- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Biển Hoa Vàng

03 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 65009)

w_finalfinal3-hopluu103-1-133_0_224x300_1LTS: Tiếp nối truyện ngắn "Đôi Mắt Hoa Vàng" đã đăng trên Hợp Lưu số 101, "Biển Hoa Vàng" là một truyện tình lạ. Bằng bút pháp tượng trưng, Nguyễn Xuân Tường Vy dẫn đưa người đọc vào một tình yêu đồng nghĩa với đánh tráo; cùng với nhịp tiết, hình ảnh, âm vang, vận tốc và sự đậm đặc cảm xúc làm nên tính cách đặc sắc của truyện ngắn này.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

Tôi lái xe vòng theo chân đồi. Con đường uốn cong lên mãi. Mộ chị nằm trên đỉnh không gian bạt ngàn gió. Buổi chiều óng ánh nắng mật. Màu vàng mềm mại rắc hạt lốm đốm trên mặt chị. Tôi băn khoăn nhìn đôi mắt chị mở to. Chị có hạnh phúc? Tôi chạm tay xuống tấm bia đá hoa cương cẩn khuôn mặt chị. Hình chị đang cười, mà nhìn gần lại tựa như khóc. Hôm nào đỉnh đồi mù sương, hẳn tôi sẽ nhìn thấy nước mắt đọng trên mặt chị. Tôi phủi những hạt bụi trên mặt bia. Mắt chị thăm thẳm trống rỗng như ngày cuối cùng tôi gặp chị. Gió rì rào nhạc khúc quen thuộc. Màu vàng rực rỡ bập bềnh loang xuống ghềnh đá. Sóng thênh thang. Mặt biển sóng sánh màu mật. Tôi dẫm bàn chân lạnh lên phiến đá ướt rêu. Tôi bước xuống nền cát, chân ngập trong bọt sóng, thứ bọt trắng xốp li ti nổ lách tách. Tôi thèm được trầm mình vào khối mật quyện ngọt da. Lần đầu tiên khám phá điều bí mật của N, tôi cũng đã đến đây, quăng mình vào biển hoa vàng trong buổi đêm chập chùng ma quái. Tôi ngỡ biển đã muốn nuốt chửng tôi đêm ấy.

Những con sóng quật vào hất ra, tung tôi lên rồi ghìm tôi lại. Lớp sóng này ném tôi vào đá. Lớp sóng kia ôm tôi xa bờ. Hết đợt này đến đợt khác, tung cao rồi nhận chìm. Biển như người đàn ông yêu quá độ, giận dỗi quất lên thân thể người yêu đòn roi rướm máu, rồi ân hận vỗ về với tất cả trìu mến. Tôi buông mình vào vũng nước đen lởm chởm đá ngầm, thả cho cơ thể rơi vào miệng đá sắc cạnh. Thần kinh tê liệt giữa hai cực cảm giác. Đau đớn và xoa dịu. Giận dữ rồi vỗ về. Biển vờn cho đến lúc mệt lả phải ném tôi lên nền cát.

Nắng nhuộm vàng ghềnh đá. Cát trở màu ngọt lịm tựa hũ đường thốt nốt tôi quẹt tay vào chấm mút ngày bé. Tôi ấn chân xuống. Cát chuồi rát gan bàn chân khiến tôi lao chao chực ngã. Mặt trời đỏ rực cháy nhòa một vùng nước mênh mông. Tôi bước sâu thêm nữa. Váy áo ngắn phồng căng dập dềnh trên sóng. Hoa vàng chạy quanh eo nhỏ. Tôi nhìn mặt trời chênh chếch. Sóng lăn tăn vỗ mềm tựa ngàn cánh hoa lơ lửng. Biển chiều lặng như lòng tôi đã bớt quay quắt. 

Lúc tôi trở về N đang nội trợ miệt mài, mắt long lanh in môi Hoàn cười.

"Hiên rửa giúp anh bó cần tây."

Hoàn nói, mắt vẫn không rời mặt thớt. Những ngón tay Hoàn hồng hào chần mạnh lên ức gà óng mỡ, hệt tấm lưng tôi hay oằn xuống trong đêm. Tôi nhặt bó cần tây, vuốt tỉ mỉ lên nhánh lá dầy xanh mướt. Nước chảy rào rào trong thau. Tôi ngắt ngọn cần thả vào nước. Lá cần tỏe hình những ngón tay bơi lượn. Ngón tay của N. Ngón tay của Hoàn. Tôi khoắng mạnh thau. Những nhánh cần dài thắt chặt bàn tay tôi nơi đáy nước. Hoàn sà đến bên tôi. Tay Hoàn choàng lên lưng áo tôi còn sâm sấp ướt. Con mắt Hoàn có đuôi kề sát tai. Hơi nóng hừng lên rát mặt.

"Tối nay có món cá Hiên thích."

N liếc nhìn tôi, miệng hơi mỉm cười đồng lõa, cánh tay vẫn thoăn thoắt xào chảo ớt xanh trộn hành tây xắt nhỏ. Mùi hành cay bốc lên ngầy ngật. N đổ thịt bò vào chảo. Những viên thịt bò vuông vức đỏ au nhảy lưng tưng. Bàn tay Hoàn đặt hờ trên vai vuốt xuống thắt lưng. Cơ thể tôi giống bỏ ngỏ. Người tôi nóng rộp. Mặt N cũng lấm tấm mồ hôi. Thịt bò vừa ngả sang hồng tía là N tắt bếp. Chảo thịt sôi réo như thể lửa vẫn còn phừng phực bên dưới. N múc thịt vào dĩa sứ trắng viền lá trúc. Hoàn đón chiếc chảo nóng từ tay N bỏ vào bồn rửa chén. Tiếng nước chảy ồ ồ trong bồn xen lẫn âm thanh vỡ giòn của vỉ cá nướng trên bếp. N trở hai lát cá ướp nghệ vàng tươi. Mỡ cá xém lửa cháy xèo xèo. Tôi mở cửa sổ. Tiếng sóng tràn qua khung cửa. Gió đặt lên má tôi những nụ hôn phớt. Tôi hít một hơi dài, không còn phân biệt được mùi gió biển. Bếp ngợp mùi thức ăn. Ánh đèn vàng tỏa mờ huyền ảo. Khung cảnh ấm áp tựa một gia đình.

