- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,217

Công Ty Điếu Văn

18 Tháng Bảy 201511:31 CH(Xem: 18612)

 Nhang bw

Sự nghiệp viết điếu văn của tôi bắt đầu từ Tạ Văn Thế, Thế trước đây học Văn khoa, công tác ở công ty mai táng quận, đã từng giữ đến chức trưởng phòng tổ chức nhân sự và thuộc diện quy hoạch cán bộ nòng cốt nhưng sau đợt bình chọn người đi tham quan, học tập kinh nghiệm ở nước ngoài, mặc dù ba năm liền là chiến sĩ thi đua nhưng vẫn bị loại nên Thế bất mãn và xin về nghỉ mất sức. Ai cũng đinh ninh rằng cái nền kinh tế ọp ẹp của gia đình Thế, sau khi Thế mất chức hết quyền không còn các khoản kính biếu của thiên hạ để thân nhân quá cố để của họ được an giấc ngàn thu ở khu A, khu B sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng, nhưng tất cả đều lầm lẫn, đều bàng hoàng trước tộc độ tăng trưởng kinh tế đến chóng mặt của gia đình Thế. Người đồn rằng Thế buôn thuốc phiện, kẻ cho Thế làm bạc giả hoặc tham gia một tổ chức tống tiền nào đó! Những tin vỉa hè này đều sai bét, còn nguyên nhân dẫn đến sự giàu có của Thế ấy là do Thế viết điếu văn.

Còn nhớ đó là một buổi sáng đẹp trời, tôi đang ôm nàng nằm ngủ thì có tiếng gõ cửa, tưởng là thằng chồng béo ị như con lợn của nàng mò đến, tôi mặc quần áo rồi ra mở cửa trong tư thế quyết tử cho tình yêu quyết sinh, song sự phòng thủ của tôi vô nghĩa, bởi trước mặt tôi không phải là gã mà là Thế, Thế tủm tỉm cười:

- Đang “làm ăn” hả? Thông cảm nhé, mình có việc gấp muốn nhờ ông.

- Gì vậy?

Tôi hỏi rồi ngáp mấy cái liền, Thế đi vào, đặt một chồng giấy lên bàn, bảo:

- Tôi muốn ông viết cấp tốc cho tôi cái điếu văn này, có thằng cha chủ thầu xây dựng vừa nghẻo vì tai nạn giao thông, thân nhân nhà nó đến thuê tôi viết cho hắn một cái điếu thật kêu nhưng ông già tôi đang ốm nặng ở viện. Yên tâm đi, công sá tính bằng “cây” cả đấy!

- Nhưng tôi đâu có viết điếu văn bao giờ?

Tôi nói và tốc ngược mắt nhìn Thế, Thế vỗ vai tôi:

- Tôi đã đọc mấy cái truyện ngắn của ông đăng trên báo, theo nhận định chủ quan của tôi, ông có thể viết được điếu văn mà viết thành công nữa là đằng khác. Viết điếu văn không cần phải tả cảnh, phân tích tâm lý, đối thoại, điều cơ bản là phải viết sao cho thật bi ai, thật lay động lòng người nhưng cũng thật uy nghiêm, hào khí. Thôi, ông cố gằng vì tình xóm giềng mà giúp tôi, nếu được, sau này tôi với ông sẽ hợp tác lâu dài với nhau.

Trước những lời năn nỉ, lại vừa nặng mùi kinh tế thị trường của Thế, tôi đành liều mạng gật đầu. Thế mừng lắm, chỉ vào đống giấy tờ:

- Đây là một số điếu văn để ông tham khảo, còn đây là tiểu sử của gã, ông nghiền thật kỹ rồi hãy viết. Và điều quan trọng không thể thiếu trong bài điếu văn, ông phải nhấn mạnh vai trò to lớn của gã trong cuộc thi hoa hậu váy ngắn Thành phố vừa qua mà hắn là người cai thầu, đại loại: “ông M là người tiên phong du nhập nền văn minh phương Tây vào Việt Nam...”

Nói xong Thế bước ra như ma đuổi, chắc Thế sợ tôi thay đổi! Tôi bị mớ giấy hớp mất hồn, liền thụp xuống ghế đọc, say sưa đến nỗi quên cả nàng.

- Em đến cơ quan đây.

- Tiếng nàng làm tôi thót mình, tôi đứng lên hôn nhẹ lên môi nàng rồi đưa nàng ra đến đầu cầu thang. Quay vào, tôi chúi mũi đọc gần hai chục cái điếu văn, toàn những bí thư, chủ tịch. Đọc xong cái cuối cùng, tôi thét lên:

- Ơ rê ka! Ơ rê ka!

