- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HÀNH TRÌNH GIẤC MƠ

21 Tháng Mười Hai 20142:24 SA(Xem: 69907)

TranhDinhCuong-mausac
Tranh Đinh Cường


 

I

 

Thế giới của chúng tôi đang lộn ngược

những con chữ đầu mương nước

chưa kịp ráo khô

bỏng trong mắt mẹ mùa phượng cháy

còng con đi qua tháng đời như những bức thư không có số phận

 

Hôm nay chúng tôi đặt vào đôi tai để lắng nghe

không còn lũ chim rẻo giọng cất tiếng

chúng đã an bài từ mấy chục năm trước

những ước mơ có màu xám đen trên bầu trời đang dông

để được nhìn tia chớp

và bước đi bước đi nhanh, khi giấc mơ chưa kịp rớt

 

Chúng tôi muốn hòa giải những mất mát

định vị trong ngày đầu tuần

chúng tôi đặt sự may mắn lên đôi mắt của các vị thần

sự kính cẩn và cầu nguyện

khi lũ bèo trên sông cứ nổi

dập dềnh những số phận còn xanh

chúng tôi đã gặp những cụ già với mái tóc bạc cước

chống gậy hành hương

chờ con nước tẩy trần cứu rỗi

 

Đừng khóc nghe chúng tôi

không được khóc nhé chúng tôi

chiếc lư hương phàn nàn đợi giỗ

trò chuyện một ngày tà thu

 

II

 

Này, hôm nay chúng tôi thấy những lối vào

trong một tòa gió

trên bãi cát, trước biển xanh, xanh lắm

chúng tôi muốn minh chứng cho một điều gì đó

đang rơi

chúng tôi truy cập vào trái tim của biển khơi

để cảm nhận âm sóng đang dời

chúng tôi đọc được những dấu phách trời

dòng kí tự: không cần cho biết những gì họ biết

sóng có màu bạch kim

 

Chúng tôi ngồi lên chiếc cân định mệnh trong cơn mưa hạt đá màu đen

chiếc cân nghiêng đỉnh kim tự tháp

mang hiểu biết rời khỏi sự hỗn loạn

để ngủ đông như chú gấu trắng

nằm trên tia bắc cực quang

 

III

 

Nghèo đói là một trạng thái của tâm

hàng ngày chúng tôi nghe qua từng nhịp đập

qua những trang chữ trang người bầm dập

họ đang bị đày đọa những gì chúng tôi đọc 13 tầng địa ngục

không phải là làn khói hương

 

Chúng tôi tưởng tượng vượt qua sa mạc bằng những con rồng có cánh

để bay lên chốn thiên bồng

an ủi đường chạy đua lóc xóc

những con đường đỏ không phải bằng đất

bắt đầu từ những đôi mắt đục ngầu

thiên tai như người hiệp sĩ

giác đấu với giấc mơ của rồng

 

Chúng tôi chạy

một lần nữa chúng tôi chạy, chạy

chạy đi, để trốn sâu vào huyệt mộ của mẹ đất

 

 

IV

 

Hôm nay chúng tôi đang ngồi câu sự yên tĩnh

chảy sâu dòng thủy mặc

vẫn chưa đủ đầy thắc mắc

về thời gian ngồi tại nơi này, bên dưới những gốc thông không biết tuổi

cửa trời đã mở

ngày chúng tôi thấy giấc ngủ của loài bướm đêm khổng lồ

sương nhảy điệu bất tận

 

Thật ra, bên trong khung cửa, chúng tôi đang ngồi

nhìn phép lạ sự sống của các sinh linh

những chậu xương đá trên hòn non bộ

 

V

 

Chúng tôi đã nhìn thấy sự ngụy trang

của những ánh đèn đường

trên chiếc cầu đẫm mù sương

đi về phía hạnh phúc của ngôi nhà đang đợi

đôi mắt đã làm tổn thương

sự tinh tế rơi trên những bước chân chậm rãi

để giấu đi khuôn mặt hồ hởi của buổi sáng

 