*

Buổi sáng thức giấc, tôi lênh đênh trên giường. Căn phòng vắng người nhưng mùi đàn ông còn đầy ắp. Những vệt trắng sữa trên drap giường đêm qua giờ bám dính vào thân thể tôi nhơm nhớp. Tôi dùng khăn bông chùi miết ở phần ngực mình. Tấm khăn bông như lưỡi dao lam cạo sạch lớp da nhầy nhụa. Thân thể tôi rát buốt. Mỗi lần lấy tay ấn xuống, tôi có cảm giác thân thể mình rướm máu. Tôi bật dậy nhìn vào gương. Làn da nhẵn thín lõm vào giống phiến đá sóng đập xói mòn. Đôi mắt thất thần, hoảng hốt. Tôi run rẩy với ý nghĩ thân thể mình sẽ bị bào mòn đến chết. Tôi quơ áo khoác vội lên người. Bên ngoài bàng bạc mây xám. Bão cuồng trong đêm biến mất. Mặt biển phẳng mượt vút đến tận chân trời. Sóng sủi bọt phủ tràn ghềnh đá. Thủy triều vừa xuống. Bãi cát ướt sũng lô nhô đá ngầm, thứ đá đen bóng sắc nhọn đâm lên đe dọa. Tôi bước hẳn ra ngoài. Lớp da nhầy nhụa như chiếc áo tuột khỏi thân mình. Bước chân tôi nhẹ hẫng. Lan can lạnh buốt. Tôi luồn hai bàn tay vào trong áo, chà xát da thịt mình tìm hơi ấm. Hương bạc hà vẫn phảng phất trong gió sớm. Đôi mắt của hai người đàn ông vẫn nhìn tôi soi mói bên ly café buổi sáng.

"Café của Hiên đây."

N đặt ly café bốc khói nghi ngút lên bàn. Tôi nhìn đôi mắt N lung linh qua khói café. Từ bao giờ tôi đã có thể nhìn thẳng vào mắt N mà không xao động? Mắt N không sâu, không cạn, chỉ óng ánh niềm vui. Mắt chị cẩn trên bia mộ cũng không sâu không cạn, nhưng đông cứng lạnh lùng. Chị có hạnh phúc không? Tôi hớp một ngụm café, không thể nhìn thấy gì nơi vầng nước quánh đen. Hình như tôi vui. Hình như tôi buồn. Tôi có hạnh phúc không?

Tôi đem ly café cạn bỏ vào bồn chén. Đống chén bát đêm qua đã được dọn rửa sạch sẽ. Trên nền gạch men trắng tinh, chiếc ly nhỏ bỗng trơ trọi lạ lùng. Vừa dợm bước đi, tôi lại quay lại. Hai người đàn ông nhìn tôi dò hỏi. Tôi xả nước rửa sạch ly, xếp lên rổ. Trên thành bồn, vết gạch rạn xoắn xuýt quanh co. Tôi nhớ ngày chúng tôi vừa dọn về đây. Tôi loay hoay mở tủ, đánh rơi cái cối đá làm viên gạch nứt đôi. Tôi đã tưởng mình cùng N xây một tổ ấm. Với những con chim non hé mỏ chờ mẹ mớm mồi. Những đứa bé bụ bẫm bên trong thân thể tôi không còn quẫy đạp. Tôi đưa tay nắn nền bụng phẳng lì. Bụng tôi chứa toàn ước ao khoái lạc. Môi tôi mớm no khát khao thể xác. Giấc mơ trẻ thơ giờ xa xôi vô cùng. 

Tôi đến sở làm. Con đường lượn vòng biển hoa vàng nhấp nhô sóng vỗ. Màu vàng buổi sáng đắm đuối quyến rũ hơn trong những giấc mơ tôi vẫn ngắm nhìn. Tôi không rời mắt nổi mặt biển. Sóng xô vào chân tôi bình minh rực rỡ. Tôi sợ mình sẽ lạc tay lái đâm xuống biển hoa như tôi thường nói với chị. Tôi sẽ đâm xuống biển để được chìm giữa thiên nhiên tuyệt ảo.

Tôi vào đến sở. Hoàn vẫn là sếp của tôi. Tôi ra vào văn phòng của Hoàn như thói quen trong giờ làm việc. Amy nhìn tôi bằng nửa con mắt.

"Xem mày lì lợm đến bao giờ!"

Tôi muốn gào vào mặt nó. Nhưng tôi không thể làm thế. Tôi giữ cho Hoàn. Tôi giữ cho N. Và cho tôi. Chúng tôi san sẻ đời sống cho nhau. Đôi mắt bén sắc của Hoàn vẫn quét lên cổ tôi lúc vắng người. Tôi không cúi mặt tránh né. Ánh mắt Hoàn âu yếm, vuốt ve không thua bàn tay N mềm mại.

"Hiên có bằng lòng không?"

Hoàn nhìn tôi bằng ánh mắt xuyên vào bóng đêm. Tôi chưa sống hết được một ngày dài. Đêm tôi sống bằng đam mê, bằng thách thức, bằng hành trình kiếm tìm bản sắc. Hoàn đặt tay lên cổ tôi. Sống lưng tôi lạnh toát. Cảm giác ngã xoài trên phần thân thể nhũn rêu của Hoàn chạy khắp người. Sao Hoàn không thể cùng với tôi đi đến tận cùng? Ánh nhìn xuyên xoáy của Hoàn giam giữ tôi tựa bàn tay N phù thủy. Tôi hạnh phúc. Tôi bất chấp đôi môi cong dè bỉu của Amy. Tôi là nàng công chúa được nâng niu giống Amy được bạn trai nó chiều chuộng. Tôi hay chở Amy đến chỗ hẹn hò. Café Pride trây mình trong nắng quái. Amy cằn nhằn. Nó ghét thứ nắng gắt gỏng trước khi chiều tà.

"Sao lại đến đây?" Amy nhăn nhó.

"Sao lại không?" Tôi hỏi ngược lại.

"Tao chờ Matt đến đón, chứ không phải hẹn hò với mày."

Café Pride là nơi lui tới của N và Hoàn. Tôi tìm ra quán sau mấy lần theo N ra phố. Amy bứt rứt cũng phải. Quán vắng khách. Góc này một cặp đàn bà. Chỗ kia hai mái đầu húi. Tôi cười bảo Amy tôi với nó cũng có thể làm một cặp tại chỗ.

"Matt đến rồi. Cám ơn mày cho tao quá giang." Amy vỗ vào vai tôi rồi chạy biến. Từ xa, Matt đưa tay lên vẫy. Amy ôm chầm lấy Matt. Hai đứa hôn nhau ngay bên lề đường. Tôi ngồi yên bất động. Tôi đã quên cảm giác được hôn nồng nàn giữa phố. Con đường nắng chói lòa trước mắt bỗng hóa mát rợp. Tôi nghe tiếng N cười trong trẻo. N lúc ấy quần jeans bạc màu, áo trắng đơn sơ. N hôn lên môi tôi mê mệt. Tôi ngộp thở trong nhịp tim náo loạn, chưa hiểu được hạnh phúc cũng bất thường. Vòng tay N ngày ấy êm ả, không báo trước ái ân cuồng loạn. Những ngày đẹp ở quá khứ, chỉ có tôi nhớ. N ậm ừ cười mỗi khi nhắc lại. Mùa đông buốt giá. Hai hàng cây bên đường trút lá run rẩy. N ủ cả người tôi vào chiếc áo dạ to dầy của anh. Chúng tôi đi bên nhau hàng giờ không biết mỏi. Những hôm tôi mệt không thích dạo phố, N ở nhà nấu nướng linh tinh đủ các món ăn cho tôi nếm thử. Anh cột dải khăn lên mắt tôi bắt phân biệt các loại bánh kem. N quẹt kem lên ngón tay đưa vào miệng tôi. Kem dâu tây chín ngọt, kem sầu riêng nồng nặc tôi nếm được ngay, những loại kem khác tôi chỉ mút tay N cười trừ.

"Chịu khó suy nghĩ xem. Almond hay hazelnut? Mousse hay whip cream?" N hỏi.

"Không biết. Chịu thua. Mở mắt cho em ăn thôi."

"Lười thế thì ai thèm cưới!"

Ngày ấy tôi thèm được về sống với N. Tôi yêu N, tình yêu đơn thuần giữa một người đàn ông và một người đàn bà, tình yêu tự nhiên theo quy luật âm dương.

"Anh yêu Hoàn cũng là tự nhiên. Đó là nhiễm sắc tố trong cơ thể anh." N lý luận.

Tôi không thể hiểu N muốn gì. Nếu không muốn giấu giếm bản sắc của mình, N có thể công khai sống chung với Hoàn. Tôi hình dung đến đôi mắt chị. Trống rỗng. Nụ cười chị đóng băng trên bia đá. Chị có hạnh phúc không? Đời chị ít oi niềm vui. Có chăng là thời niên thiếu trong vòng tay bố mẹ. Bởi thế. Chị hay cười khi nhớ lại. Mặt chị ngời, môi thắm, mắt trong. Hạnh phúc với vú mẹ thơm, bên tay cha ấm. Hạnh phúc mát như que kem tuổi thơ tan ngọt trong miệng.

 

Như tôi đoán, Hoàn đến sau buổi họp ban giám đốc. Hoàn kéo ghế ngồi nơi góc phải. Vài chiếc bàn mà như cả một đại dương xa cách. Một lúc sau, N đến. Lúc sau nữa, một thanh niên trẻ nhập bọn. Họ uống rượu, gọi thức ăn, ân cần tựa một gia đình ấm áp. Tôi lặng yên nhìn buổi chiều đi qua. Nỗi buồn ập đến cùng với trái tim quặn thắt. Tôi không là gì trong mắt họ. Như bàn ghế trong quán lặng lẽ vô tình. Tôi không phải là nàng công chúa được chiều chuộng. Tôi là tấm bình phong. Tôi là vật tế thần cho tình yêu của họ thăng hoa. Buổi chiều trở nên trống rỗng. Tôi bỗng thèm được chạy lên đỉnh đồi, ngồi bên mộ chị nhìn biển chiều mênh mông. Mắt chị trong veo. Gió reo liu riu như chị đang hỏi chuyện.

"Em nói gì với N chưa?"

Chị hay hỏi khơi khơi không chủ đề tựa như chị đã biết tất cả.

"Tụi em bình thường." Tôi trả lời mông lung, mong chị đừng tiếp tục tra vấn. Bình thường thế nào được với những liên hệ hiện tại.

Gió thốc khi vầng dương rực lên lần cuối. Hoàng hôn thoi thóp. Những mạch máu vỡ tan trên nước. Hoa vàng dập dềnh. Hai bàn chân tôi lún sâu. Cát nóng chuyền lên đôi chân tôi luồng hơi ấm dễ chịu. Sóng tung bọt trắng xóa vào ghềnh đá. Tôi nhấc chân, cả thân người bồng lên mặt nước. Tôi gục mặt vào làn nước mật, sải tay. Nước ép căng lồng ngực tôi ngột ngạt thiếu khí trời. Tôi bơi ra xa, thả người cho sóng đánh vào bờ. Tôi sống trở ngược cảm giác của lần đầu tiên quăng mình vào biển đêm. Tôi không cảm thấy đau đớn khi bị sóng quất vào đá ngầm. Thân thể tôi trầy trụa. Máu rỉ ra từ những vết thương xót buốt. Biển đêm hun hút như một vực thẳm. Tôi uống máu tôi trong biển mặn. 

Khi tôi về nhà, gian bếp sáng lạnh. Nồi nước vàng lườm cạn khô trên bếp. Tiếng cười rúc rích vọng ra. Tôi vào phòng tắm. Một khoảng trời nổi bật trên nền tường màu ráng chiều. Có tiếng gõ cửa.

"Anh đi làm." N ghé mặt vào bảo.

Tôi ngạc nhiên, nhưng không hỏi. N là đầu bếp ở nhà hàng Annie dưới phố. Tối nay không phải là ca làm việc của N. Tôi mở vòi sen. Nước tỏa xuống, rào rào. Tôi trút bỏ áo quần, bước vào vũng mưa ấm áp. Tôi dầm trong cơn mưa, mong nước gột những mảng da nhờn bám trên thân thể. Nước tràn từ chân tóc, rớt xuống bờ vai, chảy dọc trên đôi tay không ngừng chà xát lên da thịt mình. Miếng bọt biển trong tay tôi chuyển động mãi cho đến khi cả người ửng lên những vòng tròn rướm máu. Những vết nhờn vẫn bám rịt lên làn da tôi đang mòn dần theo ngày tháng.

Tôi vào bếp. Không có N, gian bếp lờ đờ như mất đi sức sống. Chén bát nồi niêu vật vờ vắng chủ. Tôi cũng bất ngờ rơi vào nỗi trống vắng kỳ lạ. Giờ làm việc của N thường nhất định. Trừ những cuối tuần có dạ tiệc, N luôn có mặt ở nhà mỗi tối. N quy củ, nề nếp. Tôi tự hỏi có phải vì thế mà N nấu ăn ngon. Người đầu bếp giỏi lúc nào cũng phải điềm tĩnh, biết kiềm chế, biết điều độ. Từ ngày lấy N, tôi chưa bao giờ phải làm bếp. Vài lần N để tôi nấu thử. Tôi xào thịt bò quá lửa nên dai nhằng không nhá nổi. Tôi luộc bún nhão nhoét phải bỏ đi. Tôi bật thêm đèn bếp vì không ưa thứ ánh sáng tù mù của đèn 40 watts. Thức ăn N để dành cho tôi trên bàn đã nguội. Tô bún riêu đóng mỡ đỏ lừ. Tôi hớp một chút rượu từ chiếc ly uống dở trên bàn rồi tắt đèn đi ngủ. 

Tôi giật mình tỉnh giấc. Nệm giường bồng bềnh. Ánh đèn dạ quang hắt xuống lớp mền trắng toát đang cử động. Tôi kéo tấm mền khỏi mặt.

"Anh đây."

Giọng Hoàn trộn trong tiếng sóng reo.

"Anh không đi với N sao?" Tôi hỏi, tim đập mạnh.

"N bảo sẽ về trước mười hai giờ đêm."

Tôi nằm im. Tấm mền như chiếc lưới phủ chụp. Không có N ở nhà, tôi có cảm tưởng Hoàn là một người khác lạ. Có thật là Hoàn vô cảm với người khác phái? Hơi nóng từ thân thể Hoàn truyền sang người tôi hôi hổi. Đồng hồ xanh nhảy lanh tanh rình rập. Trong bóng tối, tôi bắt gặp khuôn mặt đàn ông với đôi mắt bén sắc dưới hàng mi rợp. Tôi vùi sâu xuống nệm, trốn hình ảnh Hoàn của ngày mới gặp. Tôi đã từng hình dung. Tôi đã từng ao ước. Tim tôi đã chao đảo bởi môi Hoàn cười. Có thật là Hoàn trơ lì với tôi? Tôi lùa tay sang bên cạnh. Bụng Hoàn như thỏi sắt nung, nóng rộp. Tay tôi rà xuống. Hoàn chận tay tôi, nắm chặt. Một lúc, Hoàn nới tay. Tôi lại sục sạo trên người Hoàn như con rắn lục. Hoàn để yên cho bàn tay tôi nghịch ngợm sà lên bắp thịt cuồn cuộn trên ngực trên vai. Tôi tò mò, thắc mắc. Tôi đặt tay lên bụng, rồi rà xuống, xuống nữa. Hoàn không ngăn. Tôi nghe tiếng Hoàn thở nhẹ khi tay tôi chạm vào lớp rêu mềm giữa hai đùi.

"Ngủ đi Hiên."

Hoàn giữ bàn tay tôi lại, nắm chặt không buông. Tôi lăn người xa Hoàn, hối hận. Hoàn ở đây, không phải vì tôi. N đi làm nhưng vẫn như hiện diện. Nếu không gặp Hoàn, N có cho tôi thấy một chọn lựa khác của anh? Tôi vừa ghét Hoàn vừa thương Hoàn, thương cách Hoàn làm bộ say đắm tôi ở chỗ làm, thương cuộc hẹn kín đáo của những người đàn ông. Tôi choàng tay qua, ôm lấy Hoàn như ôm một đứa trẻ cô độc. Gió đậu ở rèm cửa. Sóng reo tận chân giường.

 

Tôi đã cố gắng nằm im không cử động. Tôi đã tưới hết chai nước lọc lên người mình. Tôi đã lê xuống gần bờ nước, nơi sóng có thể quét chiếc lưỡi ướt dài lên da. Nhưng tôi vẫn khô khốc, giòn rộp. Mặt trời đập xuống. Nắng bung lên. Cát nóng tựa ngàn viên gạch nung trên lửa. Tôi phơi làn da trần khô xộp trên cát. Chân tay rỗng dòn tựa những sợi rơm khô. Tôi ghì xuống cát mỗi khi gió đến. Gió không đến nhẹ nhàng, nhưng từng đợt sấn sổ táp vào thịt da, bục tung mái tóc. Những sợi tóc khô xổ tung ra mặt cát tựa ngàn sợi gân trườn quanh đỉnh đầu. Gió xoay tít những sợi gân đang mọc dài ra từ khắp vùng da đầu nhức buốt. Tôi hốt hoảng đưa tay giữ từng sợi gân tóc đang vẫy vùng. Mỗi vòng xoáy tựa mũi đinh nhọn vít sâu vào óc. Tôi kiên nhẫn chờ. Thời gian trôi, thật chậm trong không gian mênh mông vắng. Những vết trắng nhớp bám dính trên da tôi từ từ queo lại rồi biến mất. Tôi vuốt lên làn da khô nứt, đau đớn hài lòng. Bầu trời đầy những cụm mây hình mặt người bay lướt. Tôi nhìn thấy khuôn mặt của những người đàn ông bay qua không dừng lại. Họ mang theo mật ngọt của đời. Họ lấy lại những gì đã ban phát. Tôi nhắm chặt mắt, ước ao một dòng nước mát lạnh tuôn xuống da khô. Tôi muốn vùng dậy lao xuống đại dương, không muốn mình chết phơi trên cát. Tôi căng mắt nhìn lên, hy vọng. Ít ra tôi còn cụm mây tượng hình mắt chị, sâu hút như lòng giếng ăm ắp nước. 

Tôi mở choàng mắt khi nước trào ra từ đôi mắt mây thăm thẳm. Hình như có cả tiếng sụt sịt. Của Hoàn.

"Mình không thể bỏ Hiên, cũng không thể xa Hoàn. Hạnh phúc do chính mình. Mình sống thế này có gì sai?"

N cũng đã nói với tôi như thế. Tôi kéo tấm mền lụa che vùng ngực trần. Nước mắt mây thăm thẳm đổ tràn. Có gì sai? Chỉ cần mình vui... . N đã nói với tôi như vậy nhiều lần, đến nỗi tự kỷ ám thị, tôi tưởng mình vui thật. Đây có phải là điều tôi đi tìm?

"Mình khác người ta, nên sống khác họ. Hoàn hiểu không?" Giọng N xa vắng như vọng về từ cõi mộng. Đời sống Hoàn khác vì Hoàn không giống tôi. Nhưng còn tôi? Tôi khác Hoàn khác N, sao tôi sống cuộc đời của họ? N vẫn chăm chút chiều chuộng tôi, sự chiều chuộng phảng phất nỗi đe dọa lẫn van xin. Chúng tôi vẫn yêu nhau. Trong câm lặng. Tôi sống như chiếc bóng đi về giữa hai người đàn ông. Tôi nhổm dậy nhìn vào tấm gương cạnh giường. Lung linh hai vũng mắt mở to sâu hoắm, trống rỗng.

Mây vẫn bay đầy trần nhà. Đôi mắt mây hiện hình khuôn mặt chị trẻ thơ. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ảnh chị chụp ngày bé. Chị bảo nụ cười chị ngày ấy sáng rực. Mắt chị trong veo. Chắc hẳn chị đầy hạnh phúc. Tôi thường mơ thấy chị trở về với tôi, đẹp mặn mà như ngày đầu tôi gặp chị. Chị nháy đôi mắt đen lánh rực rỡ tựa hai hạt ngọc trai.

"Em đầy hạnh phúc."

Chị cười ngây ngô như một đứa trẻ. Hàm răng chị trắng lóa chói lọi giống mặt trời đúng ngọ.

*

Sáng Halloween trời trở lạnh. Mây chùng trên mặt biển xám đục. Hoàn gọi điện thoại từ tối qua, dặn sẽ đến đón chúng tôi xuống phố dự dạ vũ hóa trang. Hoàn bảo sẽ dẫn Ty theo. Tôi càng không muốn đi. Ty là người thanh niên tôi nhìn thấy với Hoàn ở Café Pride. Ty hay theo Hoàn về nhà cuối tuần. Ty hay ngồi uống rượu coi tivi ở phòng khách, thỉnh thoảng góp vài câu chuyện nhạt nhẽo. Tôi không làm thân với Ty, sợ tia nhìn lờ đờ, sợ những liên hệ vô hình ràng buộc. Chẳng phải đời sống tôi đã không còn bình thường?

Từ đầu, tôi đã không muốn đi. Vui thú gì một buổi dạ tiệc hóa trang. Tướng cướp hóa thánh nhân. Quỷ dạ xoa biến công chúa tuyệt trần. Kẻ lật lừa thành người lương thiện. Tôi không thích trò chơi mặt nạ. Nhưng khi N đem về bộ y phục nữ cướp biển may chéo quyến rũ, tôi ướm thử vào người và đổi ý. Bộ y phục vừa khít tựa N đã đặt may riêng cho tôi. Chiếc áo hai màu đỏ đen đối chọi. Thân áo trên đỏ thắm trễ vai tay bồng. Lớp váy ngắn đen thắt chặt vòng eo, nở xòe ngang đùi. N giúp tôi quấn dải lụa đỏ từ đầu vai thắt chéo đến cườm tay. Hai dải lụa buộc thành vòng nơ rũ mềm quấn quít. Tôi xoay người ngắm riềm váy chạy lăn tăn quanh đùi giống những đợt sóng trườn lên da thịt. Tôi xỏ chân vào đôi giầy ống cao gót, đội thêm chiếc mũ nhung đen rộng vành ngất ngưởng chùm lông chim đỏ óng ánh. N nhìn tôi, thích thú.

"Em hấp dẫn như Elizabeth Swann."

Tôi nhìn vào gương. Thân thể của nàng Elizabeth Swann nhưng dung mạo vẫn là tôi. N đưa tôi chiếc mặt nạ mang nét tây phương với đôi mắt xanh biếc. Tôi hỏi N sẽ hóa trang thành nhân vật nào.

"Rồi em sẽ biết."

N mỉm cười bí mật. Lập tức, tôi hình dung đến Jack Sparrow, chàng thuyền trưởng oai hùng trong phim Pirates of the Caribbean. Lạy Trời cho tôi gặp Jack Sparrow.

 

Chiều xuống nhanh. Mây xám tỏa mờ. Mặt biển phẳng lì một màu chì nặng nề. Trong khi N chuẩn bị thay đổi y phục ở phòng tắm, tôi vẫn đứng ngắm mình trước gương. Tôi đeo mặt nạ vào, rồi lại tháo ra. Lại đeo vào. Tôi bới tóc cao. Lại thả xuống. Tôi. Elizabeth Swann. Tôi. Elizabeth Hiên. Liz. Hiên. Beth. Mỗi lần nhìn, tôi lại thấy một con người khác trong gương. Những khuôn mặt xa lạ không phải là mình.

N gõ cửa phòng nhè nhẹ trước khi đi vào. Tôi ngóng ra, hồi hộp. Không phải là Jack Sparrow của tôi. Một nàng geisha Nhật bản thướt tha lướt vào. Tấm áo kimono lụa đen điểm những cánh anh đào hồng thắm rũ dài chấm đất. Hai vạt tay áo phất phơ siết chặt dây thắt lưng đỏ. N đội tóc giả. Mái tóc bới cao cài trâm bạc. Khuôn mặt N thoa phấn trắng bạch. Tôi giúp N kẻ cặp lông mày vòng cung, đánh phấn hồng lên gò má, vẽ lên miệng hai vành môi bé tí đỏ sậm.

Chúng tôi đứng trước gương. Một thoáng bàng hoàng trong mắt. N nhìn gò ngực tôi bồng lên dưới lớp áo.

"Em quyến rũ hơn Elizabeth Swann."

Bàn tay N lạnh buốt đặt lên vùng ngực trần. Tôi co người lại. Rợn. Không phải là bàn tay mềm mại thơm dầu bạc hà thường ngày của N. Bàn tay kỹ nữ lạ lùng cảm xúc. Những ngón tay thanh mảnh móng dài điêu luyện. Tôi nhìn vào gương, thảng thốt. Nữ cướp biển và geisha. Hai khuôn mặt lạnh lùng kỳ ảo. Hai con người thân yêu đã trở nên xa lạ.

 

Hoàn đến khi bóng tối vừa sập xuống. Trời tối sầm. Gió rền từ đại dương u u xuyên qua rèm cửa. Tôi nhìn ra mặt biển xám ngắt trải dài, thấp thoáng những đợt sóng sáng ngời kỳ dị. Biển mang vẻ bí ẩn của chiếc mặt nạ nửa người nửa quỷ. Biển gầm gừ như loài thú hoang. Chúng tôi đèo nhau trên hai chiếc motocycle xuống phố. Xe phóng vù vù trên đường. Tôi ngồi sau lưng chàng hiệp sĩ áo đen, không phân biệt nổi là Hoàn hay Ty. Cả hai hóa trang hệt như nhau. Y phục hiệp sĩ đen tuyền, áo chẽn quần bó, giầy bốt da và áo choàng viền kim tuyến lóng lánh. Mặt nạ da trắng muốt, vành môi bầm, hai hốc mắt xếch lên thái dương lấm tấm kim nhũ. Xe lao xuống chân đồi. Tôi víu chặt lưng hiệp sĩ. Đường tối, đèn xe sáng quắc chao lượn. Ánh sáng chóa trên cánh tay geisha lơ phơ phía trước, lúc ẩn lúc hiện. Xe xuyên biển chập chùng. Hoa vàng khép mắt ngủ yên. Xe vào phố, tôi vẫn chưa đoán được tên hiệp sĩ. 

