- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,558

GIAO THỪA CUỐI CÙNG

06 Tháng Ba 20152:31 SA(Xem: 19082)

GIAO THUA -photo NGUYEN LONG
Giao Thừa- photo NGUYEN LONG


Tôi là một quả pháo. Trước đây tôi là con người như bao con người khác, mắt mũi miệng, tay chân, cân đối, bình thường và đầy đủ chức năng. Đó là một bí mật, và tôi là người duy nhất nắm giữ bí mật này. Có lẽ chẳng ai dại lại đi tin một quả pháo tầm thường, le lói cháy sáng trên nền trời đêm giao thừa mang ký ức của con người, có quá khứ, thậm chí có cái thứ, mà loài người vẫn gọi là kiếp trước.

Bây giờ, tôi đã không thể đối thoại được với họ, loài người, đồng loại trước đây của tôi, mặc dù tôi vẫn còn nghe, và hiểu tiếng người, những tràng cười sảng khoái, sự phấn khích, tiếng xì xầm bàn tán đầy hưng phấn, … Mọi con mắt đổ dồn về một điểm trên bầu trời, từng chùm pháo bông, muôn hình vạn dạng, lung linh khoe vẻ đẹp của mình một cách kiều diễm. Một tiếng đùng đoàng rơi tỏm trên không, một tiếng khác nối tiếp. Liên tục, phải đến nửa tiếng, bốn mươi lăm phút. Cả những băng pháo dài, tí tách nổ, nhịp điệu, hàng lối bài bản. Tôi lắng nghe. Có khi chúng khiến tôi giật mình. Tôi sợ run người, đếm ngược thời gian. Phút chốc lát nữa thôi, số phận tôi cũng như những quả pháo kia.

Cậu bé vẫn cầm tôi trên tay và ngắm nghía. Chẳng hiểu sao, cậu ta lắc đầu, phàn nàn. Có lẽ tôi đã không thật làm hài lòng cậu ta bởi vẻ ngoài quá sù sì, quá thô ráp và sai lệch kích cỡ, khuôn mẫu. Cậu ta đắn đo một vài phút rồi chạy vèo qua đường, nơi một cậu bé khác đang ôm khư khư một túi ni-lông màu đen. Cậu bé trông khá chậm chạp. Lúc không có pháo nổ, tôi chẳng trông thấy gì, nên cậu ta hiện ra trước tôi thoắt hiện thoắt ẩn như ma vậy. Chính xác thì cậu ta lùn và béo núc ních, chứ không linh hoạt như những cậu bé khác mà tôi thấy tối hôm nay.

Cậu chủ của tôi gợi ý đem đổi tôi lấy tiền. Cái này, tiền, thì tôi không xa lạ. Cậu ta chuyền tôi qua tay cậu bé béo núc ních một cách nhanh chóng. Tôi nghe tiếng sột soạt của tờ giấy phát ra mà chẳng biết đích thị nó mang mệnh giá nào. Có lẽ đó là một vài tờ tiền lẻ, nhăn nheo. Ha ha, tôi quá rẻ. Nói rồi, người chủ mới của tôi vứt tôi vào cái túi ni- lông màu đen ban nãy. Thì ra bên trong cái túi này chỉ có pháo là pháo, chẳng còn thứ gì khác.

Cậu ta nhát gan, chẳng dám đem pháo ra đốt như những cậu bé kia. Và thái độ hưởng ứng trước mỗi quả pháo được đốt lên cũng thế, hời hợt và trễ nãi.

Tôi cứ nằm đợi mãi, trong túi ni- lông màu đen đến phát chán, vừa ngột ngạt, vừa oi bức, vừà tối, vừa buồn. Chẳng thể nào tả nỗi tâm trạng của tôi lúc này. Không cựa quậy. Không nhúc nhích. Tôi nói thật, thà rằng cậu ta chạy lăng xăng đi qua đi lại hay đốt quách tôi cho xong.

Cậu ta nhiều đồ chơi quá, nào là xe tăng và rô bốt, hai ba chục món như thế cơ mà. Tiếng xe tăng- đồ chơi ro ro và hú còi như thật. Có thứ còn phát ra ánh sáng, nhặng xị như xe cứu thương.

Cứ tưởng cậu ta quên khuấy đi sự tồn tại của chúng tôi, nào ngờ, cậu ta cầm cái bao màu đen lên, túm chặt đầu, đưa ai đó, một cậu bé khác. Tôi phát điên lên được, nhoắng nhoằng tôi đã bị đem đi trao đổi ba lần. Chúng tôi, những quả pháo kém xa nô lệ.

Nhưng chùm pháo hoa vẫn tiếp tục được bắn lên bầu trời cùng tiếng trầm trồ, la ó tán thưởng của đám đông, rặt trẻ con là trẻ con. Những đồng loại của tôi bị hay được bắn lên bầu trời yên tịnh, lúc le lói, lúc rực sáng, lúc quay tít, lúc nằm trốn biệt trong nòng pháo thâm u. Chẳng biết ai xấu số hơn ai. Nhưng nếu là tôi, tôi vẫn ước muốn kết thúc cuộc đời của mình một cách nào đó rực rỡ và thăng hoa. Cầu mong cho tôi đừng mang tật nguyền của một viên pháo thối vô dụng. Chí ít tôi cũng khiến loài người sung sướng, ngất ngây một vài giây phút.

Những quả pháo khác và tôi không có chung ngôn ngữ, à không, tôi lú lẩn quá, chính xác, tôi là một quả pháo đặc biệt so với họ. Vì cái sự đặc biệt này nên tôi thấy mọi thứ thật phiền hà và trái khoáy. Tôi hẵng còn cảm nhận được tiết trời lạnh lẽo, màu sắc của đêm tối tiếng người nói chuyện, tiếng bước chân, tiếng xe máy tuýt còi, tiếng kẻng xe rác- bằng cơ quan cảm giác của một con người.

Cậu bé này có rất nhiều loại pháo khác nhau, bọn trẻ trao đổi khiến tôi choáng. Tôi chỉ cố gắng nhớ tên của mình- pháo lựu đạn. Không biết lúc nào mới đến lượt tôi, tôi nằm co ro, liếc nhìn đồng loại. Chẳng đứa nào giống tôi cả, vỏ bọc bên ngoài của họ chi chít những con chữ tượng hình, những con số, cho đến hạn sử dụng. Tôi thì không. Bộ quần áo của con người đã tùa lại thành như thế này đây, không chữ, không số, không hạn sử dụng.

Tôi lặp lại tên gọi của mình, pháo lựu đạn. Hy vọng tôi không đến nỗi xấu xí như quả lựu đạn. Trong sân chơi này, pháo lựu đạn vẫn là món đồ chơi hợp với bọn trẻ con của loài người. Thôi đành chấp nhận, loài người đã chế tác ra, họ ưng gọi bằng gì chả được.

Tối nay, chắc chắcn chẳng có đứa nào trong chúng tôi thoát khỏi tầm tay của con người, có điều đợi lâu quá, tôi đâm ra hồi hộp. Kho còn làm người, tôi đã từng chứng kiến tận mắt cảnh bọn trẻ tống những quả pháo vào cái ống nhựa, để cuống rốn (tức là ngòi) thò ra ngoài và châm lửa đốt. Đến cả khoảnh khắc bọn trẻ ù chạy ra xa, , đợi chờ, tán thưởng.

Đợi mãi vẫn chưa đến phiên mình lên đoạn đầu đài, tôi lăn ra ngủ. Những giấc mơ của con người, vần vũ, quay cuồng, đánh thức tôi.

***

Tôi tỉnh dậy thì đã Mồng Một tết âm lịch.

Ô hay, hóa ra tôi còn sống. Buồn cười thật.

Tôi lăn lóc trên vệ đường. May mắn thay, không ai ngó ngàng cả.

Mặt trời nóng ran. Những đám mây trắng, cuộn như những con cừu non tơ mập mạp. Mình mẩy tôi nhức mỏi. Cảm thấy mình đang mất dần mọi giác quan, không buồn kháng cự, không buồn vẫy vùng, trườn, bò.

Một quả pháo lựu đạn mang hồi ức của một con người- tôi lặng thinh, cố nhớ lại hành trình của mình, cuộc đời của một con người cho đến cuộc đời một quả pháo. Đó là những ngày tháng tôi đã có từng bố, có mẹ, có một người em gái. Rồi cả những người bạn xã giao, có khi chỉ là tụ tập cho vui. Rồi cả những mối tình ngọt ngào nhưng đầy đau khổ. Những ngả tư, nhưng rào cản, barie trên lối đi vào thành phố. Những cuốn tiểu thuyết và những bài thơ của Tagore tôi thuộc lòng. Giờ này, tất cả đã trở nên xa lạ, chẳng ruột rà.

Tối hôm qua, giận họ, tôi đã bỏ vào khách sạn, một mình. Bỏ lại tất cả những sự trách móc, hờn dỗi quen thuộc. Rồi ma quỷ xui khiến thế nào, tôi bước ra phố đón giao thừa, ngắm pháo bông cho giống mọi người, chó giống truyền thống. Cũng tại đám đông hôm qua quá phấn khích, hơn những gì họ nhận được. Thế mà bước ra phố, tôi lại chẳng hùa vào đám đông reo hò, mà chỉ đi lang thang quanh khu chợ nghèo và vắng vẻ, để ngắm nhìn bọn trẻ chơi pháo. Tôi còn nhớ rõ, âm thanh phát ra trung tâm thị trấn áp đảo khu chợ ẩm ướt này. Những loạt đạn được bắn lên trời cũng thế, hoành tráng, vồn vã, ào ạt và sáng rực nên trời.

Tôi tha thẩn bước đi giữa khu chợ ẩm ướt.

Những quả pháo được bắn rải rác, những hồi rin rít. Hình như tôi mặc chiếc váy xanh, tôi chỉ nhớ mang máng, một đôi dép cao gót, một chiếc khăn quàng cổ màu đỏ, một lớp phấn trang điểm nhẹ, một chút nước hoa, rồi cả son môi màu đỏ đậm hay nhạt, không rõ.

Tôi bị mê hoặc bởi tiếng pháo nổ tí tách của bọn trẻ. Chúng khá đơn giản nhưng vẫn đủ màu sắc, có lúc là một ngôi sao năm cánh, có khi là một trái tim cân đối, một bông hoa cúc… Chúng kỳ diệu, quyến rũ, không trùng lặp. Tôi mãi mê nhìn lên bầu trời, quên cả nỗi buồn đang đè nặng tôi bấy lâu, của hai mươi tám năm làm người của mình, của ba năm công chức quèn làm công ăn lương, cho đến sự ruồng rẫy tôi nhận được con người ấy- con người tôi yêu thương nhất từ trước đến nay. Vì thế, tôi đã buột miệng bâng quơ, “giá chi được biến thành làm một quả pháo, được bắn lên trời vào đêm giao thừa, để quên đi hết thảy mọi sự”. Thế mà điều ước ngớ ngẩn và chết tiệt đó lại thành sự thật.

Tôi đứng trân người trên con phố, chênh vênh, chếnh choáng như kẻ say rượu, nhắm mắt, rướn cổ lên trời cao. Những cơn co giật đau thắt. Những cơn động kinh khiến thân thể tôi co quắp lại, nhỏ bé nhỏ bé dần.

Tôi chẳng thể kiểm soát được sự thay đổi khủng khiếp này. Tiếng xe máy vụt qua cũng khiến tôi sợ hãi. Tiếng bước chân. Cả tiếng người nói chuyện, cả những lời cầu chúc tốt đẹp cũng khiến tôi ớn lạnh. Tất cả, dồn dập, nhào lộn, nhảy múa như trêu ngươi. Một vài người ăn mày lầm lũi bước, e dè, mặc cảm. Hai cô công nhân vệ sinh đường phố thu dọn những chậu hoa và cây cảnh vất vưởng trên đường, cho vào xe rác, họ vừa cằn nhằn vừa tiếc rẻ cho kiếp cỏ cây, và cằn nhằn về cái nghề hốt rác của mình, năm nào cũng đón giao thừa giữa bãi rác.

Không ai biết tôi đang trải qua cơn đau đớn này. Thân thể tôi như có ai dùng chày, búa, chùy, dằn vào, nện vào từng hồi vô tội vạ. Chẳng có cách nào ngăn cản cơ thể bé lại, co rút lại. Quái lạ, chẳng ai đấm, đá, huých vào người, sao tôi lại đau đớn thế chứ? Tê cứng. Nhức. Nhói. Buốt. Lạnh.

Một tràng pháo dài tanh tách rất gần, khiến bọn trẻ chẳng ai bảo ai, ba chân bốn cẳng chạy rần rật, hiếu kỳ và mong đợi. Kết thúc tràng pháo rộn rã là làn khói trắng xám, bay lên, tan loãng vào không trung.

Một cơn co rút mạnh và đau, xót như xát ớt vậy. Quần áo tôi nhầu nhĩ không khác gì một loại giấy báo cũ kỹ, hăng hắc mùi cánh gián. Và cả mùi gì khai khai, khen khét tựa mùi thuốc súng. Điện thoại di động đổ chuông. Tôi mừng run. Có lẽ sẽ có ai đó giúp đỡ tôi. Đêm nay, giao thừa, cùng lắm là một lời chúc tết khuôn khổ và sáo rỗng, nghĩ thế, tôi loay hoay kiếm tìm cánh tay của mình, bàn tay của mình. Chúng không còn tồn tại trên thân thể tôi nữa! Nhưng chúng đi đâu mới được? Cả đôi chân cũng thế, tôi không tìm thấy nó được.

Tiếng chuông điện thoại vẫn đổ đều, “Please tell me why you made me cry. I beg you please I'm on my knees. If that's what you want me to…” Tôi phát khùng mất. Những đòn đấm đá vô hình vẫn tiếp tục dần lên thân thể tôi. Chẳng biết nó có để lại những vết thâm, thương tích gì không mà tôi đau đớn quá. Tôi nằm vật xuống đường. Từng khúc xương kêu răng rắc như đồng hồ lên dây cót, rót rét rót rét. Chiếc điện thoại văng ra khỏi tôi. Tin nhắn của anh ta hiện trên màn hình điện thoại, một dòng ngắn gọn, “đang ngủ với thằng nào”. Hai mắt tôi nhòe đi. Có lẽ ước muốn được biến hóa thành một quả pháo, lúc này, không còn là điều ngớ ngẩn nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn không thoát ra được cảm giác sợ hãi, mất mát và đau đớn về thể xác.

Thực sự, tôi không ngờ, cho đến lúc toàn thân tôi nhăn rúm ró và vo tròn lại tôi mới biết mình đã trở thành một quả pháo. Một quả pháo là giới hạn cuối cùng. Ôi trời đất ơi, tôi chẳng còn tay, chẳng còn chân, chẳng còn hình hài của một con người nữa.

Tôi cố gắng xâu chuỗi lại, hồi tưởng những giây phút cuối cùng của một cuộc đời con người, cuộc đời của tôi trước khi là một quả pháo, một thứ đồ chơi được ưa thích, được đón đợi, mặc dù có khi bị giấu diếm vào xó xỉnh vì mang nhãn mác của hàng nhập lậu. Tôi- bây giờ không còn là người được cấu thành bởi máu, bởi xương thịt; chẳng gen di truyền, chẳng giới tính, chẳng mối quan hệ, chẳng công ăn việc làm.

Cậu bé chạy ào đến lũ bạn, khoe việc mình nhặt được một quả pháo trên vệ đường- là tôi. Lũ bạn của cậu bé xúm lại ngắm nghía phút chốc rồi giãn ra. Chúng bình luận về cái màu sắc bên ngoài của tôi. Dĩ nhiên chẳng đứa trẻ nào biết được cái vỏ bên ngoài này chính là bộ quần áo của tôi trước đây bị co rút lại nên tôi có phần khác với những quả pháo khác. Hoặc giả, nếu biết tôi có xuất xứ từ con người như chúng, thì chúng sẽ chạy tá hỏa có khi.

Tôi không còn cựa quậy được nữa, không nhúc nhích được một milimet nếu không có sự can thiệp cơ giới của con người, chủ nhân của tôi. Cứ thế, tôi nằm gọn trong tay cậu bé. Lúc này lẽ ta tôi không nên chủ nhân của mình là cậu bé, vì so với cậu ta, tính toán qua loa thôi cận nặng của tôi chỉ bằng một phần nghìn cân nặng của cậu ta.

Tôi vô vọng trong bàn tay nhỏ bé của con người. Thế đấy, với ngần ấy năm làm con người, tôi chợt nhận thấy ở cậu ta có cái gì đó, nghệch ngạc đáng thương.

***

Có ai đó gọi tên tôi. Hình như anh ta. Không bao giờ. Anh ta chưa bao giờ biết thị trấn này. Thị trấn đang bị sa mặc hóa, khô cằn. Tôi co dúm người lại và sực nhớ, tôi chẳng thể bé hơn nữa, tôi đã bé đến mức tối đa, và dĩ nhiên, loài người, không ai phát hiện hay nhận ra tôi đã từng là con người.

Tôi cố xua đuổi nhưng hình ảnh loài người còn sót lại của mình, nhưng lúc này, dường như tôi đang buông xuôi, không kháng cự và vô tri vô giác. Buông xuôi hoàn toàn.

Bình minh lùi dần. Ánh mặt trời chói chang. Đường phố cũng chói chang đủ màu sắc, hoa lá, cờ hiệu, đèn giao thông, quần áo, đầm váy từ truyền thống đến hiện đại lẫn lộn nửa truyền thống nửa hiện đại, Tây Tàu, lượn lờ như những đàn bướm ngây thơ và dại dột, gượng gạo kiêu hãnh dưới ánh nắng.

Bụi bay mù mịt lẩn cùng khói thải.

Thị trấn này, ngày hôm nay, có một lễ hội rất lớn, tôi chỉ biết là rất lớn và rất quan trọng, nhưng tôi không nhớ nổi tên gọi và địa điểm diễn ra cũng như thời gian và tính chất của nó.

Chẳng ai buồn nhặt tôi lên. Chẳng ai nghịch pháo vào ban ngày cả, huống chi hôm nay là Mồng Một tết. Tôi không mang nổi một giá trị nào. Lăn lóc. Bơ vơ nhớ tiếc thân phận làm người.

Nắng chói lòa, khiến tôi buồn ngủ. Nhưng tôi cố gắng gượng, không cho mắt mình nhắm lại. Vì biết đâu, ngủ lại mơ. Mà nhất là khi tôi chỉ là một quả pháo, ngủ có khác gì chết. Đêm qua tôi nằm mơ, giấc mơ của Con Người- hoàn toàn. Một vài người khóc thương cho sự ra đi vĩnh viễn của tôi. Họ đâu hay tôi vẫn sống sờ sờ ra đây, nhưng bằng thân thể này. Họ khóc. Họ viết một bảng cáo phó cho Con Người của tôi theo giấy khai sinh và hộ tịch. Tờ cáo phó bay phất phơ. Họ làm cho tôi một cái đám tang tượng trưng, với một cái hòm tượng trưng, trống không cùng với mấy chục chiếc khăn tang tượng trưng. Có lẽ giờ này sang năm, họ sẽ tổ chức cho tôi một đám giỗ tượng trưng, giống như nhiều đám giỗ tượng trưng tại quê hương tôi sống- lúc còn là Con Người.

Đó là lời tự thú của tôi. Tôi òa khóc. Giọt nước mắt của một quả pháo. Chỉ vì tôi xót xa cho số kiếp của mình, một Con Người kết thúc số phận của mình bằng cách biến thành một quả pháo lựu đạn vô danh, chỉ trong phút chốc, cũng chẳng rõ, có thể tôi đang khóc cho một quả pháo không được lóe sáng trên bầu trời vào đêm giao thừa hôm qua. Tôi sắp chết thật rồi, họ sẽ giẫm lên tôi và đá văng lăn lóc, những bánh xe, những gót giày, những chú chó thích mùi thuốc súng, tôi không đếm xuể. Khi chết đi, đó là giây phút trung thực nhất của một số phận, nhưng tôi thì không, cả cái chết cũng bị bao phủ bởi sự dối trá.

Sài Gòn, Tết 2015

N.P.K

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1576)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6325)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6183)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13565)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30687)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81707)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20523)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 389)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.