- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Những Người Thầy

30 Tháng Mười 20145:03 CH(Xem: 61179)


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Với lối viết bình dị, nhưng truyện của Nguyễn Trung ghi lại trong tâm tư người đọc sự hoài niệm về thời gian đã mất, và cuộc sống  vẫn luôn là một diệu kỳ đáng sống bởi tình người. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí bạn đọc và văn hữu những tác phẩm của Nguyễn Trung.

 

Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

 

- Tam Kỳ. Hai trăm.- Người phụ xe ra giá và xách gói đồ của tôi.

Tôi buột miệng:

- Trăm hai.

- Lên luôn! – Bà chủ xe hét to, đẩy tôi lên.

Thế là ổn. Ngày đi mười lăm năm trước – xe đò, ngày về – xe đò. Thiên hạ thì xe con, tàu tốc hành, máy bay, còn mình vẫn vậy, tạm gọi xóa đói nhưng chưa thoát nghèo. Nghĩ cũng tức ông-bạn-hiệu-trưởng, khi ký tờ giấy nghỉ phép cho mình, Tài trắng trợn tuyên bố: “Đi phép ư ? Cứ việc! Tiền tàu xe phép thì… thiên thu, cứ vợ lo cái chắc”.

            Tài khôn thật, bảo không thanh toán thì trái quy định của ngành, của nhà nước. Thay vì nói không chi, Tài thường an ủi chưa có. Nể mình, chỗ anh em, Tài mới nói rõ hơn, thiên thu, để mình biết mà tính toán phương tiện.

Hơn mười năm làm quản lý, nhiều câu nói của Tài mình phục lăn.

Trong các buổi thảo luận, cứ nghe ý kiến cuối cùng của Tài thì anh A cho rằng mình đúng; em B thấy mình không sai; chị C, ông D nghĩ mình sáng suốt. Và cuộc hội họp nào cũng kết thúc một cách vô bổ…

- Cho tiền xe! - Bà chủ nhà xe bảo.

Tôi đưa hai tờ một trăm nghìn. Bà chủ xe đưa lại một tờ, bảo:

- Lấy thầy một trăm thôi.

- …?

- Gói tiêu thầy làm rơi lúc lên xe nè.

Tôi sững sờ, quá nhiều câu hỏi trong đầu, quên cả lời cảm ơn.

Nhớ lời bố dạy: “Con nhìn kỹ mới thấy nhiều người tốt. Cái tốt mới được gọi là văn hóa. Còn mã, mác mà nhiều người vẫn vẫn hiểu lầm là trí thức, trình độ thì…  Nghề dạy học hợp với con. Đó là môi trường trong sạch. Hãy sống cho xứng hai chữ giáo viên”.

Năm tôi hai sáu tuổi, đó là lần đầu tiên bố tâm sự. Bố nói chuyện nghề nghiệp mà tôi chỉ nghĩ đến chuyện yêu đương. Lúc ấy bạn gái tôi, đi dạy trước tôi ba năm, rủ tôi vào Nam lập nghiệp…

Tôi cất tiền thối vào chỗ để năm-triệu-sửa-nhà. Nghĩ một hồi lại lấy tiền thối ra, bỏ vào túi áo trên. Tới Ninh Thuận mình sẽ mua nho và rượu nho về cúng bố, còn dư thì mua vài ký thanh long làm quà. Mấy lần trước, bố mẹ và chị em đều khen quà rẻ mà ngon.

Tôi thở phào, ngả đầu ra ghế. Nghĩ lại thấy cũng thương Tài, đồng hương Tam Kỳ, ở gần nhà tôi, học sau tôi hai lớp. Lúc ấy Tài đang chơi không chờ việc, thường uống cà phê với nhau, nên tôi kéo luôn vào trong này.

Năm đầu Tài vất vả hơn tôi. Tôi thường đùa: Dạy thế thì hư cả một thế hệ. Nếu dạy dở tốt hơn hãy làm quản lý.

