- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,326,284

NGUYỄN KIM NHÀN, NGƯỜI TÙ CHƯA TRỞ VỀ

14 Tháng Năm 20159:34 CH(Xem: 11520)

 

 

NguyenKimNh
Nguyễn Kim Nhàn

 

 

Trong số mười người chúng tôi bị bắt bởi chiến dịch khủng bố mùa thu tháng 9 năm 2008 thì Ông Nguyễn Kim Nhàn là người duy nhất hiện vẫn đang còn bị tù đày. Tôi thường gọi những người dân oan như ông, như chị Trần Ngọc Anh, chị Phạm Thị Lộc, vợ chồng chị Cấn Thị Thêu... là “dân oan hóa dân chủ” vì họ đã không chỉ dừng lại ở việc đòi quyền lợi chính đáng cho bản thân và gia đình mình, mà đã tham gia vào các công việc, các phong trào đấu tranh vì Nhân quyền, Tự do và Dân chủ.

 

 

Khi ra tù vào tháng 9 năm 2012, tôi đã sốc và rất buồn khi biết ông Nhàn bị bắt trở lại. Lần thứ nhất ông bị kết án 2 năm tù giam và 3 năm quản chế. Ra tù được vài tháng ông bị bắt trở lại vào tháng 6 năm 2011 và bị kết án 5 năm 6 tháng tù giam cộng thêm 4 năm quản chế. Cả hai lần ông đều bị cáo buộc điều 88: “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, một thứ Nhà nước không có thật theo chính lời thừa nhận của ông tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 10 năm 2013 rằng “đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?”. Nói cho bông phèng một chút thì ông Nguyễn Kim Nhàn, 66 tuổi, hơn hẳn chúng tôi về mặt “thành tích” đi tù vì tội “chống thứ không có thật.”.

 

Cách đối xử của trại giam đối với ông cũng ngày một khắc nghiệt hơn.

 

Lần tù đầu tiên của ông Nguyễn Kim Nhàn, bà Ngô Thị Lộc đã được thăm gặp chồng với tư cách người vợ. Lần tù thứ hai ông bị giam tại Trại giam số 6 Thanh Chương, Nghệ An và bà Lộc lúc đầu vẫn được gặp chồng hàng tháng. Bà đã một thân một mình trong tình trạng đau ốm để đi thăm chồng. Tuy nhiên, kể từ tháng 9 năm 2013 đến nay, trại giam số 6 đã không cho bà Lộc gặp mặt ông Nhàn với lý do “hai người lấy nhau nhưng không có giấy chứng nhận kết hôn”. Khi bà Lộc thắc mắc “tại sao những tháng trước tôi vẫn được gặp mặt ông ấy, các ông có hỏi giấy kết hôn đâu” thì cán bộ trại giam trả lời: “Vì tên bà không có trong cuốn sổ thăm gặp”. Họ còn “tốt bụng” gợi ý cho bà rằng muốn tiếp tục gặp chồng, bà phải có giấy ủy quyền từ người có quan hệ trực diện với ông Nhàn. Sau khi được người con đẻ ông Nhàn viết giấy ủy quyền theo như yêu cầu của trại giam, thế nhưng khi bà Lộc đến trại để thăm chồng thì phía trại giam vẫn từ chối không cho bà gặp với lý do “giấy ủy quyền không đúng đối tượng” (!?).

 

Từ đó, bà vẫn bền bỉ lặn lội đến trại giam trong tình trạng sức khỏe suy yếu (bà mới qua một cơn phẫu thuật cách đây vài tháng) với hy vọng mong manh “chắc lần này sẽ được gặp”. Nhưng hết lần này tới lần khác, bà đều thất bại trở về.

 

Chặng đường từ nhà bà Lộc tới Trại giam số 6 Thanh Chương, Nghệ An ước chừng 450 cây số. Bà phải rời khỏi nhà lúc 4 giờ sáng để kịp chuyến xe sớm và hy vọng sẽ “cập bến” trại giam trước 4 giờ chiều cùng ngày. Qua giờ ấy, người ta sẽ không tiếp bà với lý do “hết giờ làm việc”. Làm các thủ tục gửi quà cho ông Nhàn xong, bà Lộc tiếp tục ngồi chờ xe khách để về Hà Nội, rồi lại từ Hà Nội bắt xe về Bắc Giang. Từ bến đỗ Bắc Giang, bà lại bắt đầu chặng đường bằng xe Honda và về tới nhà lúc tờ mờ sáng hôm sau. Tính sơ sơ chặng đường bà Lộc phải đi là 900 cây số với ngót nghét 24 tiếng đồng hồ. Cứ thế, hết tháng này qua tháng khác, mùa đông cũng như mùa hè, nắng cũng như mưa, hết lần trước tới lần sau đều không lần nào được gặp dù chỉ là 5 phút đồng hồ. Mà có phải nói đi là đi ngay được đâu, phải chuẩn bị mua sắm, quà cáp  lỉnh kỉnh từ vài hôm trước. Mua quà cho người tù không dễ như mua quà cho người ta ở ngoài. Có những thứ rất bình thường nhưng nếu không muốn cho người tù nhận, cai tù chỉ cần phán một câu xanh rờn “thứ này là vật cấm”, coi như món đồ đen đủi bị hất lại, dù đó chỉ là một chiếc kẹp tóc, hay chiếc quần xoọc lửng có  dải rút.

 

 

Trong lần vào thăm (nhưng không được gặp) mới đây nhất hôm 7 tháng 5, 2015 bà Lộc cho biết cán bộ Trại giam số 6 chỉ cho bà gửi thuốc men và trái cây vào cho ông Nhàn. Những thứ còn lại như đồ dùng và thức ăn nấu chín đều phải mang về. Dù rất uất ức vì sự vô lý ấy, bà vẫn phải kiềm chế và bình tĩnh hỏi han cớ sự, cố gắng nài nỉ người cai tù chuyển cho ông Nhàn hộp thịt bà kho sẵn. Lần nào cũng người cai tù ấy, không đeo cấp số hiệu, không xưng tên với thái độ rất trịch thượng, cáu kỉnh của kẻ bề trên, nói với bà Lộc: “khi nào anh Nhàn bớt căng thẳng thì mới cho nhận thịt”. Bà Lộc hỏi: “Có chuyện gì xảy ra với ông Nhàn? Tại sao không cho ông ấy nhận đồ tiếp tế như mọi khi? Ông ấy có bị làm sao, hay làm điều gì sai cũng phải cho chúng tôi biết chứ”. Người cai tù đáp: “Sai trái gì chị khắc biết”.

 

Ô hay! Gần hai năm không cho gặp mặt, không cho gửi thư, không cho gọi điện, không một cán bộ trại giam nào chịu mở miệng trả lời về tình trạng của ông Nhàn thì “khắc biết” bằng cách nào? Câu thông báo: “khi nào anh Nhàn bớt căng thẳng thì mới cho nhận thịt” của cai tù làm người ta liên tưởng tới phát minh rùng rợn của người Trung Hoa thời trung cổ: để nước nhỏ giọt lên đầu người tù. Cách tra tấn ấy không đau, nhưng chết từ từ. Không cho nhận thịt hay không được ăn thịt cũng không đau, không chết nhưng cũng có thể vì suy kiệt mà chết. Chắc hẳn phía trại giam hy vọng sáng kiến “cấm vận” như thế sẽ hạ gục niềm kiêu hãnh của một tù nhân lương tâm. Chả lẽ, trí tuệ và lòng tự trọng của một tên cai tù chỉ được đo lường bằng miếng thịt?

 

Khi bà Lộc nói thêm vài câu thì người cai tù răn đe: “Nếu còn nói nữa thì thuốc men và trái cây cũng khỏi nhận”. Sau đó tên cai tù tiếp tục tràng giang đại hải những câu kiểu như ban ơn: chị không biết điều; chị phải biết chị không thuộc đối tượng được thăm gặp hoặc gửi quà; chị chả có tư cách gì để được gặp anh ta; tôi tiếp chị thế này là xuất phát từ tình cảm của Trại đối với chị; chúng tôi rất rộng lượng và nhân đạo đã chuyển giúp quà vào cho chị; chị phải biết anh Nhàn là thành phần được ưu ái lắm nên mới được nhận quà như thế; chúng tôi chỉ thực hiện đúng theo luật pháp; luật pháp vốn quy định như thế, không thể làm khác được v.v...

 

Bà Lộc tối tăm mặt mày với hàng loạt những câu gắt gỏng kiểu ban ơn của người cai tù quen mặt nhưng chưa một lần biết tên. Và bất lực trở về trong uất nghẹn.

 

Có lẽ từ giờ tới khi ông Nhàn hết án bà Lộc vẫn sẽ kiên trì lặn lội vượt gần ngàn cây số cả đi lẫn về chỉ với hy vọng gửi cho ông chút quà mà không thứ nào... bị loại. Đấy là bà không bao giờ cho phép mình nghĩ (xấu) rằng: người cai tù chỉ nhận quà lấy lệ rồi chẳng chuyển cho ông Nhàn. Cai tù giàu thế, ăn chặn quà cáp của tù làm gì cho nó tổn phước.

 

Thời cộng sản, các quan to quan bé, quan gái quan trai đều có cái tài đẻ ra luật. Chả nghén ngẩm thai sản gì cũng đẻ được tuốt. Phọt ra đằng miệng một cái là đẻ được cả đống luật (rừng) trong tức thì, nhanh đến chóng mặt. Hy vọng trong lần tới, người cai tù nào đó bỗng dưng đẻ được cái luật “chiếu cố” để bà Lộc bất thình lình được gặp mặt chồng một lần dù chỉ trong ít phút, chứ gần hai năm bặt vô âm tín bà lo lắng lắm. Lá thư hồi mùa hè năm 2013 cứ ám ảnh bà. Thư ấy ông Nhàn viết, sau lần bị đánh hộc máu mồm, ông thấy trong người yếu hẳn, hay bị chướng bụng ợ chua.

 

Từ đó, bà không biết tình trạng chồng bà, ông Nguyễn Kim Nhàn, trong tù ra sao nữa.


Phạm Thanh Nghiên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2015.

                                                                                    

