái, nhắm mắt một lúc trước khi tiếp tục lên đường.

Mười bảy tuổi tôi đi hoang, không biết để làm gì nhưng cứ đi, trong đầu tôi le lói một biểu tượng gì đó, một dòng chảy để cuối cùng dẫn tôi tới quyết định này. Nhưng tất cả chỉ là những tấm biển chỉ dẫn mờ nhạt. Những lực đẩy xô tôi đến đây nhỏ bé tới mức chẳng bao giờ tôi cảm nhận được, như một thiên mệnh nào đó, như lũ chim di biết phải bay đi đâu khi mùa đông tới…

 

Chuyến hành trình của tôi bắt đầu vào một ngày lộng gióA, một buổi chiều mà sắc vàng của nắng nhạt chìm ngâp khắp thế gian. Như mọi ngày sau khi tan học tôi đạp xe song song với thằng bạn thân của mình. Người Lạ là cách tôi gọi nó, đó không phải tên thật, nhưng một ngày nọ nó đã quyết định là từ nay tôi phải gọi nó là Người Lạ, như cách nó vẫn trân trọng thông báo về mình.

Vậy là tôi với Người Lạ đạp xe về nhà với nhau, như mọi ngày chúng tôi dừng lại ở một cây cầu bắc qua con sông rộng lớn. Và vì nó bắc qua một con sông rộng lớn nên cầu cũng rộng lớn. Chúng tôi thích đứng ở giữa cầu và chiêm nghiệm quang cảnh rực rỡ của hoàng hôn. Khi những đám mây nhuộm màu nắng dịu, hoặc dòng sông lác đác từng đám lục bình trôi chậm rãi, hay các sà lan chở cát rẽ nước ngang qua. Những người đàn ông, đàn bà, trẻ con xa lạ vùn vụt lao qua cầu trên những chiếc xe đủ loại. Đôi khi chúng tôi trò chuyện, khi khác thì im lặng; thời gian lặng lẽ trôi qua, hai chiếc xe đạp dựng kế nhau yên ả như hai con ngựa đang say ngủ.

Có rất nhiều lý do để giải thích cho thói quen này nhưng tựu chung lại vì tôi với nó đều không muốn về nhà. Thỉnh thoảng cả hai đứng tới tối mịt mới mò về.

Ba của Người Lạ thường hay đánh nó, đó là một người đàn ông mà trong những lần ít ỏi tôi gặp mặt đều đang say. Ông ta gặp phải nhiều thất bại trên đường đời và vì khi ra ngoài xã hội ông bị mọi người hà hiếp nên lúc về nhà ông mới hà hiếp lại vợ con. Cái bị kịch kiểu domino đau khổ này vẫn thường thấy, nó đầy rẫy ngoài kia, nhàm chàn đến nỗi Người Lạ không bao giờ buồn nhắc tới. Nó chỉ nhếch mép, lầm lì nhìn xuống dòng sông mỗi buổi chiều. Nhưng những vết bầm tím và sưng trên tay chân thì không nhàm chán chút nào, chúng đau như bất kỳ vết thương nào khác.

Còn tôi, tôi chẳng có lý do gì để về nhà, ở nhà chỉ có người chị gái theo phong cách Emo suốt ngày ở trong phòng rạch tay. Mẹ tôi thì bận rộn với công việc đầu bếp cho hai nhà hàng. Khi nào về nhà bà hay làu bàu gì đó trong miệng. Mẹ hút thuốc, chửi rủa xã hội, đàn ông, cùng tất cả các sinh vật đang di chuyển trên cõi đời và lúc nào cũng kết thúc bằng việc nhổ nước bọt xuống đất. Một hành động đẹp đẽ mang tính biểu tượng của mẹ.

Tôi cảm nhận mẹ mình đã chịu nhiều nỗi đắng cay trong đời, nhưng bà chẳng bao giờ hé răng với tôi cũng như không bao giờ nói ba tôi là người như thế nào và vì sao ông lại không có mặt trong cuộc đời hai chị em tôi. Ngôi nhà như một thứ hang động tiện nghi nào đó, hoàn toàn không có hơi ấm con người.

Ngày hôm ấy tôi và nó đứng trên cầu tới lúc những ngọn đèn bắt đầu phát ra ánh sáng vàng vọt, thành phố lờ mờ tối.

- Ê tao chán quá, Người Lạ lên tiếng, nó quay mặt về phía con đường, tựa vào lan can và ngả người ra sau hết mức có thể.

- Ờ, tao thấy rồi.

- Thấy gì?

- Chán, tôi chau mày, nó như một lớp sương mù màu đen lơ lửng ở trên đầu mày, chỉ ngón tay vào một điểm cách đầu nó vài phân, cái đám đó thỉnh thoảng tao vẫn có vào những ngày mưa.

- Mày muốn bỏ nhà đi không?

- Đi đâu?

- Đâu cũng được, Người Lạ nhìn quanh, tính từ cây cầu này, tao với mày sẽ đi về hai hướng khác nhau.

- Để làm gì?

- Chả để làm gì hết, mày không muốn ở nhà, tao không muốn ở nhà nên cứ thế rồi bỏ đi thôi.

- Rồi sau đó?

- Chẳng có sau đó gì hết, tao hỏi mày ngay lúc này mày có muốn đi không?

Im lặng, tôi nhìn xuống dòng sông, đêm đã nhuộm đen con nước, nhổ một bãi nước bọt xuống dưới. Tôi nhìn nó rơi rồi bị dòng chảy nhấn chìm trong muôn vạn con sóng nhỏ đang nhấp nhô.

Một bãi nước bọt chẳng thể nào sỉ nhục được Trái Đất, người ta cứ nhổ nước bọt mãi vào nó mà nó có phản ứng gì đâu. Trái Đất im lặng và cam chịu.

Thỉnh thoảng cơn giận dữ tích tụ bùng phát và nó thổi một cơn bão ra giết chết vài trăm người. Nhưng mà chẳng ai quan tâm, tới ngày mai họ lại nhổ nước bọt xuống thôi, con người vốn chẳng học được điều gì từ những sai lầm. Họ cứ bước qua và lãng quên chúng.

- Ừ thì đi! Tôi nhún vai.

Người Lạ gật đầu, chúng tồi im lặng rồi đi về hai hướng ngược nhau. Đầu tiên tôi về nhà, cất xe đạp, lấy vài bộ quần áo bỏ vào ba lô, nhét cái thẻ ATM mà mẹ luôn để trên đầu giường phòng trường hợp bất trắc vào bóp. Suốt thời gian đó chị gái tôi ngồi ở bàn ăn và gục đầu xuống bàn. Mớ tóc được duỗi thằng rũ xuống một cách hoàn hảo.

- Mày đi đâu vậy? Chị ngẩng lên, đôi mắt lờ đờ hỏi.

- Đi với bạn một lúc.

Chị gật đầu rồi lại gục xuống.

Rất Emo!

Tôi lên đường vào lúc gần bảy giờ tối, đêm mát mẻ và dễ chịu; trong không khí thoang thoảng mùi khói xe nhưng vẫn ngửi được vị trong lành của cây cối. Vùi tay vào túi áo khoác tôi tiến lên, băng qua con đường quen thuộc, những cửa hàng mà tôi vẫn mua nhu yếu phẩm mỗi ngày. Một bà hàng xóm đi ngang qua nhìn tôi gật đầu chào, tôi đáp lại bằng một nụ cười phớt nhẹ.

Mọi thứ dường như thật đơn giản, một ngày nọ về nhà từ trường, thu xếp đồ và cứ thế mà bỏ đi. Hôm nay là thứ bảy nên mẹ tôi sẽ làm việc cả đêm, ngày chủ nhật bà về nhà lúc ba giờ sáng và ngủ tới tận trưa. Mẹ sẽ chẳng hề để tâm chuyện tôi làm gì ở đâu cho tới buổi tối, tôi có thể tận dụng thời gian ấy để đi xa khỏi phạm vi mà bà có thể tìm kiếm.

Tôi đi suốt cả đêm, tâm trạng hồi hộp và phấn khích làm tôi không thấy buồn ngủ. Thỉnh thoảng tôi ngồi nghỉ lại bên vệ đường hay một băng ghế đá trên vỉa hè. Càng về khuya đường phố càng vắng lặng, nơi tôi sống chẳng tấp nập gì mấy, một khu ngoại ô lặng lẽ. Đến nửa đêm gần như chỉ có mình tôi trên phố.