Tôi đã tìm được con đường làm giàu của Thế. Viết điếu văn! Đúng, chỉ có viết điếu văn Thế mới có thể tót một bước lên ông chủ như vậy. Có ai ngờ một con người trông lù đù như Thế mà lại có tầm nhìn chiến lược sáng sủa đến thế. Có lẽ do Thế đúc rút được kinh nghiệm từ những năm còn công cán ở Công ty mái táng. Điều đầu tiên mà Thế nhận rõ như một cộng với một bằng hai; ấy là đất nước này thì nghĩa tử là nghĩa tận, cho dù người quá cố lúc còn sống có bị người thân khinh bỉ, xa lánh như xa lánh một kẻ bị đấu tố thời cải cách ruộng đất thì khi sang định cư ở thế giới bên kia, họ sẽ được tiễn đưa một cách trọng thể. Chức càng cao thì đám ma càng sang trọng, càng to lớn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Còn điều thứ hai, điều tối quan trọng mà Thế tiếp thị được, ấy là người chết có kèm điếu văn thường là hạng người quyền chức hoặc tiền vàng rủng rẻng. Một tỉnh, thành phố, một công ty, xí nghiệp nếu hàng năm không có bảng tổng kết thì làm sao thiên hạ có thể biết được thành tích? Huống hồ đây là những người đã từng vào sinh, ra tử, đã từng giữ chức nọ, chức kia, đã từng cầm trong tay tỷ tỷ đồng. Oanh liệt như vậy mà khi nhắm mắt, xuôi tay nếu không có điếu văn - cái bảng tổng kết cuộc đời tối quan trọng thì nào ai có thể biết ông hay bà đã từng vang bóng một thời, thậm chí vang bóng ngay từ khi chui ra khỏi “cái ấy” của mẹ đến khi chui vào lòng đất? Vậy thì việc quẳng ra bạc triệu để có được bảng thành tích cuộc đời vẻ vang cho gia quyến, sao lại có thể không xẩy ra như một quy luật tự nhiên? Và Tạ Văn Thế đã liên tục phát triển bởi biết đi trước thời đại cũng là một điều hiển nhiên quá đi chứ!

“Làm ăn lớn! Làm ăn lớn!”. Tôi hét lên như vừa tìm ra được nguyên tố hóa học mới có thể bê nguyên một giải Nôben. Sự phấn kích trong tôi đã biến thành hành động cụ thể, tôi say sưa viết, cẩn trọng, tỷ mẫn cứ như viết diễn văn nhận một chức vụ béo bở nào đó. Và thành công đã đến, vượt quá sức tưởng tượng của tôi. Khi bài điếu văn của tôi vừa dứt thì tiếng lụt xụt rộ lên như tằm ăn lá. Tất cả những người đưa đám, từ các quan chức, các nhà doanh nghiệp cho đến tôi đều hoe mắt, đều cảm thấy thương xót, đau đớn quằn quại như đẻ con so, như chính người thân của mình đang nằm kia. Sau cú khai bút vang dội này, uy tín của tôi và Thế lên như diều gặp gió, đơn đặt hàng ngày càng gia tăng và chính sự thịnh đạt này mà Thế đi đến quyết định táo bạo, thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn điếu văn với tên giao dịch: “ Điva Company”. Thế bảo: “ở Việt Nam và trên thế giới chưa có một Công ty chuyên nghiệp viết điếu văn nào, Điva Company ra đời sẽ gây một tiếng vang lớn, hơn nữa Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận rồi, việc kêu gọi vốn đầu tư và thành lập các chi nhánh trên toàn cầu là trong tầm tay”. Một hội đồng quản trị đã gấp rút được thành lập gồm: một Giáo sư, hai Tiến sĩ, Thế và tôi. Bài toán khó giải nhất bây giờ là giấy phép thành lập Công ty. Hội đồng Quản trị sau bảy phiên họp, cuối cùng quyết định giao cho tôi đi tìm nghiệm số, bởi tôi có nàng. Nàng là thiên đàng của đời tôi, tôi yêu nàng đến mức bỏ cả gia đình và thành đô Sài Gòn, nơi tôi đã từng sinh ra và lớn lên; nơi tôi đã từng tuyên cáo rằng, có chết cũng phải chết ở Sài Gòn. Nhưng cuộc tình say đắm của tôi và nàng chỉ tồn tại được ba tháng khi mà bố nàng hết nhiệm kỳ về nước. Lý do: Thời quá khứ ông vượt Trường Sơn đi cứu nước, còn bố tôi một giáo sư ăn lương Ngụy quyền. Thời hiện tại, ông mỗi bước đều có xe đưa đón, còn bố tôi phải đưa đón thiên hạ (bố tôi đạp xích lô). Để cứu mạng sống của tôi, nàng đã phải gạt nước mắt về làm dâu nhà ông Bộ trưởng với một lời thề: “ Dù không lấy được anh nhưng nhất định em sẽ có con với anh”.

