- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,559

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ VÀ NHỮNG BÀI THƠ THÁNG GIÊNG

04 Tháng Ba 201510:41 CH(Xem: 19114)
NHNam
Ảnh Nguyễn Hoàng Nam

1.Di ngôn của nắng

Nắng đã vào mùa giêng hai
em bắt bóng vợi nhớ nhung đượm màu lửa hạ
đường xưa giờ xa quá
ngong ngóng gì mà trượt ngã qua mình

Sông vẫn trôi bèo vẫn dạt lênh đênh
một góc nhỏ vẫn dập dềnh nỗi nhớ
chẳng phải câu hẹn hò người đi người ở
mà buốt lòng, tay vợi lấy bàn tay

Trời bây giờ đã quá màu tháng hai
nắng nhạt thếch chẳng đơm mầm hôm bữa
lời thương yêu trôi theo mùa mưa rữa
ở nơi nào chẳng động đậy cỏ cây

Nắng chần chừ đôi má đỏ hây hây
viết di ngôn lên xuân thì con gái
đừng trôi nhé, ừ đừng trôi vội nhé
ngày nắng xanh lộc biếc ruộm sau hè

 

2.Thơ là của người

"Có gì mà thơ của người đàn bà không viết nổi như vậy "

thơ vẫn xanh rờn cỏ cây
và vàng khi mùa thu khấp khởi

Thơ nghe
buồn hắt hiu trên rừng cây vừa mới
gieo những hạt giống mùa

Thơ đợi
mấy chục năm ròng mong mùa gió thổi
gió kể chuyện xa xôi
câu chuyện năm mươi người con theo biển lặn tìm trời
năm mươi người con lên non tìm đất mới
có gì đâu
có gì đâu
cánh chim chiều vẫn nghiêng rơi hoàng hôn giữa chặng
những người đàn bà những người đàn ông lượm lặt
chuyện vui buồn
chuyện trăm năm
bỏ quên những lời thóa mạ từ cơn sân si cũ
bỏ quên hình hài từng khớp xương chồi nhũ
như bóng núi chơ vơ

Và ngàn năm thơ kể
chuyện cổ tích ở trần gian đợi chờ

 

3.Như thơ

chẳng thờ ơ
thơ cảm thấy tức giận và khó thở
bởi thơ đang xếp hàng chờ chực giấc mơ

Ngày thơ đi qua cái cổng làng
thơ ngửi thấy cái mùi sơn mới
những ngọn cờ bay phơi phới
đến lạ lẫm những con đường
thơ không còn thấy ngôi chợ quen, gốc đa giếng nước sân đình
cả miếng trầu thơm phưng phức
thơ bối rối
tìm lại đôi mắt của mình

Và thơ trôi
giữa con sông vét cạn bến bồi
lòng tấp vào bến lở
dòng sông ngạt thở hay câu thơ ngạt thở
nghe tiếng sóng quơ
nghe tiếng ơ hờ
dật dờ
bên dưới những câu thơ đã chết

4.Lời khuyên của hoàng hôn

Nằm trên đỉnh núi

Đừng buồn
đừng đau thắt trong cái dạ dày
của bạn
sự chờ đợi cho điều có thể
giới hạn
khi ánh mắt đi lạc vào nhau
để biết rằng cuộc sống có vô vàn điều không chắc chắn

Lời khuyên của hoàng hôn
thật can đảm
trên đôi cánh của loài chim
bay
hoàng hôn đánh rơi nỗi buồn xa ngái
chưa kịp sum vầy

Bình minh định dạng cho niềm hạnh phúc mới
bỏ quên đêm
bỏ quên lời khuyên của hoàng hôn
trên giọt sương lấp lánh

5.Chỉ có sự im lặng

như vẻ núi suy tư
như vẻ sông đang chìm với sóng
và người ta quên
có thể mẹ đất bị chứng lãng tai

sóng vẫn trãi hình hài
qua những mùa xuân cũ
sóng vẫn hoài về một mùa xuân chưa trổ về dốc lũ
xiết trắng màu tàn đêm

" Ai về Bến Ngự..
Ai về Văn Lâu..."
mùa xuân vừa thở ngạt sầu
nuốt đôi dòng lệ đắng trần gian phôi

 

6. Một ngày thơ bị tra tấn

trên khán đài
khi vầng trăng vừa soi mình
vào đêm
điều linh thiêng vừa bị nguyền rủa
trong những đôi mắt vừa mở
tròn xoe
rất nhiều bài thơ bỏ mình đi biệt xứ

Từ ấy những câu chữ của thơ vô gia cư
chẳng biết được điều ấm áp
mỗi khi chiều về

7.Tôi gác cuốn sách đầy ma lực

lên giấc ngủ
giấc mơ tạc hình thù
những gương mặt của chữ khoác mái tóc bạc phơ
trong tấm menu
đang háo hức
chờ đợi
ở đấy có sự lựa chọn cho tuổi thơ
từ những sợi dây quay vòng
như những dãi cầu vồng
quyến rũ

Những gương mặt chữ bắt đầu ẩn dụ
màu xanh
cho những câu tục ngữ
dài và ngắn
để khỏa lấp sự trống vắng
khi đôi mắt chẳng kịp mở ra

Và giấc mơ tự mình ăn tối
bằng những con chữ có mùi vị ngon lành
khi đêm vừa mở tiệc sâm panh

 

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ
Ý kiến bạn đọc
05 Tháng Ba 20155:37 CH
Khách
Quá hay lun
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1576)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6325)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6183)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13565)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30688)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81712)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20523)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 389)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.