Lang thang vô định, tôi ngẩng đầu nhìn bầu trời đêm, khi ánh sáng đã tắt đi thì hàng trăm vì sao trên bầu trời cũng lộ mặt, chúng rải ra như những hạt kim tuyến trên tấm vải đen. Bừa bộn, lấp lánh và đẹp đẽ.

Tôi bỗng nhớ tới thời gian hai ba năm về trước, khi chị tôi chưa thành Emo và thế giới này vẫn chưa trở nên quá tệ đối với mẹ. Thỉnh thoảng chúng tôi có một bữa ăn chung, mẹ nấu một cách vội vàng sau khi vừa về tới nhà, chị gái vừa ăn vừa nhắn tin trong khi tôi trao đổi với mẹ những chuyện vô nghĩa thường ngày. Không có gì quá đặc biệt nhưng mọi thứ vẫn rất dễ chịu.

Nhìn lên bầu trời đêm không hiểu sao tôi lại nhớ về những chuyện ấy, dường như vũ trụ gợi cho con người ta những ký ức tốt đẹp, lúc thế giới hãy còn ấm áp và tươi sáng.

Đã bao lâu rồi kể từ lần cuối cùng gia đình tôi ăn chung với nhau? Và chuyện gì đã xảy ra khiến mọi thứ như hiện nay? Nếu nghĩ lại thì dường như chẳng có biến cố lớn nào, chúng tôi sống những cuộc đời bình lặng, sự tồi tệ không đến ngay sau một đêm mà diễn tiến chậm rãi như nước bốc hơi lên bầu trời. Mỗi ngày từng chút một, những đổ vỡ nho nhỏ tích tụ lại rồi biến thành một vực sâu rộng lớn và mọi thứ tốt đẹp đều mất hút vào bên trong nó. Thật tồi tệ, nhưng mọi thứ là như vậy, ta chẳng nhận ra mình mất gì….

Mãi sau này, khi tôi là một gã trung niên bốn mươi tuổi tôi mới biết những mất mát nho nhỏ chẳng bao giờ là vô nghĩa. Nó sẽ trở thành một cái gì đó lớn lao vào một ngày xấu trời và ta chỉ biết đừng nhìn mọi thứ bị phá hủy.

Còn lúc ấy tôi chỉ nhìn lên bầu trời, thở dài một tiếng rồi nhổ một bãi nước bọt xuống đất.

Trái Đất vẫn lặng im cam chịu, bao nhiêu thế hệ loài người đã phỉ nhổ xuống đất này, bãi nước bọt của tôi chẳng là gì trong cái đại dương bao la ấy…

 

Đến sáng thì tôi tìm được quán cà phê “Bụi” nằm lọt thỏm giữa một quán nhậu lớn và cửa hàng tiện lợi. Tôi bước vào quán như kẻ mộng du, đôi chân mệt mỏi dừng bước, thân thể rã rời rơi phịch xuống cái ghế êm ái. Thân thể mệt mỏi nhưng trí óc lại tỉnh táo, kêu một tách cà phê nóng, một phần ăn tôi nhấm nháp bữa sáng chủ nhật xám xịt trội qua.

Bầu trời rùng mình bằng những tia sét phương xa.

Con đường bên dưới thưa vắng bóng người, bên kia đường là một dãy tường trải dài, những người bán hàng rong ngồi chống cằm tư lự: ba lô, túi xách, thắt lưng bày la liệt trên vỉa hè. Quang cảnh dường như thân quen mà cũng xa lạ.

Rút cái di động ra tôi xem lại những tin đã cũ, tin gần nhất là từ Mắt Biếc cô bạn ngồi trên tôi hai bàn trong lớp. Trong tin nhắn cô nói về việc hết năm học này cả gia đình sẽ định cư ở nước ngoài.

Mắt Biếc hiển nhiên là có một đôi mắt đẹp, đúng hơn đó là đôi mắt đẹp nhất mà tôi từng thấy, trong trẻo ngây thơ nhưng cũng có lúc sâu xa như biển cả. Nếu nhìn quá lâu vào mắt cô tôi lại thấy sợ, có cảm giác như bản thân bị nhấn chìm vào nó, một nơi thăm thẳm sâu, tuyệt vời; nơi mà thế giới sẽ đi đến hồi kết.

Tôi yêu “Mắt Biếc”, dù ngoại trừ đôi mắt cô không hề xinh, nhưng tôi vẫn yêu; tôi muốn đi với cô mỗi ngày, muốn chạm vào thân thể cô, vuốt ve mái tóc và thì thầm những điều mà từ lâu tôi vẫn nghĩ về cô.

Nhưng Mắt Biếc lại thích Người Lạ, còn Người Lạ thì hoàn toàn dửng dưng với tình cảm. Trong cái tam giác tình bạn này mọi thứ đẹp đẽ đến mức đau đớn, tình bạn của chúng tôi tồn tại một cách lấp lửng qua những giây phút ồn ào và tĩnh lặng của cả ba.

Không có gì quá cao siêu, nhưng hồi mười bảy tuổi, mối tình tay ba ngây thơ này làm tôi có cảm giác như vũ trụ này là một nơi chốn tàn bạo và khắc nghiệt.

Không có tin nhắn nào từ gia đình trong hộp thư thoại, cũng không có cuộc gọi nào; chúng tôi chẳng còn gì để nói với nhau từ rất lâu rồi. Vào những giây phút gặp gỡ ngắn ngủi ở nhà mẹ hỏi chuyện tôi một cách qua loa, cố tỏ ra là bà có quan tâm; tôi trả lời nhát gừng, cố tỏ ra là mình cần được quan tâm.

Chị gái thì đóng cửa trong phòng, dùng lưỡi dao rọc giấy cắt lên tay mình những đường quyết đoán. Chị hay nhìn máu chảy rồi trầm ngâm một lúc lâu, mái tóc rũ rượi che lấp cả khuôn mặt.

Gia đình không hoàn toàn tan vỡ, nó chỉ là một mớ hỗn độn, một con thuyền xơ xác không biết mình đang đi về đâu hay đi để làm gì.

Có một lần tôi nói chuyện với chị gái mình, khi chị bắt đầu ăn mặc theo kiểu Emo và mua những hộp lưỡi dao rọc giấy về.

- Có chuyện gì với chị vậy?

- Chẳng có gì hết, chỉ là một cách để tiếp tục sống thôi!

Chị nhếch mép mỉm cười một cách cay đắng.

- Bằng cách rạch tay hả? Em thì chị làm gì với con dao rọc giấy ở trong bếp rồi!

Chị nhìn tôi một lúc lâu, đứng lên xoa đầu tôi rồi bỏ đi.

Từ đó chị luôn rạch tay ở trong phòng của mình!

 

Chống cằm, tôi dùng tay còn lại vẽ một hình vuông bằng nước trên mặt bàn.

Đây là thế giới.

Tôi nói nhỏ, đặt một ngón tay vào giữa hình vuông.

Đây là tôi, tôi bị giam trong thế giới!

Cô gái ngồi bàn kế bên ngước mặt lên khỏi cái máy tính bảng và nhìn tôi bằng ánh mắt ghê tởm. Bỏ qua cái nhìn ấy tôi nằm gục xuống bàn nhắm mắt lại một lúc. Cơ thể không cần ngủ nhưng nó cần được nhắm mắt và chìm vào bóng tối.

Nếu hết ngày hôm nay tôi về nhà thì mẹ sẽ không biết là tôi đã bỏ đi, vậy thì quyết định đi bụi của tôi có ý nghĩa gì? Nhưng tôi đi đâu phải đi là để cho mẹ thấy, tôi không đòi hỏi điều gì ở bà.

Không, chuyến đi này là dành cho chính tôi, tôi cần được đi bụi mà không phiền tới ai. Nên tôi phải về trước khi mẹ phát hiện ra, vì sẽ không có ai hiểu được tôi cần chuyến đi này như thế nào.

Không ai ngoại trừ Người Lạ!

 

 

Chúng tôi quen nhau vào đầu năm cấp ba, lúc đó cả hai ngồi chung bàn ở cuối lớp. Người Lạ không nói gì cả buổi, nó chống cằm đọc một quyển sách mỏng. Tôi mãi lo nói chuyện với một đứa bạn từng học chung hồi cấp hai ngồi bàn trên nên chẳng quan tâm gì đến nó.

Giờ ra chơi Người Lạ vẫn ngồi ở chỗ của mình, sách vẫn mở ra nhưng nó không đọc mà nhìn ra ngoài cửa sổ.

Tôi liếc trộm quyển sách, có một hình minh họa chiếm hết trang giấy, bức vẽ một người đàn ông mặc khố bị đủ mọi loại vũ khí thô sơ đâm vào da thịt*.

- Bức tranh đó là gì vậy? Tôi hỏi vu vơ.

- Đây là tao vào một ngày xấu trời, người đàn ông bị thương, Người Lạ nhún vai xong vạch tay áo sơ mi lên để lộ một vết bầm lớn, còn hôm nay là một ngày đẹp trời!

Kể từ đó chúng tôi kết bạn với nhau.

Có những ngày Người Lạ tới trường với những bước chân cà nhắc, hai đầu gối của nó bầm tím và tay thì có vài vết đỏ do thắt lưng gây ra.

- Hôm nay xấu trời quá hả? Tôi hỏi nó một cách bình thản.

- Cũng chưa tới nỗi nào! Nó cười lớn.

Có những ngày tôi bước vào lớp với khuôn mặt lầm lỳ, Người Lạ nhìn tôi rồi không nói gì cả; nó hoàn toàn im lặng cho tới khi tôi cất tiếng. Nhưng những lúc như vậy nó lẽo đẽo theo tôi mọi nơi. Tình trạng này đôi khi kéo dài cả buổi.

Chúng tôi hiểu nhau một cách tế nhị như vậy!

Tôi không bao giờ hỏi về gia đình Người Lạ, nó cũng chẳng đả động gì tới chuyện cá nhân của tôi. Chúng tôi không có nỗi đau nào muốn chia sẻ, chỉ có sự dễ chịu khi nói chuyện với nhau về đủ mọi thứ tầm thường ngớ ngẩn trên đời.

Khi Người Lạ đem những vết thương của mình ra để cười đùa thì tôi cũng phụ họa với nó.

 

Khi tôi đứng lên tính tiền thì đã hai giờ trưa, trời bắt đầu đổ mưa, một cơn mưa âm ỉ vừa đủ để làm ướt những người đi trên phố.

Bước ra khỏi quán, giương cây dù màu đỏ lên, mưa rơi lộp độp phía trên, con đường thẳng trải dài như vô tận.

Điện thoại reo, tôi bắt máy.

- Đi đường cẩn thận nha nhóc! Giọng chị nói nhỏ nhẹ.

Chưa kịp trả lời thì chị đã cúp máy, bỏ cái điện thoại vào túi, rảo bước chân, vài vũng nước đọng nho nhỏ trên vỉa hè soi bàn chân tôi bước qua.

Con đường cứ tiếp nối mãi về phía trước một cách đơn điệu, tôi thong thả đi, tay cầm dù, vai mang ba lô, cái áo khoác phất phơ trong những cơn gió lạnh. Quang cảnh quen thuôc đến nhàm chán, nhà cửa nối tiếp nhà cửa, con người nối tiếp con người. Vài cái ngã tư trôi qua, chạm chờ xe buýt với một ông già bán vé số ngồi đăm chiêu nhìn cơn mưa, con chó sũng nước chạy ngang qua. Vài chiếc xe dựng dưới mái hiên chìa ra, những con người xa lạ đứng kề nhau, lưng dựa tường, mùi thuốc lá thoang thoảng, tiếng hột quẹt khô khan. Dù chẳng có gì đặc biệt nhưng vẫn làm cho tôi thấy buồn.

Và cơn mưa dần trở nên nặng hạt.

Tôi cứ đi, đi đến tận cùng cái thế giới của mình, tận cùng của một hình vuông bằng nước.

Có một lần Người Lạ bị một vết cắt dài ở trên tay, tôi giúp nó thay băng trong nhà vệ sinh.

- Sao mà mày bị như thế này?

- Mày hỏi làm gì? Nó đáp giọng bực bội. Mày thì làm được gì?

Mưa như một bức màn trắng xóa, sét bủa vậy bầu trời, tôi lầm lũi bước đi.

“Chẳng có gì hết, chỉ là một cách để tiếp tục sống thôi!”

Sống? Sống quan trọng tới vậy sao? Đừng có đùa với tôi, lũ các người!

Bạn có muốn ra nước ngoài không?

Muốn hay không gì thì cũng không phải do tôi quyết định!

Gió thổi ngược chiều, mưa chêch chếch rơi tạt vào da thịt tôi đau rát, vùi tay vào túi áo khoác tôi tiếp tục đi nhanh hơn.

- Lúc này con học hành sao rồi?

- Ổn cả!

Phải rồi, ổn cả, ổn hết, tất cả đều ổn.

- Ba đâu rồi mẹ?

- Chết lâu rồi!

Mưa tối trời tối đất, gió thổi mạnh như muốn cuốn cây dù đi mất.

Trái Đất đang phỉ nhổ lại loài người, phỉ nhổ cho hàng tỉ bãi nước bọt đang nằm lại dưới mặt đất, hàng thế hệ con người quằn quại trong những hình vuông cứng nhắc.

Tôi nhổ nước bọt xuống đất, đất lấy lại, đưa cho bầu trời làm thành mưa để phỉ nhổ vào tôi.

Chẳng bao giờ kết thúc, cái chuỗi domino đau khổ này, vòng xoáy đau đớn, mỗi ngày một lớn hơn, lớn hơn cho tới khi vỡ ra thành hàng nghìn mảnh. Và mỗi mảnh lại trở thành một vòng xoáy mới, điên cuồng xoay, điên cuồng lớn lên.

Nhổ nước bọt xuống đất tôi buông tay thả cây dù ra cho gió cuốn đi. Rồi tôi hét lên, thiếng thét đau đớn, ai oán bấy lâu nay vẫn kềm nén trong lòng. Nhưng chẳng ai nghe thấy được, chẳng ai kể cả chính tôi; tôi chỉ nghe âm vọng từ tận sâu trong cõi lòng mình, còn tiếng thét trong thực tại này đã bị giọng của cơn mưa nuốt chửng.

Tôi chạy về phía trước, chẳng biết chạy đi đâu nhưng vẫn cứ chạy, mưa xóa đường đi, mưa xóa mất loài người, mưa xóa đất, xóa trời thành khoảng trắng. Chỉ còn mình tôi, chạy mãi về phía trước.

Chạy một lúc lâu tôi va phải ngõ cụt, con đường kết thúc bất ngờ và một khoảng đất trống rộng lớn hiện ra. Nhưng không có đường vào, những bụi cây dại đã mọc che lấp mất tất cả.

Tôi đứng lại thở dốc, vuốt nước mưa trên mặt. Quay lại đằng sau, chẳng có gì ngoài màn mưa trắng xoá. Một tia sét nổ vang trên đầu, tôi nhìn những bụi cây dày đặc đang chắn đường mình.

Nghiến răng, vứt cái ba lô xuống đất tôi dùng hai tay tạo cho mình một lối đi. Bẻ những cành cây dạt qua hai bên, tiến vào bên trong một cách khó khăn. Gai đâm vào khuỷu tay rướm máu, đôi dép vướng vào một cái rễ đứt mất quai, tôi vứt nó lại, chân trần đạp lên cỏ dại.

Mưa vẫn tiếp tục đổ xuống, như thế trút hết nước từ trên bầu trời.

Như thể một bãi nước bọt khổng lồ của Trái Đất đang rơi từ từ chậm rãi, như thể tôi đứng ở tâm của bãi nước bọt ấy!

Tôi tiến vào sâu bên trong bãi đất hoang, vẫn chẳng biết để làm gì, không thể dừng lại được. Nhưng sức lực cứ dần rời bỏ tôi, bàn tay mỏi rã rời, những ngón tay không còn nắm chặt được nữa. Bắp chân trầy sướt vì bị những cành nhỏ đâm vào, cơ thể tôi mệt lả vì thiếu ngủ. Tất cả như mất năng lượng vào cùng một lúc.

Nhưng cánh đồng trống và những bụi cây thì chẳng bao giờ kết thúc.

Ngồi xuống dưới cỏ, tôi ngả người nằm dài ra hai tay giang thẳng.