Con phố giăng đèn. Ánh sáng vàng cam mê mê chập chờn. Chúng tôi đậu xe, đi bộ đến khách sạn. Khu phố nhộn nhịp như một sàn diễn nhiều sân khấu. Mỹ nhân và ác quỷ, thiên thần và Satan, công nương mặt dơi và bá tước mặt chuột. Thú vật cùng người đi lại tấp nập. Tôi bước oai phong tựa nữ cướp biển chính hiệu. Gót giầy gõ lộp cộp trên sàn thuyền vô hình. Tôi nghe tiếng gió thổi căng cột buồm, tiếng huýt sáo lanh lảnh ở giờ tấn công. Giờ tôi mới hiểu vì sao lễ hội Halloween luôn đông vui tấp nập. Ước muốn hóa thân âm thầm quyến rũ dù chỉ một đêm.

Chúng tôi vào sảnh đường. Khung cảnh trang trí giống căn hầm cổ xưa u tối. Trần nhà giăng tơ nhện trắng. Vách tường leo lắt đèn dầu. Không khí oi ả, quện đặc khói thuốc. Nhạc xập xình đuổi theo từng bước chân. N kéo mọi người đến quầy rượu. Nhện sa xuống từ góc trần nhà tối. Hiệp sĩ đưa tôi ly rượu.

"Uống đi Hiên."

Giọng Hoàn bật lên từ sau mặt nạ. Tôi ngồi hẳn lên chiếc ghế cao bên quầy, uống cạn ly rượu. Hơi nóng sặc lên đỉnh đầu. Men cay tràn xuống cuống họng, chảy vào mạch máu. Ban nhạc bắt khúc ca mới. Những bước chân lảo đảo kéo nhau ra sàn nhảy. N cũng miên man đưa đẩy trong tay hiệp sĩ. Nhạc càng nhanh, người càng kích động, không khí càng ngột ngạt. Những chiếc mặt nạ trắng toát ẩn hiện trong không gian chớp nhóe đèn màu. Ly rượu tôi cầm trong tay chưa vơi đã lại đầy tràn như trò ảo thuật. Tôi quay sang bảo Hoàn:

"Em không uống được nhiều, say chết!"

"Không sợ. Tôi đưa Hiên về."

Rõ ràng đôi môi Hoàn cử động sau mặt nạ, nhưng lại là tiếng nói của Ty. Tôi cười chếnh choáng. Một bản nhạc mới trỗi lên. Ty kéo tôi ra sàn. Tụt khỏi ghế tôi mới biết mình say. Hai chân cứ chực khụy. Ty xốc hai vai tôi, kéo sát vào người. Tôi cũng sợ ngã nên ôm rịt lấy Ty. Nhạc thình thịch long óc. Đầu tôi rần rần. Mắt tôi nở hoa. Ty phả khói phì phà vào mặt tôi. Mùi khói hăng nồng khiến tôi sặc sụa. Ty đặt điếu thuốc tuôn khói vào môi tôi. Tôi nhắm mắt, rít một hơi, rồi một hơi dài nữa. Hơi khói đậm đặc, ngai ngái chui vào cổ tôi bỏng rát. Nước mắt tôi chảy giàn dụa. Nhưng chỉ một thoáng, cảm giác ngạt thở biến mất. Chân tay tôi nhẹ lâng, đầu óc tỉnh táo lạ lùng. Tôi lắc người theo tiếng nhạc dồn dập, thích thú nhìn những chiếc mặt nạ kỳ ảo dưới ánh đèn chờn vờn mộng mị.

"Chị."

Tôi kéo tay người đàn bà vừa bước qua. Đôi mắt hun hút, long lanh khóe lệ trên mặt nạ mịn màng. Người đàn bà vuốt lên vai tôi. Những ngón tay thô kệch đàn ông nhộn nhạo. Một lát, hiệp sĩ rủ lên phòng. Cả bọn kéo nhau lách lỏi ra sảnh đường. Lối đi chao lửa chập chờn. Tôi theo tay áo phất phới của nàng geisha. Cửa đóng lại sau lưng tôi. Phòng khách sạn tối om, âm u hơn cả sảnh đường. Ngọn nến hắt hiu tỏa vòng khói ma mị. Y phục chưa thay, hóa trang chưa tẩy, những thân người đã hối hả quấn lấy nhau. Tôi ngã kềnh ra mặt đệm, chới với. Đôi tay geisha chấp choải tựa hai cánh bướm đêm quạt gió. Tôi rùng mình khi geisha gắn lên môi tôi nụ hôn bé tí. Cảm giác được hôn bởi một người đàn bà khiến tôi cứng người ngộp thở. Tôi xoay người tránh khuôn mặt geisha trắng toát. N đổ nhào xuống bên cạnh tôi sau đó. Căn phòng bít bùng. Dưỡng khí cạn kiệt. Bốn vách tường thắt lại. Tôi cố thở. Cánh cửa hiện ra trước mắt tôi như một lối thoát. Cánh cửa lơ lửng trên không trung tay tôi không thể chạm vào. Tôi nằm bần thần bất động cho đến khi mùi đàn ông quen thuộc của N sộc vào khứu giác.

"Để anh bật đèn lên."

N đã nhận ra nỗi sợ hãi trong mắt tôi. N hiểu tôi đã chọn anh, không phải geisha, không phải hiệp sĩ áo đen. Vỡ toang trong trí nhớ tôi hình ảnh của những ngày mới quen. Nắng vàng những buổi chiều N dắt tôi vào hiệu quần áo trẻ con chuông leng keng mê đắm. Chiếc lục lạc N tặng tôi vẫn reo trong ngăn tủ như tiếng chuông nhắc nhớ; nhớ đến một tình yêu đã cũ; nhớ về giao ước vợ chồng đã bạc. Tôi nắm bàn tay N, bóp mạnh. N buông tay, đi tìm công tắc đèn. Trong ánh đèn lập lòe, tôi thấy cánh bướm geisha đổ nhào. Nến lao chao. Đệm giường nhún nhảy. Tôi có cảm giác bị tung lên và rớt xuống. Ánh sáng yếu ớt không soi rõ mặt, tôi chỉ nhìn thấy mảnh áo choàng đen phấp phới. Không gian tối sẫm. Mùi cần sa ngai ngái phủ lên mặt tôi. Khói tuột vào miệng tôi từng bụm đặc. Tôi ục ặc chống đỡ. Đôi môi lạ oặp xuống ngấu nghiến. Tôi cong lưng, giãy giụa. Những ngón tay cứng lạnh thúc vào đùi non sờ soạng. Bóng tối thô bạo, suồng sã. Bóng tối vây quanh như chiếc cũi sắt. Đầu tôi nổi gai. Gân tóc đâm tủa xoắn xuýt mọc dài. Tôi không nhìn thấy nhưng cảm nhận rõ ràng lớp nước nhờn nhụa bám dính trên da, loang rộng, ăn sâu tựa acid. Tôi mở trừng mắt nhìn vào bóng tối, tay chân bải hoải, giác quan tê lịm. Tai tôi reo reo giọng cười của chị, liu riu như âm thanh sóng, rì rào như tiếng gió gọi. Âm giọng Hoàn khàn đục rên rỉ nơi góc phòng. Tôi nhìn lên. Hai cánh bướm hắt bóng dập dềnh. Trần phòng bỗng sáng dần ra. Và tôi nhìn thấy bãi cát bốc lửa. Mặt trời xòe những ngón tay sắt nung đỏ. Tôi nằm phơi xác thân khô rỗng. Gân tóc xổ bung quay tròn nhức nhối. Mỗi sợi tóc xoay là một cơn đau ngất. Mỗi sợi gân mọc là một tang lễ. Mỗi vết nứt trên da là một nghi thức tẩy trần. Nắng chói chang, rát bỏng. Nắng ngợp căn phòng soi tỏ nét mặt Hoàn bên cánh bướm chập chờn. Mặt trời vươn tay. Da tôi bốc khói. Những mảng da nhờn cứ loang ra mãi không khô. Mặt trời há miệng phun lửa. Bãi cát hiến dâng vật tế thần. Tôi co rúm người, sợ mặt trời thiêu sống. Những đám mây hình mặt người bay qua không dừng lại. Tôi kịp nhìn ra dải mây cuối cùng mang hình mặt nạ hiệp sĩ áo đen. Nhìn vào hai hố mắt hiệp sĩ trống rỗng lờ đờ, tôi bừng tỉnh. Bằng tất cả sức lực và lý trí còn lại, tôi vùng dậy, lao nhanh ra cửa. Cánh cửa rực rỡ hào quang. 

Tôi không còn nhớ mình đã ra khỏi căn phòng đầy khói cần sa lúc nào. Đường về thật xa, xa như cuộc đời tôi bỏ lại sau lưng. Biển đêm vất đi chiếc mặt nạ nửa người nửa quỷ, hiện nguyên hình người đàn ông trìu mến dịu dàng. Biển dang đôi tay ôm ấp thân xác tôi rã rời nhơ nhớp. Biển hồi sinh làn da tôi mịn màng. Biển cho tôi thể xác mới tinh khôi. Tôi trầm xuống, đã hiểu điều tôi tìm kiếm không chỉ thuần thân xác, cũng hiểu mình không thể kháng cự với quy luật thiên nhiên. Tôi không thể là ai khác ngoài chính tôi, như N không thể là người đàn ông tôi ao ước. Tôi trầm người xuống, tóc xổ tung dềnh trên mặt nước. Những sợi tóc đen nhánh mềm mại ôm lấy da đầu. Hoa vàng đan kín như chiếc nôi êm ái chở che. Tôi thấy mình nhỏ lại, bé bỏng mong manh tựa đứa trẻ mới ra đời. Bầu trời đêm lấp lánh. Tinh tú long lanh kết thành xâu chuỗi ngọc trai của chị. Tôi sẽ đeo nó lên cổ, nhớ đến chị đằm thắm.

"Em đầy hạnh phúc."

Chị cười ngây thơ như một đứa trẻ. Tôi đầy hạnh phúc, niềm hạnh phúc kỳ diệu phát sinh từ lòng ao ước được hạnh phúc. 

Tôi trở về căn nhà ven biển lần cuối. Những tấm rèm cửa ngời sáng reo cùng gió sớm. Hai người đàn ông thiếp ngủ, êm đềm như tranh vẽ. Nệm giường bồng bềnh, lấm tấm những giọt mật vàng rươm, thứ mật có vị đắng N đã quết vào môi tôi.

Tôi vào bếp, xào thịt bò vừa lửa chín mềm, luộc bún nước sôi từng sợi trắng phau. Rồi tôi ra biển. Hoa vàng nhấp nhô trên sóng. Màu vàng mới tinh quyến rũ hơn những sắc vàng quá khứ. Sóng xô vào chân tôi bình minh rực rỡ. Tôi đặt gót chân lên hai đóa hoa vàng, chờ chiếc buồm mang Jack Sparrow trở về. 

Nguyễn Xuân Tường Vy

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1086)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 1261)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 1151)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1460)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1352)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1524)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1921)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2000)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1810)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1798)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10491)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17318)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16386)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16849)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1524)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2000)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1971)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2756)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1260)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1352)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1810)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1551)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1086)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1459)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1921)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1797)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1151)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3274)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3266)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3819)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2366)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14010)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30122)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36254)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11740)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13136)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3041)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4361)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4307)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4799)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5377)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8463)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7865)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10781)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.