- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Sông Xanh

31 Tháng Năm 201212:00 SA(Xem: 136692)


song_xanh_2-content 
 
Căn bệnh kì lạ của ông ngày một nặng. Tôi vẫn mang bánh mỳ, sữa và vài ba can nước lên cho ông đều đặn. Vài ngày nữa là tôi phải chia tay với ông. Chuyến đi này có thể là mãi mãi.
Ông nằm trên giường, mỗi cử động của ông đều khiến chân giường kêu ken két. Những chiếc chậu cũ kĩ bày lộn nhộn. Mấy ngày nay không có mưa và nếu không phải tôi vô tình tới cái làng này thì rất có thể ông sẽ chết khô. Dân làng đã đi hết rồi.
- Hai ngày nữa là cháu đi rồi. Thật nhanh
- Cháu sẽ đưa đơn để làng ông có nước sạch.
Ông ho khan, những cục mủ lở toét ra. Căn nhà ông ở trên đồi. Từ cửa sổ hướng xuống là con sông đen. Sông đen, đó là cách gọi bây giờ.
Ông rót nước ra một cái chén rồi hất vào nhánh cây mọc ven nhà. Những nhánh cây khô đang mất dần sự sống. Nước sẽ tốt cho nó. Theo như những gì ông kể, từ mười năm nay dân làng đã bỏ đi hết. Con sông đã không dùng được. Căn bệnh của ông ngày một nặng. Những cục mủ đen ám muội đang huỷ diệt ông.
- Ông muốn kể cho cháu nghe về con sông.

Con sông này đã có từ rất lâu. Mỗi đứa trẻ khi mới sinh đều được người trong làng mang ra sông tắm. Có một câu chuyện huyền thoại. Ngàn năm trước nơi đây vốn là sa mạc. Không có người, không có cỏ cây, chỉ có nắng nóng và những con kên kên háu đói. Một ngày nọ, có hai cha con. Người cha sắp chết khát. Ông ta nằm bệt xuống cát, mắt nhám nghiền, có vẻ như cơ thể ông ta đã gặp trục trặc lớn. Người con thương cha quá nên đi tìm nguồn nước. Vô tình anh ta thấy có một vũng nước. Chỉ còn một vũng rất nhỏ và nó đang dần ngấm xuống cát. Anh ta lấy bát múc nước. Miếng nước chỉ đủ cứu một trong hai người. Anh ta đã cho cha mình uống. Ông ta uống rất nhiều, nước ngày càng tanh và khi thần trí ông ta trở lại minh mẫn ông ta thấy con mình đã chết. Chàng trai nằm dưới cát, chiếc bát nằm ngay đó, những giọt máu từ tay đang ngấm dần xuống cát. Ông ta gào lên và khi nước mắt ông rơi xuống, hoà vào máu cùng một giọt nước còn lưu lại trên vìa bát thì sa mạc bỗng biến mất. Chàng trai biến thành một con sông. Nước sông mát và có vị ngọt. Nó đã cứu sống tất cả. Đó chỉ là huyền thoại, không có ai kiểm chứng nhưng ai cũng tin. Con sông đó tên là sông Xanh. Ông vẫn rất nhớ, mình và đám trẻ trong làng thường đùa nghịch bên dòng sông đó. Nước sông ngọt và mát. Sông Xanh đi theo tuổi thơ ông. Nó cũng đã chứng kiến những nụ hôn vụng dại của đám trai gái trong làng.
 - Vậy tại sao nó lại trở ra thế này ?
 
Họ đã mờ mắt vì cái gọi là thành quả của những kĩ thuật tiên tiến. Lúc đó ông còn trẻ lắm và mỗi lần rượu vào là ông và bạn gái lại có một cuộc mây mưa điên cuồng. Ông làm tình chẳng suy nghĩ. Những lần vậy ông thường bị rượu chi phối, bạn gái ông thường phàn nàn vì ông quá mạnh tay và ông đành xin lỗi nàng bằng một cuộc mây mưa khác nhẹ nhàng hơn. Dù ông và nàng đã núp vào bụi rậm nhưng những cơ thể trần truồng đó vẫn không qua được mắt của sông Xanh. Sông nhìn thấy hết. Dù là ông hay một cặp tương tự. Những tiếng rúc rích và hàng loạt chiếc áo lót lất phất vắt trên cây là những gì sông Xanh có thể thấy được kể cả khi bóng tối đã đổ xuống làng.
Tiến bộ khoa học về làng. Ông lớn hơn và những gì ông hiểu cũng nhiều hơn. Dân làng đã có máy bơm nước, tủ lạnh. Ông trưởng làng tự hào vì làng đã theo kịp thời đại. Không còn cảnh đào giếng múc nước, không còn cảnh cầm xô ra sông xanh nữa. Sông xanh mờ đi và nhiều đứa trẻ lớn lên mà không được cha mẹ nó kể cho huyền thoại về sông xanh.
Ông trưởng thôn giơ tay giơ chân trước cuộc họp “ Chúng ta phải đi cùng thời đại. Phải công nghiệp hoá - Hiện đại hoá. Chúng ta phải cởi bỏ lớp vỏ tối cổ kia đi để khoác lên mình những bộ áo sang trọng.”
Những người tới họp, trong đó có ông đều nháo nhác. Mỗi người một ý nhưng chẳng ai nhắc tới con sông Xanh huyền thoại đó. Sông Xanh đang chết trong cái gọi là hiện đại, văn minh, tiên tiến. Có thể sẽ chẳng ai tin nhưng sông Xanh cũng có suy nghĩ đấy. Ông có thể nghe thấy tiếng than vãn của sông, chẳng ai nghĩ tới nó nữa nhưng sông xanh vẫn dõi theo từng bước phát triển của làng.
 Ông làm một chân trong làng, chỉ là tạp nham nhưng ông cũng có tiếng nói của mình. Sông Xanh đang van xin ông cứu nó. Thứ chất thải đặc sệt từ khu nhà máy đang tróc từng miếng vẩy của sông. Sông đau đớn và cần được giúp đỡ.
- Tôi nghĩ ông nên xem lại. Việc đặt nhà máy ở bờ sông có vẻ không ổn. Tôi nghĩ sông Xanh đang chết dần.
- Này anh bạn. Hãy nghĩ cho xa đi. Anh bạn được ăn ngon, mặc đẹp, được đi lại bằng những phương tiện hiện đại là do đâu. Là nhờ văn minh đấy.- Trưởng làng vỗ vai tôi nói – Sẽ còn nhiều nhà máy nữa. Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá. Đó là một công trình vỹ đại.
- Nhưng nó sẽ giết chết sông Xanh
- Có thành công thì phải có mất mát chứ. Cậu về đi, vài tiếng nữa tôi phải họp để mở thêm nhà máy luyện kim.

Mỗi đêm, khi đã yên trong giấc ngủ ông lại thấy tiếng nức nở của sông Xanh. Sông vẫn khóc và dường như trong làng ông là người duy nhất nghe được sự khẩn cầu này. Tôi dìu ông dậy, giờ đây ngay cả gió cũng có mùi thum thủm. Tôi phải chụp thêm một vài kiểu ảnh nữa. Nếu là trước, tôi sẽ rất vui mừng khi chụp được thêm những kiểu ảnh độc đáo này. Tôi sẽ có thêm chút ít để đi hộp đêm. Những bức ảnh này, chính xác, chân thực và dường còn mang hơi thở của cái chết.
Nước và lương thực mang theo đã gần hết. Tôi vốn định ở đây khoản năm ngày nhưng có lẽ tôi chỉ có thể ở thêm ngày nữa. Nơi ô nhiễm này sẽ đốt cháy sinh mạng tôi như đã làm với cả cái làng này vậy.
Sông Xanh đêm nào cũng khóc. Ông có thể thấy con mắt xanh màu bầu trời của nó đã ngả vàng, loài rô phi không còn thoải mái tung tăng như thuở nào nữa. Sẽ chẳng còn những cuộc tình vụng dại bên bờ sông. Đám trai làng, chúng không còn nhớ tới sông Xanh nữa. Tình yêu của chúng là trong các cuộc chat chít lăng nhăng và trên chiếc giường thơm mùi nước hoa trong những khu nhà nghỉ trá hình.

- Đây là thứ nước gì vậy ?
Trưởng làng hất cốc nước ông đưa cho xuống đất.
- Nước gì mà có mùi tanh lợm như vậy ?
- Nước của sông Xanh đấy. Sông Xanh bây giờ chỉ có thứ nước vậy thôi.
Ông lấy trong chiếc túi xách ra một bình nước. Ông rót ra cốc rồi mời trưởng làng uống. “Đây là nước sông Xanh ngày trước. Ông còn nhớ không, cái hồi chúng ta vẫn còn trần truồng đùa nghịch với sông.”
Trưởng làng cau mày, ông ta khìn khịt mũi rồi gạt tay. Cái hất tay khiến cốc nước rơi xuống đất. Chiếc cốc tuỷ tinh vỡ toang, nước tràn ra ngoài. Thứ nước dìu dịu, tinh khôi chảy lênh láng. Trưởng làng vỗ vai ông, bảo
- Hãy nghĩ xa hơn.
Mặt trưởng làng lạnh tanh, ông ta lấy chếc giẻ lau ở dưới gầm bàn, dúi vào tay ông “ Lau thứ nước bẩn kia rồi về vị trí của mình. Giờ giải lao hết rồi”
Ông chết lặng trong câu nói đó. Chiếc giẻ lau rơi khỏi tay ông lúc nào không biết. Ở đằng xa, những vũng dầu tanh tưởi vẫn chảy xuống lòng sông. Có lẽ đêm nay, sông Xanh sẽ lại tới tìm ông.

Những cái bụng trắng phếu bắt đầu trồi lên. Sông Xanh cầu xin ông giúp đỡ. Ông đã mủi lòng nhưng có lẽ ông vẫn phải bất lực. Trưởng làng, các cán bộ và những người dân mải mê với những khu công trình hiện đại cùng mớ thiết bị tân tiến đã rót vào túi họ những đồng polyme trơn nhẫy. Họ đã quên sông Xanh. Làng đã thành đô thị. Không còn cánh đồng, không còn những đống rơm, những con bò và những câu chuyện bông đùa mà mỗi người dân thường nói với nhau mỗi khi trên đồng về nhà.

Những cục mủ của ông lại vỡ ra. Chất dịch trăng trắng tràn ra ngoài. Ông nhăn mặt, tôi định lấy khăn lau giúp ông thì ông cản lại.
- Cháu hãy lấy giúp ta chiếc bình ta đặt trong chiếc chum sành ở góc bếp.
Căn bếp ông lộn xộn, những con nhện to bằng bàn tay nhởn nhơ bò trên những mành tơ. Bát, xoong, nồi mỗi thứ một nơi. Tôi bịt mũi và đi tới góc bếp. Thứ mùi ngăm ngẳm của gian bếp dù khó chịu nhưng chí ít vẫn hơn cái mùi nồng nặc của con sông. Tôi nhấc khối đá chẹn miệng sành lên. Có một chiếc bình sứ trong đó. Không phải bình, là một cái can thì đúng hơn. Một cái can trắng hình vuông và khá lớn. Tôi rờ tay vào mặt can, một cảm giác là lạ truyền ra. Tôi thấy sảng khoái như được truyền thêm sinh khí. Đây có thể là gì nhỉ, một thứ bảo bối ư ? Tôi lắc nhẹ, bên trong có tiếng ọc ạch. Là nước. Tôi ghé mũi ngửi thì thấy có một mùi lạ lẫm. Chẳng rõ có phải rượu không.
 Ông mở nút bình. Thứ mùi là lạ ngày một nồng. Ông nhìn chiếc bình rất lâu. Ông mở nút, miệng khe khẽ cười. Thứ nước màu xanh đổ xuống cốc đều đều. Ông đưa cho tôi “ Cháu uống thử đi”
 Tôi làm theo. Tôi nhìn rất kỹ cốc nước rồi mới uống. Nước có mùi thơm dìu dịu, nước trong tới nỗi tôi có thể nhìn thấy những vết xước nhỏ dưới đáy cốc. Và khi ghé miệng, thứ mùi đã chuyển sang ngòn ngọt. Ngụm nước mát và trong lành. Mùi thơm nhè nhẹ chảy vào huyết quản, thứ mùi lờm lợm trong không khí và ở cục mủ vừa vỡ ra không còn khiến tôi thấy khó thở. Cái cảm giác này thật kì lạ, nhè nhẹ, lâng lâng lại có chút khoan khoái. Tôi muốn tìm một từ nào đó để miêu tả nhưng khốn nỗi vốn hiểu biết của tôi quá nghèo nàn. Tôi không biết phải đặt câu ra sao. Nếu gã bạn già viết văn có ở đây có lẽ ông ta sẽ giúp được tôi.
- Đây là nước gì vậy ?
Ông dốc bình, chỉ còn một vài giọt nhỏ đọng ở đáy. Cái cốc bự con mà tôi vừa uống đã rút triệt để thứ nước màu xanh kì lạ ở chiếc bình. Ông ngửa tay hứng rồi xoa vào cục mủ vừa vỡ. Và kìa, cục mủ đã biến mất, vẻ mặt của ông cũng dịu đi.
- Chẳng lẽ đây là nước thánh ? – Tôi ngỡ ngàng buột miệng
Ông nhìn tôi mỉm cười “ Nước của sông Xanh đấy”
Tôi thót mình, tôi nhìn ra phía cửa sổ. Con sông đen ngòm ngòm, rác thải trôi lềnh phềnh trên đó. Giờ nó như một cái đầm lầy vậy. Con sông u ám này, lẽ nào lại có thứ nước thần kỳ như vậy.
- Chai nước này là thời trẻ ông đã múc đổ vào bình. Hồi đó ông rất yêu sông Xanh và việc lấy nước sông đổ vào bình đơn thuần chỉ là muốn khi chết rồi con cháu sẽ đặt chiếc bình này cạnh quan tài ông.
 Sông Xanh đã chảy cạn. Giờ thì sông đã chết thật. Tôi cũng đã đi khỏi cái làng ô nhiễm đó. Ông không muốn đi cùng tôi. Ông ở lại cùng sông Xanh. Rồi thì ông cũng thành một đống thịt bầy nhầy, như trưởng làng.

Những cột khói thải lên bầu trời thứ màu đen đặc. Sông Xanh tội nghiệp đang phải sống chung với thứ dầu thải hôi hám. Ông bị trưởng làng đuổi việc. Ông ta sai người quăng ông khỏi cổng vì ông đã liều lĩnh xé bản thiết kế nhà máy dầu thứ hai có hệ thống ống thải luồn vào sông Xanh. Con ông đi nơi khác sống vì không chịu nổi một ông già bảo thủ có lối suy nghĩ chậm tiến.
Không còn ai uống nước sông nữa. Ông chuyển lên núi ở. Nhưng có lẽ ngay cả nơi hiu vắng đó cũng đã trở thành một công trình của cái gọi là Văn Minh - Hiện đại.
Hàng đêm ông khóc cùng sông Xanh. Những người trong làng quẳng những túi rác xuống lòng sông Xanh. Sông trở thành bãi rác tự nhiên lúc nào không biết.
Ông cũng đã từng thấy một đám trẻ con vạch chim đái xuống sông, bên tia nước đái, những cục rác trôi lổn nhổn. Ông hỏi “ Tại sao các cháu lại đái xuống sông Xanh”. Đám trẻ nhìn ông, vẩy chim rồi kéo quần. “ Sông Xanh là sông gì vậy ông. Mẹ cháu bảo đây là sông Đen”
Ông chạnh lòng. Ông quỳ xuống bờ sông, hai tay ôm mặt. Những giọt nước chảy qua kẽ tay.
 Và từ đó ông ở biệt trên núi. Ông có thể thấy được màu xanh kia đã váng đục và rồi thì ngay cả cái màu sắc vàng vọt đó cũng lẫn vào thứ dầu thải đen đặc hôi hám. Sông Đen vậy đã thành hình. Ai đi qua sông cũng phải bịt mũi. Từ trên núi ông vẫn thấy những người trong làng. Ông trưởng làng đã không còn đi guốc mộc, mặc áo xếp. Ông ta diện bộ vét đen, đeo cà vạt và phì phèo xì gà như những tay mafia bặm trợn. Thanh niên thiếu nữ tìm tới nhau mỗi khi động dục và họ thường quẳng vào lòng sông những miếng “cao su bảo hiểm”.
 Mỗi khi mưa về ông lại đứng bên ô cửa hướng ra con sông. Ông đứng đó rất lâu, ánh mắt heo hắt nhìn xa xăm.
 Sông đen ngày càng hôi. Lòng sông không còn tôm cá nữa, chỉ có rác rưởi và hoá chất. Sông cũng không than khóc nữa. Hai mắt sông đã mù.
 Tôi đã được tổng biên tập cảnh báo về sự nguy hiểm ở làng. Vậy mà tôi vẫn cứ đi. Tôi mang theo nước và dụng cụ cá nhân. Tôi nghĩ khi bài báo được đăng, sẽ có rất nhiều người quan tâm.
 Khi tôi tới làng chẳng còn ai. Những khu nhà máy hiện đại đều bỏ trống. Làng heo hắt như cái nghĩa địa và nếu tôi không vô tình đi lên núi thì chắc không thể gặp được ông và bài báo này cũng khó có điểm nổi bật
- Họ chỉ thực sự sợ hãi khi căn bệnh đó xuất hiện.
Một căn bệnh lạ, toàn thân sẽ nổi mụn nước và mụn sẽ chuyển thành mủ. Thoạt tiên họ nghĩ chỉ là bệnh dị ứng nhưng khi ông trưởng làng chết thì họ như phát điên. Nước không còn màu trắng tinh khiết nữa. Nước vòi đã thành màu vàng.
Khi khâm liệm, không ai còn nhận ra trưởng làng. Khuôn mặt ông ta đã thành đống thịt bầy nhầy. Lớp da bên ngoài bị mủ ăn thối. Và cũng chẳng lâu sau từng người trong làng cũng bén gót ông ta. Cháu nghĩ có tức cười không. Thoạt đầu họ đổ tội cho sông Xanh nhưng rồi thì họ lập đàn cầu xin con sông huyền thoại kia cứu giúp. Nom họ thật tội nghiệp. Họ cầu xin rất nhiều, rất lâu. Nhưng sẽ chẳng ăn thua gì. Sông Xanh không còn nghe được những lời khẩn cầu đó. Chính những người tội nghiệp này đã bức tử sông Xanh. Chỉ còn sông Đen thôi. Sông đen nhìn ngắm và nhấm nháp sự sợ hãi, bất lực của họ.
Và khi lời cầu khẩn không được đáp lại họ bỏ đi, tháo chạy gấp rút như tránh thiên tai. Những nhà máy đóng cửa. Căn bệnh lạ kia vẫn tiếp tục lan tràn. Ông cũng bị.
- Sông Xanh cũng có linh hồn đấy. Mỗi khi trở bệnh ông lại uống nước ở chiếc bình kia. Bệnh ông đỡ hơn.
- Tại sao ông không rời khỏi đây.
- Ông không muốn xa sông Xanh.
- Sông Xanh đã chết rồi.
- Ông đã sống ở đây và khi chết ông cũng muốn mình phải ở đây.

Làng xá điêu tàn. Con sông đen ngòm vẫn thổi ra thứ bệnh độc hại. Tôi phải rời khỏi nơi này trước khi thứ bệnh đó xâm nhập vào ngũ tạng. Ông không tiễn tôi. Ông vẫn nhìn ra sông Đen. Nước trong chiếc bình đã cạn rồi đây sẽ chẳng có gì có thể cứu được ông. Lần cuối tôi nhìn thấy ông, khuôn mặt ông mủ đã loét thành những vũng máu.
Tôi đã có thể hiểu. Sông Xanh hiền từ luôn bao dung với dân làng. Căn bệnh này không phải là sự trừng phạt của sông Xanh. Mà chính dân làng.
Sông Xanh huyền thoại vậy đã không còn. Nhưng rồi những con sông huyền thoại khác nữa. Không chỉ ở một ngôi làng. Những con sông thơ mộng đó có thành hậu duệ kế tiếp của con sông ô uế này.
Tôi thấy cánh tay ngưa ngứa. Tôi lấy tay định gãi thì thấy bên cổ tay có một hạt mụn. Hạt mụn có vẻ mới mọc không lâu. Nó chỉ bé bằng hạt ngô và có màu đen. Trông nó thật giống một hạt giống nhỏ mới gieo, chờ nảy mầm.
 Minh Hà
Hà nội 20.9.2010 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 209)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 174)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 325)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 274)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 386)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 557)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1016)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1082)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1684)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1980)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 557)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11054)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17688)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16756)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 325)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 385)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1980)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2527)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 274)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2413)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2183)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2771)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1016)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1082)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1622)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2400)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 208)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 174)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1684)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2246)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3079)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14404)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30478)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36754)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12177)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13518)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3943)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5962)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5449)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6010)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6658)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8986)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11226)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.