Chúng tôi đang bước chậm

trên con đường tự do của hạnh phúc

bị vướng víu những phút chần chừ

đôi khi cảm xúc muốn mặc áo giáp

và muốn nung trong lửa

cảm xúc muốn đặt hàng thời thơ ấu

để giằng co với cánh diều

 

Sự rủi ro vẫn còn khi chưa chạm bước chân về phía bên kia thân cầu

mưa bầu trời đổ suối

những con ốc sên chậm chạp

chưa kịp bò đi khỏi nhành cúc họa mi

 

VI

 

Chúng tôi không còn ở lứa tuổi này

để nếm vị ủy mị từ những bài thơ tình ru trang mây

đôi lúc tự cam kết cố ý

để trơ trẽn sống sượng với niềm vui của ảo giác

 

Chiếc váy kết chuỗi san hô này

đèo bòng quá nặng với họa tiết kỳ diệu và cả sự chế giễu

mạo hiểm về sự di chuyển của thí nghiệm với chính chúng tôi

chúng tôi kết thúc tự do nơi khởi đầu của sự tự do của người khác

tò mò về cuộc sống và bản thân

nếm cảm giác của sự căng thẳng

như diễn viên xiếc trên dây

và sau đó chờ đợi...

điều gì sẽ xảy ra?

 

VII

 

Giấc mơ đã đưa chúng tôi đi qua lưỡi gươm của Macbeth

qua những bông nắp ấm tham lam để khoét thêm sự sinh tồn

phù thủy đã cất tiếng: sự tàn khốc ở người bạn thân

 

Điên cuồng của game

sự tự sát đến từ cuộc sống

chiếm ngự trong một khung hình rộng từ góc bể chân trời

chúng đang sống trong một thời đại thật là xa

những ngọn rễ hoài nghi

về sự khô cằn của lòng sông người

 

Vở tuồng cho sự thật đến

vỗ ì ạch trên dốc tình giả thuyết

hài hước cả một vòng tay không chịu buông rời

 

Ở biên giới của sự tưởng tượng

giấc mơ không chịu dừng lại

cứ mở mắt nhìn, ngóng vào ngày mai

 

VIII

 

Chúng tôi biệt giam sự háo hức của tuổi thanh xuân

khi thấy một bà cụ bán rau run lẩy bẩy bên đường

muốn vớt trái bần trôi xanh, xanh và vị chua cám dỗ

giấc mơ về trái bần đi lạc

không nằm yên ngọt ngào trong bát canh trưa

 

Chúng tôi biệt giam với sự đối mặt: hình dạng, cây, chim bay, đống đá, cỏ

chờ đợi bản án của sự im lặng

sự từ tâm đã dạy chúng tôi như một thẩm phán

để vượt qua

 

Một ngày trôi xa

sự quan sát đã để lại một câu đố: thực tế đâu có áp đặt những lời ca ?

 

IX

 

Sự bất lực trải dài những con đường trắng

lắng tai nghe cuộc sống nói đôi điều

qua bên kia ánh chiều là một bình minh khởi sắc

nếu đôi vai có gầy mòn, cụt ngủn

hãy mơ ước đi

 

Điều tồi tệ nhất đã khắc hằn sâu trái tim chúng tôi

giày cứa nỗi đau

lời cuộc sống dịu xoa tỏa nắng chia đều các lối nhỏ

chúng tôi xòe bàn tay phơi những vết thương mau khô

hứng thêm giọt nước mắt của cây

chúng tôi xòe bàn tay hứng những âm thanh vào phiên chợ sáng

nhanh thôi, phiên chợ vãn...mẹ còn nặng bước xiêu xiêu

 

Cơn mưa bất ngờ cất giai điệu lắng

chúng không hề biết sám hối

- hãy đừng là nỗi chờ đợi, chúng thầm thì

chúng tôi nhìn mây đi

và đếm những giọt nước từ cái ô chưa mở

những giọt nước không giống nhau

xoay vòng trên các mũi chân, những gót mòn thủng mũi

giai điệu không hài lòng vỡ nát

giống như một bông hoa bên cửa sổ vừa nở và quay mặt về phía bức tường

 

