- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,351

Cát Hoang

06 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 109733)

dune_sable_2_0_300x225_1Không ai biết tại sao giữa dòng sông ấy lại nhô lên một bãi đất. Rồi cũng không ai biết người ta đến đấy ở từ bao giờ. Họ chia đều những khoảng đất, họ trồng ngô, trồng rau xanh rì, họ dựng nhà họ nuôi con. Họ không nuôi đàn ông. Con họ nuôi chó, nuôi mèo. Chó mèo của con họ lại đi rình bắt thỏ nhà khác. Bắt được lại thả ra, thả ra lại rình bắt. Con họ thì vỗ tay, thì nựng nịu những con vật cưng ấy. Con họ chòng ghẹo nhau. Con họ rất thích buổi tối. Tối đến chúng núp sau lùm cây, chúng nhìn bóng đen lúi húi, bóng đen đi từng cặp. Mùa hè nóng, bóng đen gửi xe rồi đi bộ lên cầu, xuống bãi giữa này rồi họ lúi húi.

Bãi đất nổi giữa dòng sông, nhô cao hẳn lên và chạy thành vạch dài. Bãi đất chỉ có ngô, rau và lùm, bụi. Bãi đất không có cây mọc quá đầu người. Bãi đất không có điện, người ta đốt nến, đốt dầu, nhưng tối đến người ta không đốt gì cả, người ta chui vào trong nhà. Hai cây cầu bắc qua sông, bắc qua đầu họ. Đèn trên cầu rất sáng, họ nhầm lẫn cả, trăng không còn trăng nữa, sao không còn sao nữa.

Con họ không đi học. Họ không cho con đi học. Họ, lọt thỏm giữa dòng sông, giữa hai con đê hùng vĩ, nhà cao tầng và một chùm ánh sáng không bao giờ chiếu tới. Phía trên đầu họ mênh mông, họ đủ thấp để không nhìn lên cao. Phía trên đầu họ là hai cây cầu, tàu hú còi trên đầu, ô-tô lũ lượt kéo nhau đi, xe đạp, xe máy và có cả bước chân người, nhưng họ đủ thấp để không cảm thấy gì cả.

Bao quanh bãi đất là một dải cát khá rộng, thấp, sát mặt nước, nhiều chỗ ngấm nước mềm sựt. Sáng sớm, như một thói quen, họ lại đứng trên cao nhìn theo con nước rút. Cát phơi mình ẩm ướt, bọ nước lao xao chạy. Họ xắn cao quần bước thận trọng. Cát nhún nhún. Dấu bàn chân in thành hàng. Bọn trẻ cũng đứng trên cao, nhưng chúng không được phép xuống. Lũ thỏ đẻ rất nhanh, chúng ri ri khắp các luống rau, ri ri cạnh các thân ngô. Đàn bà đứng chống cán cuốc cau mày. Đàn bà nhốt thỏ đực vào chuồng. Đàn bà ném thỏ cái cho lũ trẻ. Đàn bà không ném chúng vào nồi. Đàn bà không cần thịt.

Một hôm có người con gái xuất hiện. “Con điên” họ nháy nhau. Cô điên ngồi trên bãi cát, dùng gậy vạch ngoằn ngoèo trên cát, lẩm nhẩm. “Kệ nó. Con điên” - Họ nháy nhau. Lũ trẻ mò tới. Cô vẫy tay. Lũ trẻ lùi ra. Cô cúi mặt xuống. Lũ trẻ tới gần. Cô vạch xuống đất. “A”. Cô nhìn lũ trẻ.” A”. Cô chỉ xuống đất.” A”. Cô vẫy tay.” A”. Lũ trẻ nhìn nhau. Lũ trẻ “A”. “Chữ đấy” - Một người nói. “Chữ” - Họ gật đầu với nhau. Cô vạch ra cát, lũ trẻ vạch ra cát. Người ta chăng mấy tấm vải bạt rách tả tơi thành lều. Cô trốn họ, núp trong bụi cây thò mặt ra cười. Lũ thỏ nhảy lóc chóc vào lều, chúng ri ri gặm cà rốt. Cô nhảy theo ri ri với chúng. Mắt cô ngơ ngơ. “Cô giáo điên”. Lũ trẻ rón rén bịt mắt cô lại, chúng nắm tay nhau xoay tròn quanh cô. “Bịt mắt bắt dê”. “Hé hé hé...”. Cô rú lên cười ằng ặc. “ù à ù ập”. Chúng duỗi hai tay, vừa nhún nhẩy vừa bước lùi ra xa. Cô ngênh đầu, quờ quạng tay. “Ngồi sập xuống đây”. Chúng hét váng vào tai cô. “Hé hé hé...”. Cô rú lên sằng sặc.