Tôi thét lên một tiếng nữa, rồi thở dốc.

Mưa rơi không ngớt trên mặt.

Tôi cứ nằm đó mãi cho đến khi mưa tạnh hẳn và thân thể ướt đẫm từ đầu tới chân.

Rồi tôi bật cười, một tràng dài chẳng hiểu vì sao, tôi cười cho đến khi bụng quặn lên vì đau, nước mắt trào ra.

Cười chán tôi đứng dậy và quay lại, đi về nhà.

Đi ra dễ hơn đi vào rất nhiều vì đường đã được mở sẵn, tôi nhặt cái ba lô của mình để ở ngoài giờ đã ướt sũng, lang thang một đoạn tôi đến trạm xe buýt có ông lão bán vé số lúc nãy, ông vẫn ngồi đó. Ngồi xuống cạnh bên, tôi bắt chuyến xe về nhà. Ông lão mỉm cười rồi đưa cho tôi cây dù màu đỏ, có vẻ như ông đã bắt được nó trong cơn mưa.

Tôi mua cho ông năm tờ vé số.

Thiệt hại duy nhất là đôi dép, tôi đi chân trần về nhà.

Chị gái ngồi ở phòng khách xem tivi, thấy tôi bước vào chỉ ừ hử một tiếng rồi đứng lên tắt tivi và bước về phòng.

Mẹ vẫn chưa phát hiện ra sự biến mất của tôi, bà đang xào nấu gì đó trong bếp, lon bia đặt kế bên, miệng bà huýt sáo một giai điệu vui vẻ.

 

 

Sáng hôm sau đi học tôi nóng lòng muốn nói chuyện với Người Lạ, tôi muốn nghe nó kể về chuyến đi của mình. Nhưng ý định ấy tiêu tan ngay lập tức khi thấy Người Lạ đi vào từ ngoài cổng. Trên má nó là một vết sưng lớn, mắt phải sưng húp, chân đi cà nhắc vì cổ chân trái bi trặc. Người Lạ ngậm bông gòn trong miệng, khi tới gần tôi nó nhả miếng bông gòn ra rồi vứt vào thùng rác. Chúng tôi ngồi xuống một băng ghế đá.

- Sao một ngày xấu trời hả?

Người Lạ không nói gì, tôi cũng chẳng hỏi thêm.

Mãi đến khi sắp vào lớp nó mới nói.

- Hôm thứ bảy khi tao về nhà và thu dọn hành lý thì ông già tao phát hiện ra. Ổng giật lấy cái ba lô, nắm đầu tao rồi đập nó vào tường, sau đó ổng đạp trặc chân tao. Vừa đạp ổng vừa hỏi tao muốn đi đâu. Ổng đánh tao suốt ngày chủ nhật.

Người Lạ nhổ một bãi nước bọt xuống đất, bãi nước bọt đỏ ngầu những máu.

Thế giới của tao là từ phòng mình tới ngoài cổng, Người Lạ kết luận.

Tôi nhìn bãi nước bọt, Trái Đất vẫn cam chịu, cam chịu mãi…

 

Ngày hôm đó vào giờ ra chơi, chẳng vì lý do nào đặc biệt Người Lạ đánh một thằng ở lớp kế bên gãy ba cái răng, nó còn đấm bầm mắt cả giám thị khi bị can ngăn. Ngay lập tức nó bị mời về phòng hiệu trưởng cảnh cáo và đuổi học một tuần sau đó.

Và đó là sự tiếp diễn.

Cái chuỗi domino đau khổ bất tận của cuộc đời này, bãi nước bọt vĩ đại của nhân loại!

 

(*): Bức tranh Wound man, một kiểu tranh minh họa phổ biến vào thế kỷ XVI ở Châu Âu của các sách liên quan tới giải phẫu

 

13tháng Tám 2015

THIÊN DI

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 864)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 913)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 771)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 675)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2974)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1900)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2813)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2354)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2742)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2517)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15606)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16032)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 912)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2974)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2812)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2742)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 771)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5001)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6890)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6171)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 864)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2353)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2517)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2752)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2236)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2065)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2219)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2259)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 673)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13208)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29256)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35566)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10521)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12427)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1900)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2812)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3051)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3105)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3856)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7554)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6917)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9457)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.