 

X

 

Những bước chân lang bạt lướt trên sợi dây đàn bầu

những ngón tay phím máu, bật

tục huyền giấc mơ thuở tắm truồng

kí ức trôi dạt bãi bồi chóp đá, ghềnh

chao nghiêng, nghiêng mạn thuyền, lướt

sợi tóc gió rung, mây

trôi

 

Tháng bảy giấc mơ mọc khớp chồi

vung vẩy đòi quà bánh kẹo

những tiếng kêu nằm trong hộp gỗ ngô đồng

lục bục khóc, hể hả cười, giòn

giấc mơ độc tấu tháng bảy cầu hồn

chảy máu trên miếng xương nhỏ

 

Miệng cười và đôi mắt trượt qua những thang âm

réo rắt thì thầm

tiếng chèo khua nước cạn

nỗi đau hầu bóng nhập đồng

 

XI

 

Người đàn ông nhốt tình yêu của lá xanh nằm trong chiếc hũ

nhốt những viên nắng nằm đợi chờ cơn mưa cũ

người đàn ông muốn đóng băng thế giới trong một giây

người đàn ông lau nước mắt và đã đi trên con đường của họ

người đàn ông nhớ về mùa xuân khi đôi giày đã rách

 

Người đàn ông mong muốn đọc được ngôn ngữ của động vật

để chữa lành vết thương

dường như mọi thứ đều khó hiểu với giấc mơ trẻ con

họ mong muốn có chiếc đũa thần

người đàn ông bắt đầu hát và nói với tất cả các loài động vật về thói quen của con người

tiếng nói phủ bóng đen lên vùng hoang dã

có những tiếng nói đã chết

như con ngựa hoang thèm được trở chứng

 

Và người đàn ông đã biết

sẽ phải đi bảy năm bảy tháng để cuối cùng biến thành bảy màu cầu vồng ở bên trái

họ đặt nó vào một ba lô và đeo trên vai

đó là sự tò mò lớn hơn một câu chuyện cảnh báo và sợ hãi

như những cơn co thắt từ chiếc dạ dày

mong đợi tái sinh một màng men mới

họ đốt tuổi thành tro và thả bay theo gió, và nói:

- nó còn sống, nó hoạt động

 

Người đàn ông thấy mình là cậu bé đang bay trên bầu trời

và những cánh chim chở ánh sáng bất tận

người đàn ông từ từ cởi trói sợi dây thừng ở đôi tay

 

XII

 

Giấc mơ bắt đầu xẹt lên từ cái đánh lửa

con tàu lướt qua dưới bầu trời tháng bảy lấp lánh đầy sao với đôi vé khứ hồi

chúng tôi nín thở để lắng nghe: mùi cơm gạo mới, mùi rạ rơm, mùi của những lưng trâu đen nhẻm nắng

hình như tắc nghẽn cả lối về lấp lóa những ánh đèn son phấn tòa rêu

chúng tôi bật những ngọn đèn nhỏ trong toa tàu

như những ngọn nến nhỏ giữa bờ cát chảy dài trong những hốc mắt chờ đợi

chúng tôi muốn khóa thực tế để giấc mơ quá vãng, tìm lại những cái quàng tay yêu thương ngắn ngủi

và có em, cô gái đồng quê gương mặt màu đất chưa bao giờ mở lời khi hừng đông ló dạng

và cuộc sống bắt đầu từ nơi không còn sự phản ứng

 

Giấc mơ bắt đầu tung cánh diều để bay cùng chiếc lá mùa thu

nhưng nó lại chậm như những bước lết chân loài vích hướng bể

trầy xước giấc mơ khi vừa chạm khuôn nước chẳng còn ngọn sóng yên lành

 

Chúng tôi thấy mình như những chú bò may mắn sau cơn mưa trên đồng cỏ xanh

chỉ còn chiếc đuôi ve vẩy đuổi lũ ruồi

và rèn luyện tính kiên nhẫn

để tiêu hóa một chiếc bánh đông sương tẩm bột màu đẹp mắt

và nhìn nuốt những bông hoa, cầm nắm chúng trên hai chiếc móng guốc

và những lá sách đang tiêu hóa sự im lặng

 

Chúng tôi đã thoát ra được nhờ chứng bò điên

và lũ vi trùng lổm ngổm trên da

đau đớn khủng khiếp và khóc cùng trẻ em

suỵt! chúng tôi bảo chúng yên lặng để lắng nghe

những tín hiệu của thảm họa đang đi tới

hãy chuẩn bị thức ăn, áo quần, bít tất, sách vở, sự can đảm...và chiếc gối

để gửi giấc mơ đi nhè nhẹ

 

Trái tim của chúng tôi còn sống

và với tình yêu này còn sống

chúng tôi sẽ ngồi trên hàng đống chiếc vali để khóa những nỗi đau ở lại

trên tay vẫn đôi vé khứ hồi

 

XIII

 

Giấc mơ đi bằng con đường biển

nói chuyện trong một vòng tròn và không đưa ra lời khuyên

nó đang tập bơi qua những rặng san hô tóe máu

nó không thể nuốt niềm tự hào hay nhổ ra một mối hận thù

nó chỉ biết tìm và lắng nghe lời hòa giải từ đại dương

giấc mơ không được cột sợi dây bảo hiểm tính mạng nên sợ hãi chứng ngột nước

như khi chúng tôi nghe những lời bình luận đáng khinh bỉ về chủ đề trái ngược

sự vô vọng đã được tẩm hương thơm và những họa tiết đẹp mắt

phía sau trang sách chảy máu màu xám

chúng tôi đã mang đôi giày trái bươn bả qua lý thuyết đã mấy chục năm

 

Chúng tôi dừng lại trước đại lộ danh vọng, phân vân về các tuyến đường

trước hai cánh cửa màu xanh biển

giấc mơ ghi đè trái tim vào mắt và nhìn thế giới, nhưng tâm trí lại ở trên đôi môi, nó đang thèm được liếm mùi vị

giấc mơ liệt kê một giấy chứng nhận

rằng, nó đã nếm và có vị tanh máu của tia mặt trời

giấc mơ cặp vào chiếc ô màu đen và khép lại trong nắp chiếc đồng hồ tích tắc

 

XIV

 

Một sáng sớm mờ sương

giấc mơ đã bị bịt mõm tiếng líu lo của những chú chim họa mi

bằng những viếc mặt nạ may bằng thứ da bò rất đẹp

đôi cánh bay lên với sự nhầm lẫn

chúng ngỡ mình là những mãnh thú trời xanh đang tự do chao liệng

giấc mơ vắt xác vào lùm cây

vẫn còn những lời độc thoại rực rỡ trong đầu

 

Chúng tôi rơi vào những chiếc cúc áo ngỡ bằng pha lê

chúng đang cài khóa một gia tài còn thơm lựng dấu son của người thiếu nữ

chúng lại chơi trò ảo thuật

lồ lộ những đường cong uốn lượn đến cuối chân trời

những ngọn sóng mây có hình chiếc lưỡi

 

Giấc mơ bắt đầu xây núi cát để cạnh tranh sự hơn thua những đường đua của loài còng biển

nó ngụy trang trong những chiếc mai rùa

giấc mơ đã làm chúng tôi sụp lún

khi sóng trắng xâm thực ngày càng nhiều hơn

 

Giấc mơ đi về con đường hướng dương

bóc vỡ trái tim thành hình dạng chiếc lá

rơi nhẹ trên cánh đồi mùa thu vừa mới đâm chồi

 

XV

 

Chúng tôi đã học im lặng trong nhều năm

giấc mơ đã quên tiếng nói

nó hỗn loạn và thỉnh thoảng nghiến răng

giấc mơ đã bị đồng hóa từ những bước đi từ thuở sơ sinh trên một con đường màu vàng rất đẹp

mỗi ngày chúng tôi gặp những con người trong chiếc mặt nạ và chỉ nghe qua lời nói

chúng tôi đã không biết trả lời

đôi lúc chúng tôi phải đeo mặt nạ để thanh toán hóa đơn, để la hét, để gỡ lại niềm tin

để giải quyết những uất ức mà giấc mơ không thể biểu lộ bằng lời nói

giống như tiếng gầm của loài báo đốm còn sót lại mơ ước màu thịt đỏ trên cánh đồng cỏ xanh

chúng tôi thật an toàn lắc lư trên những con thú nhồi bông

trong những chiếc lồng kính

 

Một ngày,

chúng tôi úp mặt trên lòng đất để gặm mòn dấu cũ

và nhấm nháp chiếc rau đã chôn mấy chục năm

 

XVI

 

Hôm nay giấc mơ kể một câu chuyện cổ tích

chỉ là bắt đầu và kết thúc bằng một dấu chấm

giấc mơ đã chui tọt vào gót chân của thần thoại như một mũi tên tẩm độc

nó khoái trá và kiêu hãnh vút

đó là thần thoại về người yêu cũ

đôi khi hoàn hảo đôi khi là kẻ thù

giống như giấc mơ đi đến tiệm làm tóc

hốt hoảng khi mình trọc lóc và khéo léo đội lên bộ tóc vàng như ngài luật sư

giấc mơ lạc vào những cuộc hội thoại và thốt lên những câu hỏi nghi ngờ

để được nghiền nát và kết nối với nhau như một mớ xúc xích

 

Giấc mơ hốt hoảng gọi tên bằng kí hiệu

dấu chấm trả lời: Kết thúc

 

XVII

 

Giấc mơ đang dựng một chiếc khung bằng gỗ hương rất đẹp

bao quanh một cành anh đào trắng

để dụ dỗ loài miều đỏ

chúng được kết chặt bằng loại keo thực phẩm

 

Đã có một chú mều đỏ bay vào nhảy nhót, cất tiếng hót xin một bữa sáng:

- ở đây bạn có mật hoa?

giấc mơ không nghe thấy và mãi ngồi ca hát trước chú chim đang dần dần bị dính chặt

nó bỏ mặc giấc mơ độc hành, những lời hát cứa vào sự tổn thương

- này, bạn có muốn được bay?

giấc mơ không nghe và mãi ca hát

đến khi chim biến mất trong những cánh anh đào

 

XVIII

 

Một ngày chúng tôi được đi du lịch bằng chân

chúng tôi muốn phá vỡ khối u và phá vỡ sự khuôn mẫu

một túi xách, một chậu lan, một bình nước nhỏ

chúng tôi đang di chuyển ngôi nhà của mình

 

Chúng tôi đã nhận ra giấc mơ đã có những rào cản

chúng tôi đã chạm lên nỗi khát và cơn đói

những cảm giác cuộc sống không dễ dàng tìm kiếm

chúng tôi muốn di chuyển các bức tường trên bàn phím

để nếm trải mùi vị từ những chiếc lưỡi kền kền

để chúng tôi có thể yêu thương nhau nhiều hơn

 

Giấc mơ đang nằm hong những huyền thoại tình yêu

những  huyền thoại màu lau trắng

đang lắng nghe sự phân tán

giấc mơ còn lại một nửa: một nửa đi bộ, một nửa hạnh phúc, một nửa đam mê

và cuối cùng cháy trên ngọn lửa già

XVIII

 

Chúng tôi bước lên bậc tam cấp và để giấc mơ bay vào trường học

chúng tôi là những cô bé cậu bé nhỏ với đôi vai trĩu nặng móc vào chữ @

chúng tôi không còn tự do vẽ, vẽ tất cả: sư tử và hổ, gà và bò, xe lửa và tàu...

có một cậu bé trong lớp tôi không nói gì, cậu ấy sợ đánh mất cá tính

sự thơ ngây đất sét đã nhào nặn ra những khuôn hình tuyệt đẹp

còn cậu ấy đè bẹp miếng đất sét của mình

cậu ấy đang trì hoãn sự im lặng

 

May mắn thay, giấc mơ không bị chết, nó đã được tái sanh

những màu sắc hồng, cam và màu xanh

 hiện lên như một kho tàng chưa được khám phá

bắt đầu từ những bông hoa trên nhãn vở

cậu bé đã thấy tự tin để vẽ: voi và những con chuột

 

Giấc mơ đang bay giữa đất đai màu mỡ

nơi ấy cậu bé đã tìm được chính mình

từ miếng đất sét bị đè bẹp

giấc mơ đã thoát những cánh cửa đóng trong khu vườn bị cấm

đó là thời gian hạnh phúc của chúng tôi khi đến trường

 

Sớm hôm sau, khi mặt trời lên

chúng tôi vẫn là những cô bé cậu bé nhỏ với đôi vai trĩu nặng móc vào chữ @

 

XIX

 

Chúng tôi đi vòng quanh vòng quanh

trên chiếc xe đạp và thư giãn lặng lẽ trong ánh mặt trời

bên dưới vòm cây xanh và những con đường đất cát

những vòng quanh vòng quanh thắt chặt

để đo quĩ đạo của mặt trăng

đang gần đang gần

để lí giải sự tuyệt chủng của loài khủng long và cái chết của kí ức

chúng tôi đi trong vòng tròn với bàn tay của mình như một tù nhân

và thấy con người đã nợ thiên nhiên lớn như mặt trời

 

Chúng tôi lo sợ sự trừng phạt nằm trên các đầu gối

khi lòng kiêu hãnh bị bán rẻ

lòng kiêu hãnh chống chế bằng sự giận dữ của thiên tai

nơi ấy xoáy lốc cả lòng người, tứ tán cả những linh hồn đang rơi

 

Thiên nhiên muốn nhắc nhở những gì chúng ta quên

sự giận dữ đang lớn như mặt trời và chúng ta thật  nhỏ bé

chúng ta không thể lay chuyển

những đốt sống kéo dài nền hiện đại mấy nghìn năm

 

Chúng tôi đi vòng quanh vòng quanh

chúng tôi muốn trở lại tìm con đường hoang sơ và thưởng thức cuộc sống

để được cõng gùi ánh sáng bình minh, để được nhìn những đôi mắt tròn xoe trong vắt

chúng tôi sẽ gùi những con chữ hoang sơ và đẹp như thảm cỏ

 trải dài hơn những trang cổ tích hiện đại

giấc mơ muốn dừng lại để làm một cái gì đó

ngay khi mặt trời chiếu những tia nắng đầu tiên

 

XX

Một ngày giấc mơ muốn biến mình thành sắc đỏ, để được yêu nhiều hơn nữa

bay về phía ngoài đường chân trời

Một bờ cát dài thật tuyệt chảy ra từ trong thung lũng mùa vàng

chúng mình đã đợi nhau ở đấy

chúng mình đã vượt ra ngoài đường chân trời để chơi trò ảo thuật trái tim

chúng mình bỏ cát vào trong túi, nhét đầy trong tai, nhét đầy những chiếc giày như những đứa trẻ

và đã không xây lâu đài

những đam mê đang hét lên ở phía ngoài kia

từ ngoài đường chân trời

chúng mình cứ mặc, chôn vùi trong cát

bắt đầu một chuyến hành trình dài

của tình yêu

xa hơn con tàu

 

Chúng mình cứ đi, mặc

và biến mất ở ngoài đường chân trời

chỉ có gió và bờ cát dài lấp phủ

 

 

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 254)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 233)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 425)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 372)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 507)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 633)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1039)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1110)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2051)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 630)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11075)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17721)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16771)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 424)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 507)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2050)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2565)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 371)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2437)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2199)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2791)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1039)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1109)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1651)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2428)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 253)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 230)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2272)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3100)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14424)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30493)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36776)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12192)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13534)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3962)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 6000)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5476)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6042)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6688)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9003)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8296)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11235)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.