Ngày ngày, tháng tháng, lũ trẻ đứng trên cao, chúng nhìn đàn bà xắn quần lội trên cát vào sáng sớm, chúng nhìn bóng đen lúi húi vào tối mịt, chúng “A A B B” vào buổi trưa. Một lần chúng nhìn thấy những con thuyền neo ngoài bãi cát. Chúng chỉ cho mẹ. “Cực quá các chị ạ, chúng em đành phải bỏ làng mà đi, may ra sống được”. Đàn bà sụt sịt cầm tay nhau. Đàn ông cúi gầm mặt xuống. Đàn bà có con, mắt rạng theo làn khói trắng quấn trên nắp vung nồi cơm chiều đang sôi. Đàn bà có chồng sụt sịt. Đàn bà bắt thỏ làm thịt. Đàn bà rót rượu. Mùi rượu thơm nồng.

Cô điên ngồi tịt trong lều. Cô quan sát họ qua lỗ thủng trên vách, qua khóm cây lúp xúp, qua mô đất thoải. Họ đi, họ đứng, bưng, bê. Lũ thỏ ri ri gặm cà rốt. Cô ngồi thu lu một góc. Một người thấy cái lều. Một người đàn ông. Người đàn ông tiến lại. Cô xua tay, lắc đầu, mắt trợn trừng, cuống cuồng bỏ chạy. Người đàn ông ngạc nhiên đứng sững rồi hềnh hệch cười.

Ngày ngày, tháng tháng, bọn con trai bắt đầu vỡ giọng, lũ thỏ nhảy lóc chóc, chó mèo kiếm chỗ làm ổ và hoạnh họe với mọi thứ. Trẻ con trồng rau, bẻ ngô. Đàn bà đem rau và ngô lên cầu ngồi bán, từng thúng, từng thúng một, người ta cũng mua từng thúng, từng thúng một. Chó mèo con ra đời, chó mèo lớn vênh vang đi lại, chúng gầm gè những bóng đen lúi húi ở bãi cát, bọn thỏ buồn nhai cà rốt trong lều. Cô điên nằm thở dốc. Bụng cô ngày một to, đến nay đã quá to. Cô không ra bãi cát. Bãi giữa nhốn nháo, họ túm nhau lại ngồi trước lều cô. Đàn bà quắc mắt nhìn đàn ông, đàn ông ngấm ngầm rủa nhau, vợ bọn đàn ông găm đay nghiến vào trán chồng. Họ nhốn nháo.

“Của tao, của chúng tao thiu hay sao mà phải ấy con điên”.

“Thằng khốn nào ăn vụng không chùi mép thế”.

“Có cái của mà đút cũng không đúng chỗ. Tiên sư đời”.

“Mẹ khiếp nó nhanh hơn ông”.

Cô điên ôm bụng. Cô điên rên. Bọn thỏ ri ri quanh lều. Đàn bà có con phủi quần bỏ về. Đàn ông lủi mất. Vợ bọn đàn ông bậm môi bật máu, xúm quanh cô điên lào xào:

“Ối chà! thế là cô điên sắp làm mẹ rồi đấy.”

“Khí con trai. Mừng nhá”.

“Ai đun nước nào, đun sôi vào”.

“Khăn sạch đâu”...

Họ ngoạc mồm ra, họ phùng mang, tay họ ấn, họ lần, họ bóp, họ nắn xem còn cái của nào dắt ở đấy. Cô đau, cô rú lên ằng ặc. Tay cô vung loạn xị, cào, cấu, mắt đỏ xọc. Vợ bọn đàn ông dạt ra, rồi lại xắn tay lao vào.

“Yên nào, để bọn chị giúp”.

“Hỏng bây giờ. Hỏng... Đ.mẹ con điên”.

“Á á á...”