Vào một ngày không lấy gì đẹp trời cho lắm, tôi nói với nàng về ý định nhờ bố nàng xin hộ giấy phép, nàng tròn mắt tưởng là tôi đùa, nhưng sau khi nghe tôi giảng giải về tầm nhìn chiến lược của Điva Company thì nàng hứa sẽ làm hết sức mình để chứng minh tình yêu đích thực mà nàng luôn giành cho tôi. Đúng cái lúc đang tràn đầy hy vọng thì một tai họa đã xảy ra với chúng tôi. Tôi không thể nào quên được cái đêm chết tiệt ấy, đêm ấy trời như một gã dở hơi, khi thì mưa ầm ầm như thác lũ, khi thì nóng đến ngạt thở, tôi đang “kéo gỗ” thì Thế đến lôi đi với nhiệm vụ : “Ông phải hoàn thành gấp một điếu văn cho một nhân vật quan trọng, bài điếu văn này sẽ là giấy khai sinh hoặc khai tử cho Điva Company”.

Tôi đến nơi thì đã thấy ba người đang chầu chực sẵn quanh chiếc bàn chất đầy giấy tờ; một nhà kiến trúc sư, một nhà kinh tế, một nhà tâm lý học - họ là những người mà Thế thuê đến để cố vấn cho tôi, chả là ông “quan trọng” đã từng làm nghề xây dựng, đã từng làm lãnh đạo kinh tế, đã từng viết một cuốn sách tâm lý tái bản năm lần bằng vốn ngân sách. Thế giới thiệu xong, ra về, tôi bắt đầu chất vấn, khởi đầu từ nhà kiến trúc sư:

- Xin ngài cho biết, ngài sẽ nói gì trong bài điếu văn này?

Ông kiến trúc sư có mái tóc muối tiêu, gãi tai nhìn vào trang giấy chi chít chữ, rõ ràng ông rất lúng túng. Tôi nói với ông thời gian quá eo hẹp, ông có thể tóm tắt ý chính, ông gật đầu:

- Xin lỗi, anh có thể cho tôi biết, bài điếu văn này anh dự định viết bao nhiêu trang?

- Dao động trong khoảng từ năm đến mươi trang đánh máy, tùy theo công trạng nhiều hay ít.

Ông kiến trúc sư rầu rĩ:

- Nếu chỉ căn cứ vào thành tích, tôi chẳng có gì để nói, ngày xưa, ông ấy thiết kế năm công trình thì ba cái chưa ráo vữa đã sập, một cái phải nhờ chuyên gia nước ngoài xử lý hộ mới thoát chết, thiệt hại ước tính cả trăm tỷ.

- Cố nhiên - Tôi nói - không thể đưa những thành tích bất hảo này vào được, ngài thử xem có cái gì đáng nói không. Chẳng lẽ hơn mười năm công tác trong ngành xây dựng, ông ấy không làm được một chút trò trống nào sao?

Ông kiến trúc sư lắc đầu, đẩy tập tài liệu cùng mấy trang giấy đầy chữ về phía tôi, ông đầu hàng, bảo tôi muốn xào xáo thế nào thì xào. Đành phải dùng nghệ thuật vậy! Tôi gật đầu ra hiệu cho ông có thể ra về được. Quay sang nhà kinh tế, tôi bảo:

- Còn ngài?

Có lẽ mọi cái ông đã chuẩn bị từ trước nên không cần phải suy nghĩ, ông nổ luôn một tràng:

- Hãy coi ông ấy như một nhà cải cách kinh tế. Hai lần nhập mười lăm tấn rác thải công nghiệp độc hại, ngài đều thành công. Ngài đã phát hiện ra ý tưởng độc đáo, việc lai tạo giữa cây đay và cây chuối, hẳn các vị đã biết một cây chuối có số bẹ nhiều gấp ba mươi lần cây đay. Nếu sự lai tạo này thành công, ngành công nghiệp dệt của chúng ta sẽ mở ra một chân trời mới.

Nói xong, ông nở một nụ cười, rồi khoanh tay chờ đợi.

- Xin cám ơn ngài! Công việc của ngài đã xong, chúng tôi sẽ thanh toán hậu hĩ cho ngài.

Tôi nói, nhà kinh tế hân hoan ra về. Trong phòng chỉ còn lại tôi và nhà tâm lý, tôi hiểu rằng đối với các nhà tâm lý, muốn khai thác được điều mình cần, hiển nhiên phải đánh trúng vào tâm lý của họ. Họ thích được đề cao, tất nhiên, nhưng không được sống sượng quá mức.

- Thưa ngài! Một đất nước thiếu các nhà tâm học sẽ ra sao? Đó là một thảm họa. Tâm lý học, phân tâm học cần phải đưa vào giảng dạy trong các nhà trường như một môn học bắt buộc ngay từ cấp tiểu học. Một con người không có sự biểu cảm về mặt tâm lý sẽ chỉ là một con vật, thậm chí thua cả loài vật, vì loài vật cũng có đời sống tâm lý riêng của nó.

Tôi tin tưởng một cách tuyệt đối, với những lời đầy nhiệt huyết tâm lý này, hẳn mũi nhà tâm lý sẽ nở như bỏng ngô, nhưng không, khi tôi vừa dứt lời, nhà tâm lý hét vào mặt tôi:

- Tất cả chúng ta đều là một lũ bịp bợm. Anh có biết cuốn sách tâm lý đó do ai viết không? Chính thằng tôi là tác giả đấy, tôi đã vác đến hàng chục nhà xuất bản nhưng chẳng một nơi nào nhận in, xin tài trợ cũng không được một xu, trong khi đó người ta sẵn sàng quẳng bạc tỷ vào công trình vô bổ. Vợ tôi nằm cấp cứu, cần phải có năm triệu để mổ, tôi đã bán rẻ danh dự cho hắn để cứu lấy mạng sống của vợ tôi. Bao năm qua tôi sống trong dằn vặt, đau khổ, tưởng trả giá như vậy đã quá đủ, nào ngờ hôm nay tôi lại một lần nữa bị đẩy vào nơi bẩn thỉu này. Tôi tưởng các anh là nhà khoa học đang nghiên cứu công trình gì đó, cần sự giúp đỡ của tôi, nhưng tôi đã bị lừa.

Nhà tâm lý càng nói càng giận dữ, khuôn mặt ông giật giật liên tục. Ông mở cặp lấy ra một xấp tiền ứng trước ném vào mặt tôi.
Mẹ kiếp! Thiên tài mà không có ăn rồi cũng toi thôi ngài ạ! Tôi tiễn chân nhà tâm lý bằng một lời nguyền rủa. Quay vào bàn, tôi đọc lướt qua đống giấy và mấy bản viết tay của nhà kiến trúc sư rồi bắt đầu viết. Cơn tức giận với nhà tâm lý làm tôi mở đầu hết sức khó khăn, phải mất ba mươi phút sau, ngòi bút của tôi mới bắt đầu sục sạo trên trang giấy. Tôi viết miệt mài đến năm giờ sáng thì xong. Đôi mắt nặng chịch như đeo đá, tôi gục xuống bàn thiếp đi.

Chín giờ, Thế đến trên một chiếc xe hơi cá mập, điểm tâm xong tôi và Thế lên xe.
Chiếc “cá mập” chở chúng tôi tới nơi thì đã thấy hàng ngàn người đang tụ tập chỉnh tề ở nghĩa trang giành cho những người đủ tiêu chuẩn. Khi chiếc linh cữu đỏ chói như tiết gà được từ từ đưa ra khỏi xe tang thì tiếng khóc lại rào rào rộ lên. Một người khóc rất thảm thiết làm ai cũng mủi lòng, tôi ngó nhìn và nhận ra bà Hạnh vẫn bán xôi xéo ở chân cầu thang khu tập thể tôi tá túc, tôi ngạc nhiên hỏi Thế: “Bà Hạnh cũng có họ hàng với ông này cơ à?”. Thế bật cười khanh khách, khóc thuê, khóc thuê. Tôi đỏ mặt trước câu hỏi ngu ngốc của mình. Một người đàn ông phương phi béo tốt rẽ đám đông đi đến trước huyệt. Bố nàng!
Tôi suýt bật thành tiếng. Thế bấm vào tay tôi, nói nhỏ:

- Không hiểu sao tôi có linh cảm bài điếu văn này sẽ là điếu văn cho Điva Company?

Nghĩ là Thế nói về chất lượng, tuy mặt phừng phừng vì tự ái nhưng tôi cũng cố kiềm chế mà rằng:

- Ông yên tâm, tôi đã nhờ một giáo sư văn học kiêm chuyên gia tử vi xem lại lá số của tôi rồi, có cả sao văn chương, văn khúc nữa cơ đấy!

Nói rồi tôi hất đầu về phía trước, muốn bảo Thế: “Hãy đợi đấy”. Bố nàng lấy khăn mùi xoa chấm chấm mắt rồi đeo kính, cất giọng bi ai:

- Thưa toàn thể các đồng chí! Hôm nay chúng ta vô cùng sung sướng và tự hào được đón tiếp đồng chí...

Tôi và Thế đứng chết lặng. Trời ơi! Vì quá mệt lại quá vội nên tôi đã đưa nhầm bài diễn văn đón cấp trên của một cơ quan nọ...

VŨ ĐẢM

                                                     

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1094)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1164)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1845)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5880)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5851)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13187)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30087)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81228)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 497)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối