- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

GIAO THỪA CUỐI CÙNG

06 Tháng Ba 20152:31 SA(Xem: 59578)

GIAO THUA -photo NGUYEN LONG
Giao Thừa- photo NGUYEN LONG


Tôi là một quả pháo. Trước đây tôi là con người như bao con người khác, mắt mũi miệng, tay chân, cân đối, bình thường và đầy đủ chức năng. Đó là một bí mật, và tôi là người duy nhất nắm giữ bí mật này. Có lẽ chẳng ai dại lại đi tin một quả pháo tầm thường, le lói cháy sáng trên nền trời đêm giao thừa mang ký ức của con người, có quá khứ, thậm chí có cái thứ, mà loài người vẫn gọi là kiếp trước.

Bây giờ, tôi đã không thể đối thoại được với họ, loài người, đồng loại trước đây của tôi, mặc dù tôi vẫn còn nghe, và hiểu tiếng người, những tràng cười sảng khoái, sự phấn khích, tiếng xì xầm bàn tán đầy hưng phấn, … Mọi con mắt đổ dồn về một điểm trên bầu trời, từng chùm pháo bông, muôn hình vạn dạng, lung linh khoe vẻ đẹp của mình một cách kiều diễm. Một tiếng đùng đoàng rơi tỏm trên không, một tiếng khác nối tiếp. Liên tục, phải đến nửa tiếng, bốn mươi lăm phút. Cả những băng pháo dài, tí tách nổ, nhịp điệu, hàng lối bài bản. Tôi lắng nghe. Có khi chúng khiến tôi giật mình. Tôi sợ run người, đếm ngược thời gian. Phút chốc lát nữa thôi, số phận tôi cũng như những quả pháo kia.

Cậu bé vẫn cầm tôi trên tay và ngắm nghía. Chẳng hiểu sao, cậu ta lắc đầu, phàn nàn. Có lẽ tôi đã không thật làm hài lòng cậu ta bởi vẻ ngoài quá sù sì, quá thô ráp và sai lệch kích cỡ, khuôn mẫu. Cậu ta đắn đo một vài phút rồi chạy vèo qua đường, nơi một cậu bé khác đang ôm khư khư một túi ni-lông màu đen. Cậu bé trông khá chậm chạp. Lúc không có pháo nổ, tôi chẳng trông thấy gì, nên cậu ta hiện ra trước tôi thoắt hiện thoắt ẩn như ma vậy. Chính xác thì cậu ta lùn và béo núc ních, chứ không linh hoạt như những cậu bé khác mà tôi thấy tối hôm nay.

Cậu chủ của tôi gợi ý đem đổi tôi lấy tiền. Cái này, tiền, thì tôi không xa lạ. Cậu ta chuyền tôi qua tay cậu bé béo núc ních một cách nhanh chóng. Tôi nghe tiếng sột soạt của tờ giấy phát ra mà chẳng biết đích thị nó mang mệnh giá nào. Có lẽ đó là một vài tờ tiền lẻ, nhăn nheo. Ha ha, tôi quá rẻ. Nói rồi, người chủ mới của tôi vứt tôi vào cái túi ni- lông màu đen ban nãy. Thì ra bên trong cái túi này chỉ có pháo là pháo, chẳng còn thứ gì khác.

Cậu ta nhát gan, chẳng dám đem pháo ra đốt như những cậu bé kia. Và thái độ hưởng ứng trước mỗi quả pháo được đốt lên cũng thế, hời hợt và trễ nãi.

Tôi cứ nằm đợi mãi, trong túi ni- lông màu đen đến phát chán, vừa ngột ngạt, vừa oi bức, vừà tối, vừa buồn. Chẳng thể nào tả nỗi tâm trạng của tôi lúc này. Không cựa quậy. Không nhúc nhích. Tôi nói thật, thà rằng cậu ta chạy lăng xăng đi qua đi lại hay đốt quách tôi cho xong.

Cậu ta nhiều đồ chơi quá, nào là xe tăng và rô bốt, hai ba chục món như thế cơ mà. Tiếng xe tăng- đồ chơi ro ro và hú còi như thật. Có thứ còn phát ra ánh sáng, nhặng xị như xe cứu thương.

Cứ tưởng cậu ta quên khuấy đi sự tồn tại của chúng tôi, nào ngờ, cậu ta cầm cái bao màu đen lên, túm chặt đầu, đưa ai đó, một cậu bé khác. Tôi phát điên lên được, nhoắng nhoằng tôi đã bị đem đi trao đổi ba lần. Chúng tôi, những quả pháo kém xa nô lệ.

Nhưng chùm pháo hoa vẫn tiếp tục được bắn lên bầu trời cùng tiếng trầm trồ, la ó tán thưởng của đám đông, rặt trẻ con là trẻ con. Những đồng loại của tôi bị hay được bắn lên bầu trời yên tịnh, lúc le lói, lúc rực sáng, lúc quay tít, lúc nằm trốn biệt trong nòng pháo thâm u. Chẳng biết ai xấu số hơn ai. Nhưng nếu là tôi, tôi vẫn ước muốn kết thúc cuộc đời của mình một cách nào đó rực rỡ và thăng hoa. Cầu mong cho tôi đừng mang tật nguyền của một viên pháo thối vô dụng. Chí ít tôi cũng khiến loài người sung sướng, ngất ngây một vài giây phút.

Những quả pháo khác và tôi không có chung ngôn ngữ, à không, tôi lú lẩn quá, chính xác, tôi là một quả pháo đặc biệt so với họ. Vì cái sự đặc biệt này nên tôi thấy mọi thứ thật phiền hà và trái khoáy. Tôi hẵng còn cảm nhận được tiết trời lạnh lẽo, màu sắc của đêm tối tiếng người nói chuyện, tiếng bước chân, tiếng xe máy tuýt còi, tiếng kẻng xe rác- bằng cơ quan cảm giác của một con người.

Cậu bé này có rất nhiều loại pháo khác nhau, bọn trẻ trao đổi khiến tôi choáng. Tôi chỉ cố gắng nhớ tên của mình- pháo lựu đạn. Không biết lúc nào mới đến lượt tôi, tôi nằm co ro, liếc nhìn đồng loại. Chẳng đứa nào giống tôi cả, vỏ bọc bên ngoài của họ chi chít những con chữ tượng hình, những con số, cho đến hạn sử dụng. Tôi thì không. Bộ quần áo của con người đã tùa lại thành như thế này đây, không chữ, không số, không hạn sử dụng.

Tôi lặp lại tên gọi của mình, pháo lựu đạn. Hy vọng tôi không đến nỗi xấu xí như quả lựu đạn. Trong sân chơi này, pháo lựu đạn vẫn là món đồ chơi hợp với bọn trẻ con của loài người. Thôi đành chấp nhận, loài người đã chế tác ra, họ ưng gọi bằng gì chả được.

Tối nay, chắc chắcn chẳng có đứa nào trong chúng tôi thoát khỏi tầm tay của con người, có điều đợi lâu quá, tôi đâm ra hồi hộp. Kho còn làm người, tôi đã từng chứng kiến tận mắt cảnh bọn trẻ tống những quả pháo vào cái ống nhựa, để cuống rốn (tức là ngòi) thò ra ngoài và châm lửa đốt. Đến cả khoảnh khắc bọn trẻ ù chạy ra xa, , đợi chờ, tán thưởng.

Đợi mãi vẫn chưa đến phiên mình lên đoạn đầu đài, tôi lăn ra ngủ. Những giấc mơ của con người, vần vũ, quay cuồng, đánh thức tôi.

***

Tôi tỉnh dậy thì đã Mồng Một tết âm lịch.

Ô hay, hóa ra tôi còn sống. Buồn cười thật.

Tôi lăn lóc trên vệ đường. May mắn thay, không ai ngó ngàng cả.

Mặt trời nóng ran. Những đám mây trắng, cuộn như những con cừu non tơ mập mạp. Mình mẩy tôi nhức mỏi. Cảm thấy mình đang mất dần mọi giác quan, không buồn kháng cự, không buồn vẫy vùng, trườn, bò.

Một quả pháo lựu đạn mang hồi ức của một con người- tôi lặng thinh, cố nhớ lại hành trình của mình, cuộc đời của một con người cho đến cuộc đời một quả pháo. Đó là những ngày tháng tôi đã có từng bố, có mẹ, có một người em gái. Rồi cả những người bạn xã giao, có khi chỉ là tụ tập cho vui. Rồi cả những mối tình ngọt ngào nhưng đầy đau khổ. Những ngả tư, nhưng rào cản, barie trên lối đi vào thành phố. Những cuốn tiểu thuyết và những bài thơ của Tagore tôi thuộc lòng. Giờ này, tất cả đã trở nên xa lạ, chẳng ruột rà.

Tối hôm qua, giận họ, tôi đã bỏ vào khách sạn, một mình. Bỏ lại tất cả những sự trách móc, hờn dỗi quen thuộc. Rồi ma quỷ xui khiến thế nào, tôi bước ra phố đón giao thừa, ngắm pháo bông cho giống mọi người, chó giống truyền thống. Cũng tại đám đông hôm qua quá phấn khích, hơn những gì họ nhận được. Thế mà bước ra phố, tôi lại chẳng hùa vào đám đông reo hò, mà chỉ đi lang thang quanh khu chợ nghèo và vắng vẻ, để ngắm nhìn bọn trẻ chơi pháo. Tôi còn nhớ rõ, âm thanh phát ra trung tâm thị trấn áp đảo khu chợ ẩm ướt này. Những loạt đạn được bắn lên trời cũng thế, hoành tráng, vồn vã, ào ạt và sáng rực nên trời.

Tôi tha thẩn bước đi giữa khu chợ ẩm ướt.

Những quả pháo được bắn rải rác, những hồi rin rít. Hình như tôi mặc chiếc váy xanh, tôi chỉ nhớ mang máng, một đôi dép cao gót, một chiếc khăn quàng cổ màu đỏ, một lớp phấn trang điểm nhẹ, một chút nước hoa, rồi cả son môi màu đỏ đậm hay nhạt, không rõ.

Tôi bị mê hoặc bởi tiếng pháo nổ tí tách của bọn trẻ. Chúng khá đơn giản nhưng vẫn đủ màu sắc, có lúc là một ngôi sao năm cánh, có khi là một trái tim cân đối, một bông hoa cúc… Chúng kỳ diệu, quyến rũ, không trùng lặp. Tôi mãi mê nhìn lên bầu trời, quên cả nỗi buồn đang đè nặng tôi bấy lâu, của hai mươi tám năm làm người của mình, của ba năm công chức quèn làm công ăn lương, cho đến sự ruồng rẫy tôi nhận được con người ấy- con người tôi yêu thương nhất từ trước đến nay. Vì thế, tôi đã buột miệng bâng quơ, “giá chi được biến thành làm một quả pháo, được bắn lên trời vào đêm giao thừa, để quên đi hết thảy mọi sự”. Thế mà điều ước ngớ ngẩn và chết tiệt đó lại thành sự thật.

Tôi đứng trân người trên con phố, chênh vênh, chếnh choáng như kẻ say rượu, nhắm mắt, rướn cổ lên trời cao. Những cơn co giật đau thắt. Những cơn động kinh khiến thân thể tôi co quắp lại, nhỏ bé nhỏ bé dần.

Tôi chẳng thể kiểm soát được sự thay đổi khủng khiếp này. Tiếng xe máy vụt qua cũng khiến tôi sợ hãi. Tiếng bước chân. Cả tiếng người nói chuyện, cả những lời cầu chúc tốt đẹp cũng khiến tôi ớn lạnh. Tất cả, dồn dập, nhào lộn, nhảy múa như trêu ngươi. Một vài người ăn mày lầm lũi bước, e dè, mặc cảm. Hai cô công nhân vệ sinh đường phố thu dọn những chậu hoa và cây cảnh vất vưởng trên đường, cho vào xe rác, họ vừa cằn nhằn vừa tiếc rẻ cho kiếp cỏ cây, và cằn nhằn về cái nghề hốt rác của mình, năm nào cũng đón giao thừa giữa bãi rác.

Không ai biết tôi đang trải qua cơn đau đớn này. Thân thể tôi như có ai dùng chày, búa, chùy, dằn vào, nện vào từng hồi vô tội vạ. Chẳng có cách nào ngăn cản cơ thể bé lại, co rút lại. Quái lạ, chẳng ai đấm, đá, huých vào người, sao tôi lại đau đớn thế chứ? Tê cứng. Nhức. Nhói. Buốt. Lạnh.

Một tràng pháo dài tanh tách rất gần, khiến bọn trẻ chẳng ai bảo ai, ba chân bốn cẳng chạy rần rật, hiếu kỳ và mong đợi. Kết thúc tràng pháo rộn rã là làn khói trắng xám, bay lên, tan loãng vào không trung.

Một cơn co rút mạnh và đau, xót như xát ớt vậy. Quần áo tôi nhầu nhĩ không khác gì một loại giấy báo cũ kỹ, hăng hắc mùi cánh gián. Và cả mùi gì khai khai, khen khét tựa mùi thuốc súng. Điện thoại di động đổ chuông. Tôi mừng run. Có lẽ sẽ có ai đó giúp đỡ tôi. Đêm nay, giao thừa, cùng lắm là một lời chúc tết khuôn khổ và sáo rỗng, nghĩ thế, tôi loay hoay kiếm tìm cánh tay của mình, bàn tay của mình. Chúng không còn tồn tại trên thân thể tôi nữa! Nhưng chúng đi đâu mới được? Cả đôi chân cũng thế, tôi không tìm thấy nó được.

Tiếng chuông điện thoại vẫn đổ đều, “Please tell me why you made me cry. I beg you please I'm on my knees. If that's what you want me to…” Tôi phát khùng mất. Những đòn đấm đá vô hình vẫn tiếp tục dần lên thân thể tôi. Chẳng biết nó có để lại những vết thâm, thương tích gì không mà tôi đau đớn quá. Tôi nằm vật xuống đường. Từng khúc xương kêu răng rắc như đồng hồ lên dây cót, rót rét rót rét. Chiếc điện thoại văng ra khỏi tôi. Tin nhắn của anh ta hiện trên màn hình điện thoại, một dòng ngắn gọn, “đang ngủ với thằng nào”. Hai mắt tôi nhòe đi. Có lẽ ước muốn được biến hóa thành một quả pháo, lúc này, không còn là điều ngớ ngẩn nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn không thoát ra được cảm giác sợ hãi, mất mát và đau đớn về thể xác.

Thực sự, tôi không ngờ, cho đến lúc toàn thân tôi nhăn rúm ró và vo tròn lại tôi mới biết mình đã trở thành một quả pháo. Một quả pháo là giới hạn cuối cùng. Ôi trời đất ơi, tôi chẳng còn tay, chẳng còn chân, chẳng còn hình hài của một con người nữa.

Tôi cố gắng xâu chuỗi lại, hồi tưởng những giây phút cuối cùng của một cuộc đời con người, cuộc đời của tôi trước khi là một quả pháo, một thứ đồ chơi được ưa thích, được đón đợi, mặc dù có khi bị giấu diếm vào xó xỉnh vì mang nhãn mác của hàng nhập lậu. Tôi- bây giờ không còn là người được cấu thành bởi máu, bởi xương thịt; chẳng gen di truyền, chẳng giới tính, chẳng mối quan hệ, chẳng công ăn việc làm.

Cậu bé chạy ào đến lũ bạn, khoe việc mình nhặt được một quả pháo trên vệ đường- là tôi. Lũ bạn của cậu bé xúm lại ngắm nghía phút chốc rồi giãn ra. Chúng bình luận về cái màu sắc bên ngoài của tôi. Dĩ nhiên chẳng đứa trẻ nào biết được cái vỏ bên ngoài này chính là bộ quần áo của tôi trước đây bị co rút lại nên tôi có phần khác với những quả pháo khác. Hoặc giả, nếu biết tôi có xuất xứ từ con người như chúng, thì chúng sẽ chạy tá hỏa có khi.

Tôi không còn cựa quậy được nữa, không nhúc nhích được một milimet nếu không có sự can thiệp cơ giới của con người, chủ nhân của tôi. Cứ thế, tôi nằm gọn trong tay cậu bé. Lúc này lẽ ta tôi không nên chủ nhân của mình là cậu bé, vì so với cậu ta, tính toán qua loa thôi cận nặng của tôi chỉ bằng một phần nghìn cân nặng của cậu ta.

Tôi vô vọng trong bàn tay nhỏ bé của con người. Thế đấy, với ngần ấy năm làm con người, tôi chợt nhận thấy ở cậu ta có cái gì đó, nghệch ngạc đáng thương.

***

Có ai đó gọi tên tôi. Hình như anh ta. Không bao giờ. Anh ta chưa bao giờ biết thị trấn này. Thị trấn đang bị sa mặc hóa, khô cằn. Tôi co dúm người lại và sực nhớ, tôi chẳng thể bé hơn nữa, tôi đã bé đến mức tối đa, và dĩ nhiên, loài người, không ai phát hiện hay nhận ra tôi đã từng là con người.

Tôi cố xua đuổi nhưng hình ảnh loài người còn sót lại của mình, nhưng lúc này, dường như tôi đang buông xuôi, không kháng cự và vô tri vô giác. Buông xuôi hoàn toàn.

Bình minh lùi dần. Ánh mặt trời chói chang. Đường phố cũng chói chang đủ màu sắc, hoa lá, cờ hiệu, đèn giao thông, quần áo, đầm váy từ truyền thống đến hiện đại lẫn lộn nửa truyền thống nửa hiện đại, Tây Tàu, lượn lờ như những đàn bướm ngây thơ và dại dột, gượng gạo kiêu hãnh dưới ánh nắng.

Bụi bay mù mịt lẩn cùng khói thải.

Thị trấn này, ngày hôm nay, có một lễ hội rất lớn, tôi chỉ biết là rất lớn và rất quan trọng, nhưng tôi không nhớ nổi tên gọi và địa điểm diễn ra cũng như thời gian và tính chất của nó.

Chẳng ai buồn nhặt tôi lên. Chẳng ai nghịch pháo vào ban ngày cả, huống chi hôm nay là Mồng Một tết. Tôi không mang nổi một giá trị nào. Lăn lóc. Bơ vơ nhớ tiếc thân phận làm người.

Nắng chói lòa, khiến tôi buồn ngủ. Nhưng tôi cố gắng gượng, không cho mắt mình nhắm lại. Vì biết đâu, ngủ lại mơ. Mà nhất là khi tôi chỉ là một quả pháo, ngủ có khác gì chết. Đêm qua tôi nằm mơ, giấc mơ của Con Người- hoàn toàn. Một vài người khóc thương cho sự ra đi vĩnh viễn của tôi. Họ đâu hay tôi vẫn sống sờ sờ ra đây, nhưng bằng thân thể này. Họ khóc. Họ viết một bảng cáo phó cho Con Người của tôi theo giấy khai sinh và hộ tịch. Tờ cáo phó bay phất phơ. Họ làm cho tôi một cái đám tang tượng trưng, với một cái hòm tượng trưng, trống không cùng với mấy chục chiếc khăn tang tượng trưng. Có lẽ giờ này sang năm, họ sẽ tổ chức cho tôi một đám giỗ tượng trưng, giống như nhiều đám giỗ tượng trưng tại quê hương tôi sống- lúc còn là Con Người.

Đó là lời tự thú của tôi. Tôi òa khóc. Giọt nước mắt của một quả pháo. Chỉ vì tôi xót xa cho số kiếp của mình, một Con Người kết thúc số phận của mình bằng cách biến thành một quả pháo lựu đạn vô danh, chỉ trong phút chốc, cũng chẳng rõ, có thể tôi đang khóc cho một quả pháo không được lóe sáng trên bầu trời vào đêm giao thừa hôm qua. Tôi sắp chết thật rồi, họ sẽ giẫm lên tôi và đá văng lăn lóc, những bánh xe, những gót giày, những chú chó thích mùi thuốc súng, tôi không đếm xuể. Khi chết đi, đó là giây phút trung thực nhất của một số phận, nhưng tôi thì không, cả cái chết cũng bị bao phủ bởi sự dối trá.

Sài Gòn, Tết 2015

N.P.K

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 275)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 352)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 439)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 760)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 631)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2840)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1906)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1455)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2560)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2081)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1894)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11777)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18376)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17398)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 439)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2559)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2671)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4119)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 760)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2081)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3961)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3372)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2840)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2637)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 3020)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 3004)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 275)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 631)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1906)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1455)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4814)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14943)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31074)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37878)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12785)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14064)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5375)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 8003)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 7039)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7438)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8408)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 351)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9962)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9144)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi