- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,431,669

“The Tale of Lady Thị Kính” Khai Diễn Thành Công Tuần Lễ Đầu, Bước Vào Tuần Lễ Thứ Hai Với Khen Ngợi Từ Khắp Nơi

15 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 17245)


Sáng thứ Sáu ngày 7 tháng Hai, cùng ngày tờ LA Times chọn hai vở Opera chính nên xem là Broke Back Mountain và The Tale of Lady Thị Kính, từ Orange County, chúng tôi một nhóm mười mấy người lái xe hẹn gặp nhau ở phi trường LAX để cùng bay đến thành phố Bloomington, Indiana: chỉ để đi xem Chuyện Bà Thị Kính do nhà soạn nhạc P.Q.Phan biên soạn. Sáng sớm thứ Sáu, ai cũng mệt mỏi với công việc cả tuần và đầu óc còn bận lo thu xếp công việc ngày thứ Sáu. Bước lên máy bay, ai đó đặt câu hỏi, lần cuối cùng bạn đi xem ca nhạc kịch Opera là hồi nào? Mọi người nhao nhao trả lời. Người bạn đặt câu hỏi kế tiếp, vậy lần cuối cùng xem một vở Opera có câu chuyện Việt, do nhạc sĩ Việt soạn nhạc kịch trên sân khấu Mỹ là hồi nào? Ai nấy đều im lặng, chẳng còn ai thắc mắc vì sao mình dẹp mọi công việc để bay đến vùng trời băng tuyết này nữa.

Đó là tinh thần của hàng trăm người Việt từ khắp nơi vào lúc khăn gói lên đường đi đến Bloomington, Indiana để xem tận mắt vở ca nhạc kịch The Tale of Lady Thị Kính. Đa số mọi người đều đã nghe và đọc nhiều về công trình dàn dựng công phu cũng như đều quen thuộc với câu chuyện Thị Kính. Nhóm chúng tôi may mắn hơn đã được nhạc sĩ P.Q.Phan cho nghe trước một vài đoạn và được ông giải thích, giới thiệu nhân vật cũng như chia xẻ suy tưởng của ông đằng sau câu chuyện và dòng nhạc này vào tháng 12 khi ông có dịp về California. Chúng tôi đến Indiana với nhiều kỳ vọng.

Đêm khai diễn đầu tiên vào lúc 8 giờ tối thứ Sáu, ngày 7 tháng Hai, cả rạp chật kín người. Nhà hát Opera ở một khu vực ít người Việt hôm nay dập dìu những tà áo dài đủ màu. Khán giả người Việt, người Mỹ từ khắp nơi hội tụ về đây ngồi im nghe câu hát tụng niệm mở màn Nam Mô A Di Đà Phật của Sư Cụ cất lên trên sân khấu nhà hát Indiana University Opera House. Nhóm chúng tôi cùng nhau đi xem vào đêm thứ Bảy ngày 8 tháng Hai. Rạp hát chật kín. Từ phút đầu khi bức màn sân khấu được kéo lên, 1500 khán giả đã dán chặt mắt vào bức phông mùa xuân tranh Đông Hồ, để rồi sau đó liên tục bị cuốn hút theo từng dòng nhạc, từng nhân vật.

 

vb_1-content

  Ảnh Việt Báo

 

 

Màn một mở đầu bằng cảnh mùa xuân với Thiện Sĩ trên đường đến nhà Mãng Ông xin hỏi cưới Thị Kính. Và quan cảnh đám rước ngày xuân diễn ra tươi vui đầy sắc màu. Dàn nhạc giao hưởng trên 60 người hoà điệu cho dàn đồng ca từ các nhân vật tham dự đám cưới đồng thanh: “The love of this union, it’s brisk like this spring air, in the name of Heaven and earth, bless this eternal love.” Có những khúc hát xen kẽ tiếng Việt dù toàn bộ các diễn viên ca kịch đều là người Mỹ: “Duyên phận của phụ nữ, phụ thuộc vào chánh nam, vợ hiền phải theo chồng, tuân lời và cần cụi ngày đêm”.

Chúng tôi ngồi gần cuối nhà hát, nên không chỉ được xem toàn cảnh mà còn có thể quan sát mức độ hưởng ứng của khán thính giả, ai nấy trông đều chú tâm ngồi lắng nghe. Lời nhạc, sắc phục, khung cảnh trên sân khấu được trình bày giữ theo tinh thần Á Châu thời xưa, với nhân vật Thị Kính giữ đúng sắc phục Việt. Hẳn nhiên có một vài chi tiết có thể được điều chỉnh sao cho phù hợp văn hoá Việt hơn, như điệu bộ của các nhân vật, màu sắc sân khấu, tuy nhiên một điều mà nhạc sĩ P.Q.Phan đã thành công gần như tuyệt đối chính là phần âm nhạc, vừa đậm nét nhạc Opera tây phương khiến người nghe liên tưởng đến nhạc kịch Stravinsky, đồng thời phảng phất âm hưởng sâu lắng đậm nét hát chèo, khiến khán giả người Việt tìm được âm thanh quen thuộc lý thú.

Đến cuối phần I khi Thị Mầu với bộ tóc đen và khuôn mặt Á Châu tinh nghịch xuất hiện lên chùa dâng lễ thì không khí bỗng dưng thay đổi. Hệt như trong tuồng chèo truyền thống, Thị Mầu là nhân vật thu hút hớp hồn khán giả một cách dễ dàng, tự nhiên. Nàng vừa hát những nốt nhạc cao vút vừa lẳng lơ nhảy múa đưa câu chuyện bước vào những tình tiết tréo ngược. Cao điểm của vở nhạc kịch cũng bắt đầu từ đây. Vào cuối Phần I, khán thính giả cũng như nhân vật Nô, hoàn toàn bị Thị Mầu ra tay hớp hồn.

 

 vb_2-content

Ảnh Việt Báo

 

 

Trong khi Phần I kết thúc với những màn sôi động trần tính giữa Thị Mầu và Nô, thì phần II trở lại mở màn với khung cảnh yên tĩnh, thanh tịnh với tiếng hát đầy tâm tình của Tiểu Kính Tâm (Thị Kính, nay đã vào chùa tu hành). Tiếng tụng niệm của Tiểu Kính Tâm xen kẽ với tiếng hát dầy dặn của Sư Cụ tụng niệm Nam Mô A Di Đà Phật đưa khán thính giả trở lại với nhân vật chính và tâm tình của Thị Kính. Có lẽ đây là một trong những đoạn ưng ý của nhà soạn nhạc, giai điệu và hoà âm đưa người nghe trở về với thế giới âm thanh vừa trong sáng, tha thiết, vừa ẩn chứa ngàn ngàn lớp lớp tâm tình, đưa khán thính giả trở về với thế kỷ thứ 10 nơi người đàn bà sống dưới lăng kính xã hội khắt khe, nơi Thị Kính rũ bỏ trần gian tìm bình an cho tâm hồn: “My mind may be clear, and my soul light, but my fate is uncertain...”

Những màn kế tiếp lần lượt nối kết câu chuyện mang đầy chất kịch tính, như các màn nhiều chuyện của Vợ Mõ và Lý Trưởng, màn xử án Thị Mầu trước toàn bộ dân làng, cảnh Thị Mầu đem con bỏ trước cửa chùa, và cảnh Thị Kính bồng con giữa chợ đầy thương tâm. Âm nhạc cũng chuyển từ tính trong sáng, vui tươi đến những giai điệu nghiêm túc, thiêng liêng hơn, cho thấy ý tứ sắp xếp của nhà soạn nhạc, đưa khán thính giả leo lên từng bước một của tiến trình “thăng hoa”. Cuối cùng cảnh Thị Kính Thăng Hoa trở thành Phật kết thúc vở nhạc kịch bằng nốt nhạc nhân bản. Nhạc sĩ/nhà soạn nhạc kịch P.Q.Phan đã vẽ cuộc đời của Thị Kính như một ví dụ cho thấy rằng một người đàn bà bình thường sống vì mục đích cao cả có thể trở thành một biểu tượng có ý nghĩa trong xã hội. Không thể chối bỏ ý nghĩa tôn giáo trong sự thăng hoa của Thị Kính, nhưng vở opera cũng là bằng chứng cho thấy rằng với tình thương, lòng độ lượng, sự kiên trì, một người đàn bà cuối cùng có thể thăng hoa trở thành Phật, hay ai với Phật tâm cũng có thể trở thành Phật.

The Tale of Lady Thị Kính kết thúc với hơn ngàn khán thính giả đồng lượt đứng dậy vỗ tay không ngừng. Trên đường bay về Cali, chúng tôi vẫn còn nghe âm hưởng Chuyện Bà Thị Kính và tiếng dàn cồng (chiêng) văng vẳng, có lẽ tiếng tụng niệm Nam Mô A Di Đà Phật với âm điệu hát chèo này sẽ ở lại mãi trong đầu. Đường về ngắn hơn với câu chuyện về vở Opera Quan m Thị Kính nổ như pháo, mỗi người mỗi ý, phê bình, khen ngợi... Đa số mọi người đều hài lòng và cảm nhận sự tuyệt diệu của những nốt nhạc, giai điệu, âm hưởng. Một số phê bình về sắc phục, điệu bộ và một vài đoạn có vẻ “tuồng”. Nhưng một điều mà cả 14 người chúng tôi đều đồng ý là nhạc sĩ P.Q.Phan đã thành công với những dòng nhạc hay tuyệt ngoài mức mong đợi. Tâm nguyện của cả nhóm là vở Opera Chuyện Bà Thị Kính của P.Q.Phan sẽ cất cánh thành một vở Opera được lưu diễn khắp nơi ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Tại sao không? Cốt lõi chính là phần âm nhạc và tuần bản đã đạt đến mức độ tuyệt vời. Mọi yếu tố còn lại đâu khó khăn gì mà không theo đó “thăng hoa”.

 

vb_3-content

Ảnh Việt Báo

 

 

The Tale of Lady Thị Kính sẽ được tiếp tục trình diễn vào tối nay và tối mai, ngày 14, 15 tháng 2 lúc 8 giờ tối tại Nhà Hát IU Opera.

 


vb_4-content

Ảnh Việt Báo

 

 Nguồn:

http://vietbao.com/D_1-2_2-282_4-220862/

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1314)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4798)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
31 Tháng Ba 20207:18 CH(Xem: 270)
NGÔ THẾ VINH Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ “Cây Cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi" và vào mấy năm cuối đời, như một Di Chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho: “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước. Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh. Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.
30 Tháng Ba 20206:04 CH(Xem: 285)
Em hớ hênh thèm một miếng thương / Để anh dáo dát đụng chân giường / Ngoài kia dẫu dịch tràn như sóng / Anh vẫn chết chìm trong mắt em. /
30 Tháng Ba 20205:57 CH(Xem: 207)
tháng hai, tháng ba ta trở về / chiều đi lên đồi nghe mùi của đất bốc lên thoang thoảng / lá vây quanh và mây xanh trên đầu / mớ ký ức vẽ hình vòng cung /
28 Tháng Ba 20206:12 CH(Xem: 597)
Ban đầu, ông thấy người gai gai, sốt, chán ăn. Bụng bảo dạ, nhẽ mình lao động hơi quá sức. Chả là vừa tập Gym hồi đêm về sáng trên máy bay với Hải Yến xong, thì tối hôm đó lại về sân hàng chiếu ở Times city thi đấu cả đêm. Bắt buộc phải cả đêm, bởi nếu không thì khó mà sống với phòng nhì đang kỳ lửa nồng được. Dù ông biết thân trước khi lâm trận, đã viện đến bao nhiêu sự trợ giúp, ngay cả từ lúc mới xuống sân bay kia. Thế nên đêm đầu về nhà cũng làm cho em Thuận mãn nguyện. Những đêm sau thì phải cố, cũng qua bài. Gặp mặt Hội 3G, tay bắt mặt mừng ôm hôn thắm thiết, mừng công trình rực rỡ để đời đã hoàn thành. Mừng cú tuyệt tác one in hole trên chín tầng mây, thật là độc nhất vô nhị! Nhưng mấy hôm tiếp theo đi họp hành, tiệc tùng chiêu đãi nhiều thấy mệt mỏi. Càng ngày càng thấy người ốm tệ. Sốt, ho, khó thở... Hay là nhiễm cúm virus corona? Em Thuận hoảng hốt vội gọi xe đưa vào viện khám. Xe đưa ông Nam vừa đi thì cũng có xe khác đến đưa ngay cả hai mẹ con đi cách ly chống dịch.
26 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 350)
Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).
25 Tháng Ba 202010:33 CH(Xem: 383)
Ơi bạn ta / Trong mỗi căn phòng cách ly / Hãy quán chiếu về sự chết / Hãy mở cánh cửa thâm u đã từng khóa chặt / Hãy mĩm cười về phía biển xanh / Sóng vẫn chập chùng pháp âm vô lượng nghĩa.
25 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 423)
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh...
25 Tháng Ba 20209:25 CH(Xem: 493)
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.