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20192:35 CH(Xem: 3559)
Việt Nam cổ thời chỉ được ghi phụ chép trong cổ sử Trung Hoa như các xứ man di phương Nam rồi Tây Nam từng đến xin cống lễ, hay liên quan đến chiến công xâm lược, thực và giá lẫn lộn, của các triều đại—dưới các chiêu bài giáo hóa, phép thờ nước lớn, và/hay chinh phạt. Lịch sử thành văn của Việt Nam thỉ chỉ xuất hiện từ đời Trần (10[20]/1/1226-23/3/1400)—tức Đại Việt Sử Ký (1272) của Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322)—nhưng đã tuyệt bản, chỉ còn những mảnh vụn sao chép và sửa đổi theo ý thích của các dòng họ cai trị mà Phó bảng Phan Chu Trinh từng chỉ trích là “hủ Nho” [ultra conservative confucianist].
19 Tháng Bảy 201911:12 CH(Xem: 346)
Tôi cố nén những giọt nước mắt…Đó là ngôi nhà hai tầng nằm ngã ba phố chợ. Trước nhà có hai cây Phượng Vĩ già cỗi, dưới cội cây rêu xanh đặt dăm ba chiếc bàn đón khách uống ly đá chanh ngồi tránh cái oi bức trưa hè, hoặc nhâm nhi ly cà phê chiều tàn mà ngắm nghía cái xô bồ cuộc sống. Lan can lầu treo mươi chậu Lan. Nơi chúng tôi thường tụ tập với nhau, cùng học hành, cùng vui chơi và cả những giận hờn vu vơ tuổi mới lớn.
18 Tháng Bảy 201912:24 SA(Xem: 801)
Thật ra thì đầy đủ là phải thế này: Giang Đình Tinh Anh, con trai Giáo sư Kê, cháu nội ông cố bí thư tỉnh, cháu ngoại ông cố bộ trưởng nông lâm. Thế nên Giang Đình Tinh Anh là hậu duệ “xịn”. Chứ không phải hậu duệ “đểu”, không được chính danh lắm như tay cựu Viện trưởng hàn lâm súc sản, đương kim thượng thư Bộ Dục- Văn- Giao, Hầu Văn Hạ, à quên, nhịu: Hùng Văn Hạ!
17 Tháng Bảy 201911:55 CH(Xem: 468)
Em còn có cái lớn hơn / cây kim khâu mỗi bận sờn áo đông / gió dùi thủng tẹt mênh mông / lòi sau lưng cánh hoang đồng trắng phêu /
16 Tháng Bảy 201911:23 CH(Xem: 550)
Lần đầu được đọc tập ký hoàn chỉnh của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, một tác giả người Việt hải ngoại, tự nhiên trong đầu tôi nảy ra sự so sánh với hàng ngàn vạn bài ký “mậu dịch” của hơn tám trăm tờ báo dưới sự chăn dắt của Ban Tuyên giáo Trung ương. Hóa ra, đó toàn là những sản phẩm đồng phục được chế tác bởi những tác giả, qua sự đào luyện của hệ thống trường ốc, trong đó, cá tính đã được mài nhẵn, tư tưởng được kiểm soát chặt chẽ, mọi phản biện xã hội đều bị giới hạn trong phạm vi cho phép, vì thế, cái gọi là ký ấy chỉ là những văn bản véo von ca ngợi, tự sướng của những cây bút thủ dâm chính trị, tự huyễn hoặc mình. Loại báo chí ấy chẳng những không có lợi, mà trái lại, rất có hại, bởi nó thực chất là dối trá, lừa phỉnh nhân quần.
16 Tháng Bảy 201910:58 CH(Xem: 476)
Ấm lạnh men rượu gạo / lội ruộng đồng sinh ra lũ trẻ / chúng nó giờ lao xe vun vút về thành phố / ếch nhái luôn quạnh hiu /
13 Tháng Bảy 20199:25 CH(Xem: 566)
Bọn con trẻ đùa giỡn rần rần khắp vỉa hè. Chúng vây quanh một ông lão kỳ dị ăn mặc rách rưới te tua, đầu quấn khăn chéo trước trán, tay bị tay gậy. Bọn chúng hò la. - Ông già điên, ông già gân nhưng hiền lắm!
13 Tháng Bảy 20199:02 CH(Xem: 467)
tôi thấy, đó là cái bóng của chính mình / có thể, nó đã già nua và đi lang thang trong một thành phố ở phương bắc / chiều câm xám cùng với lũ cô hồn các đảng thở ra bóng tối / như thế, với trào lưu sự bung tràn ảo tưởng âm mưu xóa nhòa những gương mặt đối kháng / hàng trụ điện vỉa hè không con mắt /
13 Tháng Bảy 20198:57 CH(Xem: 521)
Saigon, tháng 8 Năm 1954. Nhớ lại những thời gian mới vào Nam, cha tôi được chuyển ra làm việc ở Đà Nẵng, cả gia đình phải đi theo trừ tôi ở lại Sài Gòn theo học trường Chu văn An. Trong những ngày đầu, chưa có chỗ trọ, tôi đạp xe đến trại học sinh di cư Phú Thọ, nhưng trại đã đóng cửa, nhìn vào ngổn ngang rác rưởi. Tôi tìm đến nhà Hát Lớn thành phố, lúc đó vẫn còn một số người di cư vào muộn nên chưa giải tỏa.
11 Tháng Bảy 201911:38 CH(Xem: 1217)
Nhiều năm qua, Thông không về quê. Chỉ có đận này, đưa tiễn đứa con gái yêu dại dột vắn số, ông mới có dịp thong thả thăm thú họ hàng xa, gặp gỡ đôi người bạn cũ thời ngất ngưởng lưng trâu hò hét khản cổ. Những lúc đó, ông xuất hiện như một ông Thiện khổng lồ ngoài chùa, nén nỗi đau riêng bày tỏ mối quan tâm đến sinh hoạt mọi mặt của cố hương- dĩ nhiên là đặc biệt chăm chú tới lĩnh vực văn hóa làng xã, do thói quen nghề nghiệp...