- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Xương rồng cô đơn

26 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 126986)


luthimai2012-content

 Lữ Thị Mai - Hà Nội 2012

C
hồng tôi không biết gì về Du. Tôi chôn giấu kí ức như những món đồ ngủ quên trong chiếc rương xưa cũ. Đôi khi gặp lại cũng đủ gợi trí tò mò. Anh sợ bất cứ thứ gì cũ kỹ. Tôi thì trái lại, lẩm cẩm như bà già, luôn thích nhặt nhạnh và cất giữ. Cứ tiếc nuối mãi, cứ dùng dằng mãi. Tình yêu, giữa vợ chồng tôi, cả hai đều không muốn nó dời đi. Ít nhất là trong căn phòng ba mươi sáu mét vuông này. Căn phòng ở khu tập thể cũ. Nó vốn thuộc về anh. Sau này tôi mới nhận ra mình chưa bao giờ nhớ nổi nó là phòng số bao nhiêu, tầng mấy. Mà hình như tôi không cần nhớ. Các căn phòng ở đây khá giống nhau. Cánh cửa nâu xỉn, màu sơn tường xanh lạnh và những chậu cây nhỏ xíu đặt ngay ngắn dọc hành lang. Có lần tôi đã sai. Chuyện ấy trở thành trò cười cho lũ bạn. Chỉ vì tôi quá tin vào cảm giác của mình. Cảm giác đưa tôi đến với căn phòng ba mươi sáu mét vuông, cuộc sống thường nhật vợ chồng lại đẩy tôi sang một căn phòng khác. Không màu. Không cửa. Khóm xương rồng cô đơn không bật nổi mầm chồi.

  

Thỉnh thoảng tôi nhận được tin nhắn: Nhi đang làm gì? Chỉ có thế và mọi chuyện sẽ lại im ắng như thường. Tôi có yêu Du không? Chính tôi cũng hoang mang khi vấp vào ý nghĩ ấy. Chỉ biết nếu thỉnh thoảng không nhận được tin nhắn của Du cứ thấy thiếu thiếu, buồn buồn. Ở thành phố này, tôi đã học được ở Du cách một thân một mình vượt qua những phút chống chếnh, nản lòng. Ngày còn ở quê, mỗi lúc buồn tôi hay giả vờ ốm. Chỉ bằng cách đó tôi mới có thể yên tâm nằm một góc mà không bị ai soi xét, hỏi han. Mẹ tôi luôn lo lắng. Bà thường nấu cháo cho tôi ăn ngay. Bao giờ cũng là cháo tía tô với trứng gà. Tôi nhìn mãi cái lòng đỏ im lìm nổi bật trên bát cháo. Lúc giống mặt trăng lúc giống mặt trời. Dần dần tôi đâm nghiện. Nhìn bát cháo bốc hơi nghi ngút là thấy lòng nhẹ bẫng. Thỉnh thoảng buồn, tôi xuống quán ăn dưới sân tập thể nhưng cháo ở đây khiến tôi chát bứ cổ họng.

 

Thời học phổ thông, hai đứa chúng tôi ngồi hai đầu bàn cuối. Luôn song song và cách nhau một khoảng chừng hai mét. Vị trí ấy thầy cô vẫn đứng quan sát học sinh làm bài tập trên bảng. Du thường liếc ngang sang tôi, vào những khắc mà cậu ấy cho rằng tôi ít để ý. Tôi phân vân mãi, không hiểu Du thường nhìn gì ở tôi. Vậy mà nửa đầu bên phải của tôi vẫn bừng bừng. Thằng Bằng ngồi cạnh tôi bảo rằng hắn đã được Du rủ về phòng riêng xem phim cấp ba. Tôi nhìn hắn khinh khỉnh, phớt lờ. Điều hắn nói không làm tôi sợ. Vẻ bề ngoài, tôi hơi nhút nhát, hơi ngoan hiền theo đúng kiểu con nhà được bố mẹ dạy dỗ, giám sát cẩn thận. Du trái lại, buông tuồng và bất chấp. Thì Du vẫn bảo, con gái con trai thường khác nhau như thế. Vào những buổi trưa, Du chở tôi trên chiếc xe địa hình đến triền đồi vắng. Chúng tôi nằm xuống thảm lá khô. Hai thân hình từ vị trí trái chiều vạch một đường thẳng tắp trên thảm lá. Du bảo cuộc sống này ngột ngạt quá. Chúng mình nhắm mắt lại thôi. Những lay động đang trôi qua thật khẽ. Du đặt từng ngón tay muốt dài, lạnh ngắt trượt nhẹ trên tóc tôi. Tôi hay trêu Du, người có ngón tay dài sẽ đa tình lắm. Du cười, nhưng những ngón tay ấy phải thật ấm áp mới đủ mang đến cho người khác niềm vui.

 

Anh muốn chúng tôi chuyển đến căn hộ ở khu đô thị mới. Tôi dùng dằng mãi với căn phòng này. Căn hộ mới khiến tôi nghĩ đến mẹ chồng. Anh muốn chúng tôi về ở gần bà hơn. Mẹ chồng thì luôn gặng hỏi tôi về vấn đề con cái. Vì sao sau bốn năm chung sống vợ chồng tôi lại không sinh nổi mụn con. Vì sao không đến bác sĩ. Vì sao không đi kêu cầu ở đền nọ chùa kia. Những lúc ấy tôi không biết phải trả lời sao. Trong mắt mẹ chồng tôi là đứa con dâu hết sức khô khan và bướng bỉnh. Chúng tôi đều đã đến phòng khám. Đều đã trở về với tờ phiếu xét nghiệm không chứa đựng vấn đề gì cả. Thế mà tôi và anh đều thấy trĩu nặng. Chúng tôi tránh nhìn nhau trong những khoảnh khắc ấy. Căn hộ mới có thể sẽ giúp ích cho cảm hứng của chúng tôi. Tôi đọc được tia hi vọng mong manh trong mắt anh khi đặt vấn đề chuyển nhà. Anh cảm giác rằng căn phòng âm u này mang điềm rủi. Cả cánh cửa nâu xỉn, màu sơn tường xanh lạnh và những chậu cây nhỏ xinh dọc hành lang cũng thế. Nhưng trong căn phòng này, mọi thứ đã được sắp đặt giông giống với trật tự của tổ ấm. Tôi sợ căn phòng rộng hơn. Có lẽ tôi và anh sẽ chẳng biết phải bày biện gì để lấp đi những khoảng trống. Hoặc giả sử có bày biện được thì chắc gì tất cả hình khối, màu sắc đó sẽ ăn nhập với nhau. Nỗi lo sợ vu vơ đeo bám tôi những lúc tôi vật vờ như bóng ma trong căn phòng tưởng tượng.

 

Hai đứa này cứ như mặt trăng mặt trời, tưởng là cái bóng của nhau mà chẳng khi nào đối diện. Mẹ Du nhìn tôi thở dài. Bà bảo giữa chúng tôi còn xa cách hơn bố mẹ Du ngày ấy. Bố đi nước ngoài lúc Du còn nằm nôi. Trong trí nhớ của chúng tôi không hề có một ý niệm nào về người đàn ông ấy mãi đến khi ông về nước, Du đã lên mười. Mẹ Du vẫn làm chủ tiệm may lớn trên thị xã, đi đi về về như ngày chưa lấy chồng. Hàng ngày, chúng tôi cùng đi học. Trong cặp Du luôn có những phong kẹo cao su hay sô cô la mà ngày ấy với trẻ quê chúng tôi đó là thứ quà vô cùng quý hiếm và xa xỉ. Trong đám trẻ làng, Du chỉ cho tôi kẹo. Đương nhiên là vậy. Nhưng bao giờ Du cũng đòi tôi cho lại một thứ gì đó. Tôi khất lần không muốn cho đi bất cứ thứ gì mình đang sở hữu. Nhưng trên đường đi học về, tôi tự nguyện xách cặp cho Du để Du tung tăng bắt cào cào ven chân ruộng. Năm tôi học lớp ba, trong một lần về qua nhà, mẹ Du mang cho tôi mấy cái váy sặc sỡ và nhiều tầng như váy búp bê. Tôi lấy làm thích thú xúng xính mặc đến trường. Tôi đi bên Du cảm giác lâng lâng như mình là người khác. Du không còn bắt tôi xách cặp giúp. Du đi đằng sau tôi im lặng. Du chau mày trước những cặp mắt tò mò xúm quanh tôi. Rồi giờ ra chơi, bất ngờ trong đám đông ấy, thằng Tú, thằng Trung và thằng Bằng xông vào tốc váy tôi. Thầy chủ nhiệm véo tai, giam ba thằng sau buổi học. Trên đường đi học về, Du xách cặp cho tôi, Du bảo: Nhi đừng khóc nữa, từ nay chỉ mặc váy ở nhà thôi.

 

Khóm xương rồng Du tặng tôi đặt trên bậu cửa sổ. Vị trí ấy nhìn xuống khoảnh sân tập thể lúc nào cũng vắng lặng, ẩm thấp. Mặc tôi chăm bẵm như đứa con cầu tự, chậu cây ấy chỉ bật lên toàn gai là gai. Sau mỗi đêm lại bật lên những chùm gai sắc nhọn bủa vây tôi bằng những nỗi nghi ngờ. Một ngày. Hai tư tiếng đồng hồ quy ước. Hơn nửa thời gian tôi và anh bên nhau. Nhưng thực sự chúng tôi đã dành cho nhau bao nhiêu phút? Anh bảo tôi cứ thắc mắc thế để làm gì. Vậy thì chúng mình chia tay thôi. Tôi nói với anh thành khẩn. Thực sự mọi chuyện chưa đến mức đó. Anh bỏ đi khi ánh trăng chênh chếch qua cửa sổ. Lâu lắm rồi, ở thành phố này mới lại nhìn thấy trăng. Người ta gọi đó là siêu mặt trăng. Mấy chục năm mới có một lần. Mặt trăng như quả cầu rừng rực cháy. Mặt trăng gần trái đất quá là điềm báo khởi nguồn cho mọi sự bất thường. Mẹ chồng tôi ra đi đúng ngày bất thường ấy. Đúng khoảnh khắc anh rời bỏ tôi trở về bên mẹ. Mấy bà cô già cứ tâm niệm mẹ chưa có cháu đích tôn nên chắc không nhắm mắt nổi đâu. Nhưng mẹ chồng tôi đã không gọi tên ai, thanh thản nhắm mắt. Anh khóc nấc, anh bảo vậy là mẹ đã khước từ tất cả rồi. Tôi nghĩ khác, mẹ buông xuôi, chấp nhận thì đúng hơn. Tôi nằm bất động như xác chết. Lúc này, lại ước được như con mèo nhỏ, nằm ngủ mê man dưới tán hoa giấy rợp mát để rồi mặc sức hình dung về những mảnh trời vỡ vụn trong giấc mơ. Thực sự tôi là ai. Lửng lơ giữa tôi và Du. Xưa và nay. Cả hai cứ tồn tại song song mà chẳng khi nào chịu đối diện và hòa lẫn. Như quán cà phê quán Liu năm nào. Những viên đá lạnh già đanh luôn tìm cách khước từ màu cà phê đen đặc vô nghĩa. Chị chủ quán lắm khi cũng chỉ cười cười: Nhi xinh thật đấy. Cứ như gái chưa chồng. Tôi chẳng biết phải hiểu câu nói ấy thế nào nữa. Nó lấp lửng giữa lời khen ngợi thật thà và bông đùa chế giễu.

 

Cà phê Liu. Tôi gửi tin nhắn cho Du mà vẫn không thôi băn khoăn, sao lại có cái tên kì cục thế. Biết đâu đó là tên một người? Cũng chẳng hiểu tại sao tôi chọn quán này. Hay là vì chính cái tên kì cục. Chúng tôi vẫn ngồi song song thay vì đối diện. Tôi và Du cùng nhìn về một hướng. Nơi đó còn những hình dung về kí ức vẹn nguyên của đám lá khô xào xạc, từng bước chân gượng nhẹ và giọng nói mơ hồ trong rừng vắng.

Hai mươi tuổi, chúng tôi từng ngủ chung với nhau. Buổi chiều ấy mưa gió tơi bời. Cành hoàng lan già róng riết đập vào cửa sổ, tôi và Du ngồi co ro một góc phòng không đứa nào dám ra khép cánh cửa lại. Thế mà mẹ tôi vẫn đội mưa đội gió ra đi. Du bảo, bà đi vì tin rằng khung trời nơi xa ấy không bao giờ giông bão. Và tôi biết, ở đó còn có người đàn ông bao nhiêu năm mỏi mòn chờ đợi mẹ đến nấu bát cháo tình yêu hóa giải những cơn cảm sốt trong lòng. Tôi không sao quên được cái thứ cảm giác lạ trượt ra ngoài ham muốn. Giông giống với cơn mệt mỏi cần được xoa dịu. Du dụi đầu vào ngực tôi như đứa trẻ. Đôi mắt tôi đã giàn giụa nước từ bao giờ. Ngay giây phút ấy, tôi từng nảy ra ý nghĩ điên rồ. Muốn có một đứa con với Du. Rồi đi lấy chồng cũng được. Rồi giống mẹ tôi cũng chẳng sao. Nhưng Du lẳng lặng mặc lại quần áo. Du bảo với tôi, Du muốn làm con gái. Một đứa con gái như tôi. Biết đâu sẽ lại thành một chiếc rương cất giữ kí ức cho người khác. Giá như kí ức hiện hữu thành một cái gì đó. Một vật có thể cầm trên tay. Tôi sẽ trả lại Du. Hay ít ra là ném xuống đất cho nó vụn vỡ ra.

Du thú nhận năm học lớp ba, chính Du dúi kẹo cao su cho ba thằng con trai ấy để chúng chạy đến tốc váy tôi. Để tôi khỏi mặc váy đến trường. Để Du khỏi phải trông thấy đứa nào đó hau háu ánh mắt nhìn tôi. Ba thằng ấy bây giờ đều là cửu vạn trên phố, nay xách hồ, mai bốc vác. Du là doanh nhân, độc thân, quyết đoán, và lạnh lùng.

Du thú nhận không thể rời xa tôi. Vì tôi đã cất giữ quá nhiều kí ức của Du. Tại sao chúng ta cứ phải cất giữ kí ức cho nhau trong khi kí ức thì có bao giờ sòng phẳng.

Mãi rồi Du cũng lấy vợ. Một cô nàng thuộc thế hệ 9x cao dong dỏng, môi mắt long lanh nhưng chỉ hai năm thì đường ai nấy đi. Mẹ tôi vẫn thở dài: Cứ nhìn cái cách thằng Du bỏ vợ mà thấy hãi hùng. Nghe mấy đứa bạn kể, cô vợ trẻ của Du là vốn là người mẫu tỉnh lẻ, bản tính đong đưa và thực dụng. Du biết nhưng vẫn cưới. Một cuộc đông vui ở vũ trường, có thằng kiếm cớ mời vợ Du nhảy. Cô nàng nhận lời ngay phớt lờ thái độ của Du. Sau khi uống mấy ly rượu mạnh, Du vẫy thằng kia lại, hỏi: Vợ tao, mày thích, tao cho không. Thằng kia sợ quá chuồn mất. Còn cô vợ trẻ bấy giờ mới sực tỉnh, quỳ sụp dưới chân Du.

Du nhấp ngụm café nhìn tôi cười nhạt. Thiên hạ đồn đại cả thôi. Nhi để ý làm gì. Người ta đến với mình thế nào thì ra đi như vậy.

 

Tôi biết chồng mình ngoại tình. Cũng chỉ bằng cảm giác. Rồi đây sẽ đường ai nấy đi. Và anh sẽ chẳng bao giờ chạm đến được những điều bí mật tôi hằng cất giữ. Biết đâu như vậy thanh thản cho nhau hơn. Làm sao tôi có quyền đòi hỏi ở anh điều gì hơn ngoài một vỏ bọc bình yên. Mọi thứ mục rữa, cũ nát đến khác thường. Hình như, tôi chỉ co ro như một con ốc mà không hề nổi loạn là nhờ núp dưới cái vỏ bọc bình yên ấy. Tôi càng không thể biến anh thành tòng phạm của chiếc rương kí ức chất chồng. Những chiếc váy màu sắc sặc sỡ, nhiều tầng như váy búp bê tôi gom góp trong kí ức nay chất đống góc phòng.

Du bảo, Du biết yêu từ ngày ấy, ngày tôi xúng xính váy búp bê còn Du là cậu bé chưa lên mười. Tới khi chúng tôi lớn lên, tình yêu ấy đột nhiên vuột mất. Nhưng Du vẫn đi tìm. Du yêu những cuộc kiếm tìm dẫu biết mình sẽ phải trả giá. Có khi nào, Du yêu những cuộc kiếm tìm ấy hơn tôi?

Có ai tin nổi?

Một đêm không có anh. Không có Du. Căn phòng cũ chỉ còn lại tôi với một chậu xương rồng và một mặt trăng chênh chếch. Con dao sắc lẹm trên đĩa hoa quả ánh lên vệt sáng bàng bạc nhức nhối cắt đôi bức tranh tĩnh vật. Trong bóng tối, chậu xương rồng trên bậu cửa run rẩy những chiếc gai nhọn hoắt tội nghiệp. Loài cây cô đơn ấy sao càng gai góc lại càng đáng thương. Giữa lòng bàn tay tôi, những chùm gai bấy lâu nay được tắm bằng nước mắt bật lên từng nụ hoa chói lòa sắc đỏ. Trong đêm tối, sắc đỏ chảy lan, gọi mời, mê hoặc thêm nhiều khóm xương rồng khác quy tập về căn phòng ba sáu mét vuông. Thấy cả những ánh mắt thân quen thấp thoáng, hấp hối nhìn tôi sau từng chùm gai nhọn. Những khóm xương rồng mọc lên, dần dần biến căn phòng thành sa mạc. Tôi thấy khát. Khát khô. Mặt trăng trên cao đã rụng xuống từ lâu, những mảnh vỡ đang rừng rực cháy. Nghe từng giọt nước mắt chậm rãi chảy xước trên mặt mình. Như vết dao. Chảy đến đâu biết đến đấy. Càng chảy càng xót xa. Ai nói cho tôi biết, một lúc nào đó, nếu những giọt nước mắt kia không chảy nữa, tôi có chết khô giữa sa mạc này không.

Lữ Thị Mai
(Hà Nội 2012) 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 286)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 447)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 523)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1064)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 933)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1058)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1613)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1638)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1542)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1537)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10442)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17253)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16335)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16784)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1057)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1638)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1658)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2421)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 447)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 930)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1541)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1380)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 286)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1063)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1613)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1537)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 521)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3143)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3063)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3575)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2197)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13952)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30077)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36148)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11640)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13096)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2904)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4108)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4070)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4589)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5109)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8337)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7732)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10659)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.