- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,448,104

Trong thời chiến tranh, tình yêu đôi khi là xa xỷ phẩm

21 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 17926)


banmai-nxhoang-content


Tôi nhận cuốn sách anh tặng, gửi từ Cali do một người bạn mang về chiều hôm qua. Suốt đêm tôi đọc một mạch cuốn “Bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu” có thể gọi là tùy bút cũng có thể gọi là truyện.


Những truyện tình bất ngờ cuồng điên và những bức thư anh gửi cho “Vy yếu dấu”. Tôi tự hỏi, người tình ở đâu mà nhiều quá vậy. Mỗi truyện là một người tình. Có lẽ với chất lãng tử và một người đàn ông quyến rũ như anh là một hấp lực khó cưỡng đối với các cô gái theo phong trào thời đại mới những năm 60.


Với Hà một cô nhà báo chiến trường mạnh mẽ có cá tính, có một đứa con nhưng cô không biết cha nó là ai, mà anh và những thằng bạn thì biết rỏ có lẽ một trong bọn họ. Với Trâm sang trọng rực rỡ tiêu tiền như nước, sài toàn đồ hiệu, cô muốn bao giờ cô cũng phải hơn người, mối tình thân xác trên biển quê nhà mà chính anh và cô chưa bao giờ nói tiếng yêu thương. Với Thủy trong chiếc khăn choàng màu tím đón anh ở phi trường Đà Lạt, anh gặp bất ngờ khi cả hai cùng đón chung một taxi trong buổi chiều mưa. Với Kim người đàn bà như trẻ con, mái tóc tém ngổ ngáo như một nhân vật của Sagan lái chiếc xe thể thao màu đỏ sẫm, một buổi chiều đến tòa soạn, anh chưa kịp ngỡ ngàng đã vào đề nhanh gọn, “anh lái thử xe mới của em nhé” (*), rồi cả hai phóng trên đường, len lỏi trong các con phố Chợ Lớn để tìm cho ra quán Mì Hoành Thánh mà cô thích. Và Vân cô gái Hà Nội di cư vào Nam kín đáo, đoan trang mối tình dại khờ đầu tiên khi thằng con trai mới 14 tuổi Vân đã 20, nhưng Vân trẻ măng như anh nghĩ, thằng con trai ngồi học bài nhưng ghen ngầm không muốn Vân được nhìn ai, nói chuyện với ai ngoài hắn. Nhưng trên hết là Vy yếu dấu, tất cả những người tình trong truyện là những bức thư hắn gửi cho Vy, Vy yêu chi một thằng đàn ông hoang đàng, cộc cằn như hắn, em vượt qua mọi lễ giáo, xem thường "Khổng Mạnh"...



“Bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu” tưởng là kể chuyện tình, nhưng không tôi nghĩ khác. Dù chúng ta không bắt gặp những hình ảnh bắn giết trên chiến trường, nhưng bàng bạc trong từng chuyện là tâm trạng chán nãn, hỗn loạn, bất cần đời, sống không biết ngày mai của một lớp thanh niên, của một Sài Gòn trong thời chiến tranh. Khi đang ngồi viết thư cho Vy trong tòa soạn thì hôm qua Vy biết không một thằng bạn của anh vừa mới mất trên chiến trường Cao nguyên không thấy xác, chiều nay lại một thằng bạn nữa. Là mẹ khóc lặng lẽ đến thăm Sơn ở quân trường, bàn tay mẹ rờ khắp mặt mũi Sơn, kêu Sơn đen quá, gầy nữa. Gia đình mẹ đã cung cấp cho tổ quốc 3 thằng con trai. Là bác lái taxi có đứa con trai lớn vào lính chưa đầy hai năm và mới chết trong một trận đánh tuần vừa rồi, nó bằng tuổi cậu. “Tới chừng nào thì hòa bình hả cậu, cậu có tin hòa bình sắp đến nơi rồi không?(*)
Hay nói theo cô ký giả người Pháp nghe nói chiến tranh hoài mà không biết thế nào là chiến tranh cho nên đến Việt Nam cho biết “…chị đến Việt Nam để tìm hiểu con người, chị muốn biết con người nghĩ gì khi giết người khác và bị người khác giết lại…Chiến tranh là một việc làm vô ích và ngu ngốc, là bằng chứng súc vật nhất về tính ngớ ngẩn của loài người”.(*)



Tôi ngờ những điều anh kể về tình yêu trong “Bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu” chỉ là những cuộc tình tưởng tượng của một thằng con trai “trong thời chiến tranh, tình yêu đôi khi là xa xỷ phẩm”.(*)


BAN MAI

20.3.2014



(*) “Bất cứ lúc nào Bất cứ ở đâu” Nguyễn Xuân Hoàng; Sài Gòn 1970; California USA 1998, NXB Văn.

* Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, thư ký tòa soạn tạp chí Văn Sài Gòn trước 1975.


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1989)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5884)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2959)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 515)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 500)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 553)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 737)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 519)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 496)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /
14 Tháng Năm 20208:43 CH(Xem: 440)
Vẽ một đường mây trên vai áo / Ngó thấy bình minh giữa xế chiều / Bàn tay ai vẫy mùa dông bão / Đất ngữa nghiêng chìm theo gió reo.