Nói chơi mà đúng. Năm sau, nhờ khiếu tán tỉnh, Tài cưới con gái rượu của ông trưởng phòng giáo dục và lập tức được đề bạt hiệu phó chuyên môn, một tuần dạy vài tiết Giáo dục Công dân. Năm sau nữa, thầy hiệu trưởng già quá thật thà “được” trên cử đi học cao cấp chính trị. Tài lên quyền rồi sau bỏ quyền lên thẳng hiệu trưởng.

Trong bữa tiệc mừng tổ chức tại nhà Tài, vợ tôi bảo: “Tài đúng là tài!”

“Vợ là cứu cánh… mà… đâu dám quên sự dìu dắt, ủng hộ của anh chị. - Tài vừa nói vừa nhìn thiên thần hộ mệnh của mình một cách tình tứ - Phải vậy không, em yêu?…”

Như để trả ơn, Tài giao cho vợ tôi chức danh chuyên trách phổ cập.

Vợ tôi hỏi: “Thế thì bỏ dạy à?”

Tài bảo: “Làm chơi hưởng thật mới sướng. Phổ cập là việc mọi người nhưng chỉ vài người được hưởng”.

Đúng như Tài hứa, đầu năm học vợ tôi loay hoay với chồng hồ sơ khoảng một tháng, cứ dồn công việc cho đến khi mình tôi không thể làm nổi là phân công nhiệm vụ cho từng giáo viên: điều tra, ghi chép, thống kê, báo cáo…

“Đồng chí nào làm sai, thiếu tinh thần trách nhiệm sẽ chịu kỷ luật của ngành”. - Tài hùng hồn tuyên bố - Phổ cập là công tác của toàn xã hội. Các đồng chí là giáo viên xem đó như trọng trách.

Thế là vợ tôi nghỉ hè sớm, chơi không từ tháng 11 cho đến gần hết năm học. Lâu lâu vợ tôi mới viết báo cáo hoặc đi làm phổ cập; còn lên truyền hình địa phương thì thường xuyên.

Có ban giám hiệu và phòng giáo dục hậu thuẫn, vợ tôi hét ra lửa. Đố ai dám ý kiến.

Phổ cập gắn liền với ba chữ công-tác-phí, nên (nói ra thì tội lỗi) lương tháng của vợ gấp đôi tôi. Việc nặng nhọc – giáo viên làm; việc nhẹ nhàng – vợ tôi lo. Đến tháng, lương nhận đủ, phụ cấp vô tư.

Để đảm bảo chỉ tiêu phổ cập, vợ tôi báo cáo láo vô tội vạ. Học sinh bỏ học thì ghi “chuyển trường, đi học ở thành phố Hồ Chí Minh”. Tệ hại hơn, lúc bí quá điều tra không ra, ghi là chết.

Mới đầu tôi phản ứng dữ: “Chắc các em bỏ học, đi lượm ve chai, bán vé số phụ giúp gia đình, hoặc do mình không đi điều tra, hoặc ghi sai họ tên, địa chỉ… chứ kết luận “chết” là mang tội đấy.

Ông bạn-đáng-kính-nể của tôi cười, bảo: “Thì cũng vì việc chung. Các anh ở trên bật đèn xanh rồi, cứ thế mà làm. Ông tưởng mình ông biết thôi sao. Cả triệu người biết. Không hoàn thành chỉ tiêu phổ cập thì ông, tôi và… còn nữa… biết ăn nói sao? Khôn dại tại hồ sơ… Các em chẳng… thì … có mà chết cả lũ! Hoàn cảnh ông nheo nhóc, tôi thương mới tạo điều kiện. Ông không cảm ơn tôi cũng nên cảm ơn vợ ông chứ. Niêu cơm của gia đình mà ông nỡ đập bể sao?

Vợ tôi nhìn tôi. Tôi nín thinh. Lương ba cọc ba đồng, không đủ tiền về thăm quê còn ý kiến nỗi gì.

Tài được nước, nói tới luôn: “Ông cổ hủ, kém nhạy bén, không năng động. Những người như ông là nhân tố gây trì trệ, bất ổn cho xã hội”.

Tài khuyên tôi hoàn thành tốt vai trò của người chủ gia đình, người chồng, người cha trước khi nghĩ đến chuyện lớn lao, cao cả. Rồi Tài bắt đầu kể lể về thành quả nhà trường, ban giám hiệu và… vợ tôi đạt được trong công tác phổ cập trung học cơ sở: nào “gần 40 em, không tham gia lớp học phổ cập, chỉ ghi tên cũng được tốt nghiệp cấp 2, nào “hiệu quả đào tạo, đạt chuẩn phổ cập”, nào “được ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng khen”…

“Đảng, nhà nước quan tâm, bỏ ra tiền tỉ chứ đâu phải chuyện chơi” - Tài nhấn mạnh.

Tôi bảo:

“Nếu có thể, tôi thuê tiến sĩ, giáo sư dạy cho từng em, một thầy một trò thì chất lượng hơn mà tiết kiệm được ối tiền”.

Tài bảo:

“Ngược lại, ý tưởng của ông chỉ làm nghèo đất nước. Đó là suy nghĩ của một nông dân chứ không phải của một trí thức. Tiền này là của cả trong và ngoài nước. Nó chảy, đổ vào đâu thì đất nước cũng giàu lên, xã hội cũng thay đổi theo hướng tích cực. Tiền cấp về mà tiết kiệm là dại dột, nói theo lối bình dân là điên mà không khôn”.

Tôi giận tím mặt:

“Tài khác xưa quá rồi…”

Tôi tiễn Tài ra cửa không nói thêm được lời nào…

*

**

- Mời cô bác xuống nghỉ ngơi, cơm nước, mua quà…

Xe dừng. Hành khách lục tục kéo xuống.

Đúng giữa trưa, trời nóng như đổ lửa. Nhờ báo chí lên tiếng mà mấy năm trở lại đây hành khách xe đường dài thoát khỏi cảnh cơm tù, không phải thượng đế nhưng cũng không bị coi như ăn mày, tù nhân nữa.

Rửa ráy, ăn cơm, uống một chai bia, mua quà xong tôi vẫn còn năm chục trong túi áo (không kể năm triệu trong bóp). Sau một hồi năn nỉ, ỉ ôi, chị bán vé số giúp tôi nhẹ túi hơn, còn bốn chục.

Máy nổ, xe chuẩn bị lên đường. Một em trai nhảy lên xe, mếu máo hỏi một anh râu quai nón, mặc đồ lính. Sau nhiều cái khua tay, lắc đầu của hành khách, em trai khóc rống lên:

- Trời ơi, nó lừa tôi bảy chục tờ vé số, bảo lên xe lấy tiền rồi chuồn luôn!

Ông cụ ngồi bên tôi (trông rất giống bố tôi) móc ví cho năm chục. Tôi nhanh nhẩu dúi theo hai chục. Em bán vé số gọn gàng chộp lấy tiền, nhảy xuống xe, mất hút vào đội quân bán dạo.

Bác tài quay lại thở dài:

- Chẳng biết ai lừa ai!

Tôi nhìn ông cụ. Không có biểu hiện nào trên khuôn mặt phúc hậu ấy. Tôi nhìn năm kí hồ tiêu đựng trong ba lớp túi nhựa tưởng đã mất lẩm bẩm: đố ai lường hết mọi điều…, cảm thấy lòng nhẹ nhàng hơn.

Xe lăn bánh. Tôi ngủ chập chờn… Cứ nhắm mắt lại là thấy ngôi nhà ở Tam Kỳ. Đối với gia đình tôi, ngôi nhà rất đặc biệt. Nhà cấp 4, có tuổi hơn 40, nhìn về hướng Tây. Khó nói ngôi nhà nhỏ hay lớn, chỉ biết là cũ và xinh xắn, sân hẹp lát gạch, có cây lấy bóng mát. Dưới gốc cây vú sữa để một bộ bàn ghế nhỏ bằng gỗ, nơi bố tôi thường ngồi uống trà, đọc báo. Chính tại đây, nhìn tia nắng chiều yếu ớt chen qua kẽ lá, bố tôi sáng tác được nhiều bài thơ hay.

Gia đình tôi ở cố định từ khi được phân nhà. Tuổi thơ của bốn chị em tôi đều gắn bó với ngôi nhà. Ngôi nhà và khoảng sân nhỏ xinh hầu như có trong mọi ảnh chụp gia đình.

Bố tôi là nhà thơ, nhà giáo ưu tú. Ông giữ chức trưởng phòng giáo vụ của một trường trung cấp chuyên nghiệp gần 30 năm cho đến ngày nghỉ hưu vẫn chưa có được giấy chứng nhận quyền sử dụng ngôi nhà và mảnh đất ấy. Mẹ tôi là công nhân vườn ươm ở trại giống thuộc trường bố.

Khi bố nhận được giấy điều động về tỉnh, sếp của bố tới thăm, phán:

“Tầm cỡ thầy mà ở ngôi nhà này thì… quá nhỏ. Thầy ở lại giúp tôi, tôi sẽ cấp thêm 100 m2 đất bên hông nhà để thầy trồng cây cảnh. Gắn bó với trường lâu thế lẽ nào thầy bỏ mà đi”.

Bố mộng mơ và thánh thiện, mẹ thì thẳng thắn chân quê. Bố mẹ chẳng biết bon chen, không ham quyền chức nên đồng ý ở lại.

Vài tháng sau, trong hội nghị công nhân viên chức lại có ý kiến cho rằng nhà bố quá to. Thế là phần đất mới được cấp thêm bị cắt một nửa. Cũng năm ấy, bố có người-học-trò-giám-đốc-sở về thăm thầy, nhắc khéo sao đó mà ngôi nhà từ quá to chuyển thành quá nhỏ; nên bốn tháng sau bố có lại 50 m2 đất.

Rồi một thập niên trôi qua, bố mẹ già đi, ngôi nhà xuống cấp. Theo thời gian, chúng tôi lớn lên nhưng ngôi nhà chẳng lớn thêm, vẫn 40 m2 nhà ở cho sáu người.

Năm bố về hưu, mẹ ốm đau liên tục buộc phải nghỉ mất sức. Được ít tiền trợ cấp, bố xây thêm 30 m2 nhà ở. Thế mà cũng có lời ong tiếng ve: chiếm dụng đất nhà nước, tự nhiên có ngôi nhà to, đẹp đàng hoàng…

Vào thời dân biết – dân bàn – dân làm – dân kiểm tra, bố tôi có một bài thơ gây tiếng vang trên văn đàn. Nhà tôi vui như hội. Nhiều nhà báo ở tỉnh và cả trung ương đến thăm. Họ lại phàn nàn nhà quá chật chội. Chắc nhột tai sếp nên cuối năm ấy bố có được giấy cấp nhà (với điều kiện phải đóng một khoản tiền mà cả nhà nhìn vào đều chóng mặt). Mãi tới năm bố tôi không ở trên đời được nữa, chị em tôi mới đóng đủ số tiền đó.

Trong các bài viết ở bậc phổ thông cũng như các sáng tác của chúng tôi sau này đều không nói được là ngôi nhà đặc biệt ấy nhỏ hay lớn. Riêng bố, những năm cuối cuộc đời một nhà giáo thanh bạch, sáng tác bài Suối mơ đề tặng Văn Cao, ở khổ cuối viết:

            Cảm ơn người nghệ sĩ tài hoa

            Đã vì ta viết khúc tình ca

            Cho mãi mãi em mười sáu tuổi

            Dẫu riêng tôi nay vẫn không nhà...

Có lần tôi và Tài cùng về Tam Kỳ. Tài còn người thân duy nhất là anh Hai, người nuôi Tài ăn học nên người.

Tài đem quà tới biếu bố mẹ tôi. Tài cũng chê nhà chật và nóng, không bằng nhà tôi và nhà Tài trong này.

Thấy mẹ có vẻ buồn, bố bảo:

“Rộng, chật ở lòng ta”.

Lần ấy, ông giáo già và hai thầy trẻ bàn về giáo dục.

Bố bảo:

“Học sinh giờ lanh hơn bọn mình xưa”.

Tài bảo:

“Trên khoán cho tụi con như khoán sản phẩm. Chưa biết thầy dạy thế nào, trò học ra sao vẫn có con số cụ thể buộc phải thực hiện”.

Tôi bảo:

“Số lượng học sinh khá- giỏi trên một nửa. Lên lớp thẳng gần như 100%. Chất lượng thì khó nói lắm… Có gia đình chờ giáo viên đến nhà vận động và hứa miễn mọi khoản tiền cho con em họ mới đồng ý để các em đi học lại. Thế mà các em đó ngồi học chẳng yên. Cứ có tiết thao giảng, tiết dạy tốt, tiết thanh tra… là các em đó (và cả những em-yếu-lì-lười) được mời ra khỏi lớp nhằm mục đích tránh ảnh hưởng đến phong trào học tốt của lớp, phong trào dạy tốt của thầy cô. Nhiều lúc con nghĩ hoặc phổ cập giáo dục hoặc nâng cao chất lượng, cứ chọn một trong hai thì nhiệm vụ của ngành mới rạch ròi. Nói thật với bố, xin cho con em được danh hiệu học sinh giỏi dễ hơn xin cho chúng được ở lại lớp”. 

Tài bảo:

“Học yếu mấy cũng phải cho lên lớp chứ không thì các em bỏ học. Học tập, rèn luyện ở trường, các em không biết nhiều cũng biết ít. Nghỉ sớm, không có ai quản, dễ hư lắm! Ta chỉ cần chú ý đến chất lượng học sinh giỏi là được rồi”.

Bố bảo:

“Hai con đều có ý đúng. Theo bố, càng chạy theo chỉ tiêu càng quan tâm chất lượng dạy và học, thế mới được. Cho điểm, đánh giá, xếp loại một con người thật sự khó. Vì lòng yêu nghề mến trẻ ta chấp nhận một khoảng mở nào đó. Nên dừng lại ở khoảng cho phép của chữ Tâm và chữ Tình. Sự vượt quá giới hạn sẽ tạo ra những con số không tưởng. Lâu ngày đâm quen, dẫn đến việc dối trá trong ngành giáo dục”.

Tài lì xì cho em trai út tôi, đưa tiền cho em trai kế tôi, bảo:

“Mua thêm cái quạt máy cho bác gái”.

Mẹ tôi bảo:

“Cám ơn cháu, nhưng bác không nhận đâu”.

Tài bảo:

“Giờ cháu khá rồi, không như hồi trước nữa, bác đừng ngại”.

Nói xong Tài cáo lui.

Bố bảo:

“Tư tưởng của con không thoáng bằng thằng Tài. Nó thức thời đấy”.

Tôi bảo:

“Tài cơ hội lắm”.

Bố bảo:

“Nên nhìn vào mặt tốt của người mà học tập. Chỉ thấy mặt xấu khiến đầu óc nặng nề. Cái khuyết của người không phải để phê phán hằn học mà để soi lại mình, rút kinh nghiệm và… góp ý cho họ”.

Tôi bảo:

“Con nghe bố”.

Bố bảo:

“Hè sau dẫn các cháu về, đừng bắt học hè. Đánh cắp tuổi thơ là tội lớn đấy!”

“Dạ” – Tôi lí nhí.

Như đã hứa, năm sau đó cả gia đình tôi và gia đình Tài nghỉ phép hè về thăm quê.

Vợ tôi và vợ Tài đi chợ, nấu bữa cơm thân mật ở nhà tôi.

Bố bảo tôi:

“Con có sức khỏe hơn năm ngoái”.

Tôi bảo:

“Thằng Tài trông bệ vệ hẳn ra”.

Vừa lúc Tài chở một thùng bia lon về, cười:

“Bụng bia mà”.

Rồi Tài khen:

“Gian nhà bác mới làm thêm được lắm!”

Bố bảo:

“Theo kế hoạch chỉ đạt một nửa. Gian nhà cũ xuống cấp quá rồi”.

Tôi bảo:

“Để vài năm chị em con sửa lại cho bố”.

Bố bảo:

“Các con thực hiện cải cách, đổi mới trong giáo dục là tốt. Nên giữ lại những ưu điểm của nền giáo dục cũ. Có nhiều cái hay lắm”.

Đó là lần cuối cùng bố tôi nói chuyện với Tài.

Ngày bố bị bệnh nặng, được tin, vợ chồng tôi đem hai cháu về. Thời gian nằm viện bố tôi vẫn còn hỏi thăm Tài và chuyện nghề nghiệp của chúng tôi.

Bố bảo:

“Phải làm trong sạch và tránh thương mại hóa môi trường giáo dục”.

Trong bốn chị em, mình tôi theo nghề dạy học và có thơ đăng báo nên bố đưa tôi ba tập thơ và một quyển hồi ký còn viết dở. (Chị tôi làm thống kê. Em trai kế là kỹ sư địa chất. Em trai út theo học ngành xây dựng).

Con cháu về đông đủ cả. Bố rờ đầu các cháu nội ngoại, nắm tay mẹ, gắng nhìn chúng tôi một hồi rồi nhắm mắt.

Bố mất. Tôi gọi điện xin Tài thêm một tuần lo việc tang gia. Tài gởi lời chia buồn và nhắc tôi động viên an ủi mẹ. Lần đó tôi nói lời cảm ơn Tài một cách thực lòng.

Đêm trước ngày tôi đưa vợ con vào miền Nam, đại gia đình ngồi lại bên nhau, trước bàn thờ bố. Mẹ đốt nhang khấn vái và báo cho bố biết đã làm được sổ đỏ cho ngôi nhà. Rồi mẹ khóc:

“Khổ thân ông! Cả đời cực nhọc… mới sướng được vài năm đã…”

Chị bảo:

“Bố đi thanh thản lắm”.

Vợ tôi bảo:

“Mẹ cố giữ gìn sức khỏe. Bố phù hộ cho đại gia đình ta”.

Chúng tôi bàn tính sửa gian nhà trên vì tường nứt nhiều chỗ và ngói dột.

Chị bảo:

“Chị mười triệu”.

Em kế bảo:

“Con năm triệu”.

Em út bảo:

“Em vẽ thiết kế và mua cây cảnh trước sân”.

Tôi bảo:

“Con viết truyện ngắn về nhà giáo Việt Nam để dự thi”.

Chị cười, mắt hiền khô như bố, hỏi:

“Là bao nhiêu?”

Vợ tôi bảo:

“Vợ chồng con năm triệu”.

Tôi bảo:

“Giải nhất ba mươi triệu đồng và nhiều giải thưởng khác”.

Chị bảo:

“Hè tới, trước mùa mưa, sửa nha”.

Chị tôi lấy hai mảnh vải trắng, bảo thằng út viết câu đối.

Chị đọc:

            “Thong dong nơi dòng đời trần thế

              Dịu sáng chốn tiên giới vĩnh hằng”.

Nghệ thuật thư pháp của em trai út tôi cũng khá nên mười phút sau câu đối đã được treo lên.

Em kế tôi lấy tờ lịch treo tường, lật phía sau, đặt nằm ngang, đưa thằng Út, đọc:

            “Tóc cha không bạc nữa

            Trán mẹ thêm nếp nhăn

            Em làm sao hiểu được

            Tôi một đời ăn năn”.

Mẹ bảo:

“Địa chất mà cũng… văn với chả thơ”.

Và mẹ khóc.

Chị nhìn tôi…

Tôi bảo:

“Em vẫn nói câu cũ: Viết truyện ngắn. Nếu được giải không những em có tiền sửa nhà cho mẹ mà còn in thơ cho bố chứ chẳng chơi”.

Sau này tôi mới biết rằng mình đã nói quá.

*

**

- Ai xuống Tam Kỳ, chuẩn bị! - Tiếng người phụ xe.

Tôi đứng lên, lấy các gói quà trên bệ hành lý, xách va-li đồ.

Xe dừng. Tôi bước xuống chính tại nơi mười lăm năm trước đón xe vào Nam lập nghiệp. Sáng hôm ấy, mưa nhẹ bay; tối nay, trời oi bức.

Mẹ còn khỏe không? Một mình, ăn uống thất thường chắc mẹ gầy đi nhiều. Ngôi nhà sửa xong trông thế nào nhỉ? Lòng tôi xốn xang. Tiền mang về mà truyện thì mới phác thảo. Viết xong liệu có được đăng không? Mà đâu phải cứ được lên báo là có giải…

- Đi đâu? – Người xe ôm hỏi, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

- Không, cảm ơn.

Tôi vừa đi vừa nhớ lại buổi sáng trời mưa ấy.

Bố bảo: “Đất quê ta mênh mông. Cả thế giới là nhà”.

Mẹ khóc:

“Tự lo cho bản thân… chú ý sức khỏe, con ạ!”

Chị dặn:

“Công tác tốt nhé!”.

Hai em nhìn tôi, không nói gì.

Ngày đám cưới tôi tổ chức trong Nam, chỉ có bố và chị. Nay về chỉ có mẹ và chị ở Tam Kỳ, chị đã ra riêng, cách nhà mẹ năm cây số, còn hai em đều công tác xa…

Tôi nhẹ nhàng mở cánh cửa sắt nhỏ xinh. Mẹ đang ngồi trên ghế đá. Ơn trời, mẹ tôi vẫn khỏe nhưng mắt đã kém. Mẹ không nhìn thấy tôi. Tôi thả đồ, ôm chầm lấy mẹ:

- Thưa mẹ, con về nhà!

Mẹ khóc…

Có tiếng chuông điện thoại.

Tôi vào nhà: sạch và gọn. Bàn thờ mới, tường sơn xanh, la-phông nhựa, nền gạch đen – trắng…

Tôi nhấc điện thoại. Là Tài. Tài về tàu, cùng ngày với tôi, mới tới ga Nha Trang. Tài hỏi thăm mẹ tôi và chuyện nhà cửa. Tôi bảo tôi vừa về đến.

Tôi khoe:

- Đi xe vừa rẻ vừa nhanh.

- Ngồi tàu chầm chậm mà sướng. – Tài chọc lại.

Tôi bảo:

- Sáng mai uống cà-phê!

Tài ô-kê và cúp máy.

Dù còn nhiều điểm bất đồng, chúng tôi vẫn là bạn.

Đêm. Tôi mơ thấy bố tay cầm mũ, tay cầm cặp đen như vừa đi dạy về.

Giật mình tỉnh giấc, tôi đốt nhang cho bố. Có một chiếc cặp da trên bàn thờ. Tôi mở cặp. Nhiều giấy tờ và… hai lá thư. Một lá của tôi báo tin vợ chồng tôi mới xây ngôi nhà “rộng hơn và đẹp hơn nhà bố mẹ”. Lá thư kia bố viết mà không gởi.

"Con,

Nhớ trả tiền cho thầy Tài; bố không hỏi mượn mà thầy cứ ép cầm.

...

Các con đi rồi, ngôi nhà rộng đến vô cùng…"

Cảm nhận được sự trống vắng và cái "vô cùng", tôi ứa nước mắt…

 

 

NGUYỄN TRUNG

Ý kiến bạn đọc
01 Tháng Mười Một 201410:55 CH
Khách
Hay! Đã lâu mới thấy một người viết đấng để đọc. Cám ơn Hợp lưu.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 853)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 902)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 747)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 666)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2968)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1896)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2510)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15603)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16030)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 872)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2968)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 717)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4999)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6874)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6161)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 823)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2745)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2230)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2057)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2214)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2258)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 654)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29226)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35563)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10518)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12419)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3047)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3851)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7552)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6915)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9441)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.