*

Khi tỉnh lại thì chỉ còn mình cô. Trời đã sáng. Vài dòng bụi chui qua lỗ hổng ở tấm bạt khoanh từng lỗ xuống đất, chúng nhẩy nhót trên những tia nắng - lũ bụi. Cô hé mắt, mí mắt thâm đen sâu trũng vụt mở rồi nhắm lại. Cô há miệng nuốt khan không khí, bờ môi nứt khô, mớ tóc bết mồ hôi ngả rũ ra theo cái bức non tháng bốn. Mùi tanh ngái nồng trong lều bu ruồi đến, chúng vo ve bên tai. Cô lắc đầu, lắc mạnh đầu, ngọ nguậy. Ruồi tản ra, ruồi bu lại. Khát quá. Cô há miệng hớp không khí rồi rướn người bò ra khỏi lều. Cô bò xuống suờn đất thoải. Cô bò ngang qua bụi thấp, bò qua hoa dại. Cỏ gà vướng vào tay. Cô bò xuống cát khô. Cát lạo xạo, lạo xạo. Cô bò xuống cát mềm. Cát nhun nhún. Cô vục mặt vào nước. Dòng nước đục phù sa. Uống ừng ực. Nước mát. Cô chụm ngón, vốc nước. Tõm tũm. Nước văng tung tóe. Tõm tũm.

“Tỉnh rồi đấy hả? Vui nhỉ!”

“Đỡ chút nào chửa? Khỏe chửa?

Mấy người đàn bà ngồi giặt gần đấy. Mấy người đàn bà hích hích. Cô ngẩn ra rồi hốt nhiên đưa tay xuống bụng. Xẹp lép. Cô chết trân. Xẹp lép. Cô đấm vào bụng. Bùm bụp. Đau. Cô ngã vật ra.

“Ấy, làm gì thế, chưa khỏe hẳn đâu, đừng làm thế.”

Họ giữ tay cô lại. Cô ngây ngô. Mắt cô rơm rớm. Nước chảy vòng qua từng mô gồ trên mặt. Cô nghiêng đầu.

“Sinh ba đấy, sinh hẳn ba đứa cơ đấy. Đẹp lắm nhé!”

“Nhờ người khác nuôi hộ rồi. Yên tâm nhá”.

“Rồi hôm nào lại chửa, lại đẻ”.

Họ huých nhau, hinh hích. Cô quay nhìn một người. Họ cười. Cô quay nhìn một người. Họ cười. Ai cũng cười. Họ ngoạc mồm ra cười. “Ú ớ ú ớ”. Cô vùng đứng dậy. “A âu ú ớ âu âu”. Cô đẩy họ. Cô chạy. Cát rung rinh dưới chân. Cô xé mảnh áo. Cát sậm sựt. Mọi người gọi:

“Đừng chạy nữa. Nguy hiểm lắm”.

Cô xé ống tay. Cát nhún nhún. Nước nhỏ giọt xuống cằm. Tong tỏng. Mọi người dừng lại, nhăn mặt, gọi với theo:

“Dừng lại đi, quay về đây”.

“Ú ớ u ơ âu âu”. Cô cảm giác có cái gì đó tách ra, rớt xuống, từng giọt, từng giọt một. Nó loang ra cái váy ngắn ai đó mặc cho cô. Đỏ. Nó xuôi thành dòng theo bắp chân. Thành dòng. Vo tròn từng hạt lẫn vào cát. Đỏ. Cát mềm sựt, cát há ra. Cô ngoắc tay lên trời. Lựt xựt... Không một tiếng động, không tiếng kêu, không bóng dáng. Họ lùi lại, họ ồ lên, họ ú ớ.... Đàn ông từ đâu sầm sập chạy tới, thì thào:

“Ba đứa sao rồi?”

“Để xa lắm. Yên tâm, xa lắm, không ai biết.”

“Nó đâu?”

“Sụt xuống cát rồi. Kia, kia kìa, còn vạt áo đấy.”

Bọn nhỏ lúi húi vạch xuống cát.

Ngày tháng, ngày tháng. Lũ trẻ cao lên. Con trai tảng sáng đi vào phố. Con gái gánh gồng lên cầu bán. Người ta kéo nhau xuống bãi giữa”dzô dzô” rồi châm lửa đốt. Lửa lẹt xẹt đến sáng.

Ngày tháng, ngày tháng. Lũ trẻ ở phố kéo xuống bãi cát chơi. Thỏ nhảy lóc chóc. Chúng đá bóng, đuổi bắt. Chúng chạy. Chạy trên cát. Sụt... sụt... sụt... Chúng run bắn lên, chúng ôm chầm lấy nhau, hét loạn xị. Đàn ông đàn bà bấm nhau. “Ba đứa, ba đứa đấy”.

PHẠM NGỌC LƯỢNG

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1034)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1121)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1811)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5831)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5813)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13164)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30024)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81143)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20225)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 136)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối