- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Thuyên (*)

31 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 131254)


tangthanhha_2bw-content
 Tăng Thanh Hà _ Nhan Sắc Sài Gòn

Nơi Thuyên ở hình như mặt trời ít đến thăm. Nhà Thuyên nằm trong bìa rừng trên một ngọn đồi bên ven núi nhìn xuống biển bát ngát. Một phong cảnh thật trữ tình, trữ tình vì quanh năm triền đồi đó nằm dưới làn sương mù chặn những tia nắng không cho đi xuyên qua xuống đến đầu những vòm cây. Thiếu nắng nên khu nhà Thuyên lúc nào cũng lành lạnh. Thật lạ! Khu nhà tôi thì trái hẳn, nắng ấm mỗi năm mười hai tháng. Có lẽ vì khu tôi nằm ở phía Nam xa lộ trong khi đồi nhà Thuyên ở vùng phía Bắc trên xa lộ chạy từ Đông sang Tây. Cũng trên xa lộ này mà tôi và Thuyên gặp nhau. Hôm đi làm về trên xa lộ từ hướng Đông đến ngã tư có bảng Stop có con đường nhỏ một lane cắt ngang. Rẽ phải thì đi lên Bắc, nếu đi thêm một khúc xa thì lên đồi, rẽ trái đi về Nam hướng nhà tôi. Mải suy nghĩ chuyện trong sở, tôi quay mũi xe về phải thay vì trái. Biết lầm, tôi vội vàng quay mũi xe lại thì suýt đâm vào một chiếc xe khác đến ngã tư khi nào mà tôi không biết. Hai xe ngừng lại cách nhau chỉ gang tấc. Một khuôn mặt á đông xinh xắn khả ái nhìn tôi mỉm cười. Tôi buột miệng nói xin lỗi bằng tiếng Việt trong khi miệng cố nở một nụ cười mà tôi cho là có duyên.
Câu hỏi tiếng việt của người con gái làm tôi ngỡ ngàng cứng họng không biết nói sao.
- Ông định lên đồi ghé nhà tôi rồi đổi ý không lên nữa hả?
“Tôi có quen cô đâu mà lên đồi tìm nhà cô”, tôi vụng về nghĩ.
Chắc môi tôi cụp xuống từ lúc nào nên nụ cười thành méo mó làm cô gái với khuôn mặt xinh xắn bật cười to. Trước khi tôi kịp tung chiêu thì cô gái đã vòng xe sau lưng xe tôi rồi phóng nhanh đi trên con đường nhỏ. Xe vẫn còn nằm chình ình giữa ngã tư, tôi nhìn theo chiếc xe nhỏ đi dần cuối đường rồi mất hút sau rặng cây đầu của ngôi rừng dưới chân đồi.
Tôi gặp lại Thuyên tại ngôi chợ lộ thiên nhóm mỗi sáng thứ bảy. Hẳn là cơ duyên vì vào cuối tuần tôi luôn ngủ nướng cho đến gần trưa mới dậy và vào giờ đó thì chợ sắp đóng cửa. Cơ duyên làm tôi dậy sớm sáng thứ bảy đó, sớm hơn thường lệ nhưng cũng sau chín giờ. Nhà hết cà phê, tôi quyết định chạy ra ngôi chợ vì biết ở đó có mấy xạp cà phê tuyệt ngon. Mua một ly cầm ra băng đá ngồi nhâm nhi, tôi chợt thấy ai trông quen quen đi ngang. Người con gái đó cũng đứng khựng lại nhìn tôi soi mói sỗ sàng.
- Ông ở gần đây?
Câu hỏi thẳng thừng của nàng vừa làm tôi ngạc nhiên vừa thấy buồn cười. Tôi bật cười lên, đáp.
- Gần.
- Ông ở đây bao lâu rồi?
- Mới dọn về năm ngoái.
Tôi mời Thuyên đi ăn sáng. Nàng chịu ngay. Trong bữa ăn tôi hỏi Thuyên về gia thế, việc làm. Tôi thích điệu bộ tự nhiên không làm dáng của Thuyên. Thuyên qua Mỹ khi còn bé, lớn lên ở xứ người nên hấp thụ tính tự nhiên của phụ nữ bản xứ. Tôi phục thầm nàng nói tiếng Việt sõi. Thuyên nói nàng ở một mình trong một ngôi nhà nhỏ trên đồi rồi mời tôi lên chơi. Tôi đáp để chiều tôi sẽ lên sau khi nàng cho địa chỉ. Thuyên cười, bảo tôi sẽ đi lạc nếu không được dẫn đường. Nhìn đôi môi nàng con cớn, tôi tự ái đàn ông nói không cần, sẽ tự tìm ra nhà. Tôi nghĩ thầm mình có cái GPS thì sợ gì. Thuyên nguệch ngoạc viết địa chỉ nhà lên tờ napkin đẩy lại tôi.
- Đấy, thì ông tự lên tìm.
Ra đến cửa Thuyên quay lại, chỉ vào giỏ xách tay ny lông đen có lòi ra mấy bó rau.
- Chiều ông tìm được nhà tôi thì mời ông ăn một bữa cơm tối ... Nhà có cổng gỗ với giàn hoa leo đấy.

*
Nhìn con đường đất càng đi lên càng hẹp đi càng ngoằn nghoèo, bụng tôi càng lo thêm. Bây giờ tôi mới hối hận cái tính macho của mình. Máy GPS hỏng, tôi bật computer lên nhìn bản đồ Google thấy lác đác vài căn nhà trên đồi, xung quanh toàn là cây với cối. Không có số điện thoại Thuyên, tôi chặc lưỡi lên xe đi đại. Bây giờ nhìn chỉ thấy mình đơn độc, con đường đất lồi lõm dưới gầm xe, cây cỏ rậm rạp xung quanh và mảnh trời u ám ở trên cao. Không thấy nhà nào, người nào, xe nào khác. Không biết leo dốc mãi rồi sẽ thấy nhà cửa hay chỉ đi sâu vào trong rừng. Nhớ lại khuôn mặt xinh xắn, đôi môi cong cớn và lời mời bữa cơm tối, tôi bặm môi đạp chân ga leo dốc tiếp.
Mới hơn năm giờ chiều mà trên đây đã âm u. Cây cao mọc chi chít với cành lá xum xuê chỉ cho vài ánh nắng gầy guộc chiếu xuống. Nếu không tìm được nhà Thuyên sớm thì bóng tối sẽ ập đến, tôi đâm lo. May thay tôi thấy loáng thoáng trên kia vài nóc nhà. Tôi lên tinh thần. Là người của thành phố, quán cà phê, nhà hàng, tiệm điện tử, tôi kỵ thiên nhiên, ghét hoang vu, tránh cô độc, dễ hoảng lên khi thấy một mình mình tại những nơi xa lạ vắng bóng người.
Đầu xe vừa trườn lên đỉnh đồi thì tôi thấy căn nhà đầu tiên, không có cổng gỗ với giàn hoa leo. Căn kế cách xa cả trăm thước, cũng không cổng gỗ với giàn hoa leo. Căn kế tiếp cũng xa và cũng không cổng gỗ với giàn hoa leo. Dường như sắp đến cuối đường và chỉ còn một căn nữa. Lậy Trời nhà đó có cái cổng gỗ với giàn hoa leo. Trời u ám ở trên đã nghe lời cầu của tôi.
Thuyên đón tôi nơi ngưỡng cửa. Nàng đỡ lấy bó hoa từ tay tôi, nói tôi ga-lăng kiểu xưa. Tôi không hiểu. Mỗi lần con em gái tôi thay bạn trai, thằng bồ mới đến lần đầu đều tặng nó một bó hoa, thường là hoa hồng đỏ. Nó khen rối rít. Thế mà giờ Thuyên chê tôi xưa. Định mở miệng cãi nhưng mũi tôi chợt ngửi thấy mùi thức ăn nấu thơm phức từ bếp bay ra. Thấy tôi nhấp hai cánh mũi hít hà, Thuyên chỉ đồng hồ trên tường nói hãy còn sớm rồi mời tôi đi dạo bên ngoài một lúc.
- Có bao giờ ông lên đây chơi?
- Chưa, dưới kia thấy trên này có vẻ bí hiểm, ngại không lên.
Thuyên bật cười, nói úp mở.
- Không những cảnh vật bí hiểm, người cũng thế.
Thuyên đưa tôi ra lại trước nhà. Hai người thả bước trên con đường đất nhỏ đi sâu vào trong rừng thay vì con đường lúc nãy tôi đi lên. Mặt biển loáng thoáng sau rặng cây bìa rừng. Tôi lên tiếng khen cảnh đẹp. Thuyên bảo lát nữa về xem mặt trời lặn trên biển còn đẹp hơn. Con đường đất khúc khuỷu len lỏi qua các lùm cây, những bụi hoa rừng. Cây cối trên đây cao mọc thẳng tắp. Nhìn lên xuyên qua các chùm lá xum xuê, tôi thấy những mảnh trời xanh nho nhỏ trên cao, nắng thì chỉ vài tia gầy guộc chiếu xuống.
- Trên đây ít sáng nhỉ, tôi nói, chưa ban đêm mà đã âm u rồi.
- Ừ, tôi thích thế nên lên đây ở.
Tôi kể dưới tôi lúc nào cũng nắng nên lòng người ấm áp xong tôi mời Thuyên hôm nào rảnh ghé tôi chơi. Nàng chỉ nói để xem.
Tôi và Thuyên đi lòng vòng một lúc rồi trở về nhà. Nàng nói đi ra vườn sau ngắm hoàng hôn.
- Mời ông ngắm mặt trời lặn trên Thái bình dương.
- Thuyên đừng gọi tôi bằng ông được không?
- Tại ông trông lớn tuổi nên gọi bằng ông.
Tôi đi theo sau Thuyên ra vườn sau nhà, một mảnh vườn nhỏ nhưng khá xinh lát gạch thẻ với nhiều chậu hoa và vài giàn hoa leo. Hai cái ghế gỗ đặt sẵn ở mép vườn, chỗ này nằm ngoài mấy rặng cây nên được một ít nắng dịu của chiều tà. Thuyên chỉ cho tôi xem mặt trời đã chấm xuống mặt biển. Nhiều lần xem mặt trời lặn trên biển nhưng chưa lần nào tôi thấy đẹp như lần này từ vườn sau nhà Thuyên trên đồi nhìn xuống. Mặt trời to tròn như cái mâm đỏ ửng làm tôi nhớ lại phim Mặt Trời Đỏ với Alain Delon, Toshiro Mifune và Charles Bronson. Thuyên và tôi ngồi đó, mỗi người trong tay một ly rượu vang đỏ. Lúc nãy tôi hỏi có bia không thì Thuyên lắc đầu nói không uống bia, không bao giờ mua nhưng nếu tôi thích thì nàng sẽ mua. Nghe thế tôi vui lên trong lòng vì nghĩ Thuyên muốn tôi đến nữa.
Mặt trời từ từ chìm xuống biển, kéo theo những vệt nắng cuối từ trên mặt nước. Trước khi những tia nắng cuối chết lịm, Thuyên đứng lên mời tôi vào trong ăn cơm.
- Anh chịu khó ăn cơm nhà nghèo.
Tôi nhìn quanh nhà, có nghèo đâu. Nhà Thuyên bày biện rất khéo với các bức tranh và thảm loại đắt tiền treo trên tường, những bức tượng nhỏ, những đồ thủ công xinh xắn bày trên kệ. Thuyên mỉm cười khiêm tốn khi tôi khen nhà nàng xinh, nàng có đầu óc mỹ thuật, xong cầm đũa lên. Bữa ăn giản dị nhưng ngon miệng.
Đến khuya Thuyên tiễn tôi ra cửa. Đang loay hoay lùi xe thì tôi sực nhớ mình chưa xin số điện thoại nàng. Quay mũi xe trở lại, đến lại nhà thì thấy Thuyên đứng ngoài cửa. Tôi nói lý do trở lại. Thuyên quay lưng đi vào trong, tôi đi theo. Chén dĩa ly tách vẫn còn trên bàn. Tiếng nhạc thê lương của một cello concerto nghe càng thê lương hơn trong ánh đèn mờ ảo trong nhà.
- Ông ở lại nghe nhạc với tôi không?
Tôi ngồi xuống cái ghế bành. Thuyên đi lại giàn stereo thay CD mới xong ngồi bó chân trên một cái gối dưới đất. Tiếng đàn vĩ cầm bài Quattro Stagioni của Vivaldi nghe thật não nề, ánh đèn vàng lu mờ, khuôn mặt Thuyên mơ màng. Tất cả khác hẳn với những gì quen thuộc đối với tôi thường làm vào cuối tuần. Hai người nghe nhạc trong im lặng cho đến hết dĩa. Tôi chợt thèm một điếu thuốc, định hỏi Thuyên mình hút được không thì nàng đã đứng lên đi lại cái bàn con trong góc phòng khách, lấy ra một hộp gỗ nhỏ đem lại chỗ ngồi. Tôi thấy Thuyên mở nắp hộp lôi ra một bao ny lông, cẩn thận lấy ra một miếng giấy nhỏ xong đổ lên giấy những mảnh lá xanh sắc nhỏ, cuốn lại thành điếu thuốc.
- Ông có hộp quẹt cho tôi mượn.
Mùi cháy khen khét tỏa ra. Thuyên hít một hơi dài xong chồm người lại tôi đưa tôi điếu cần sa. Đã biết loại này, tôi kéo một hơi ngắn rồi trả lại. Cái nhìn trong ánh mắt Thuyên có vẻ diễu cợt. Kéo hơi thứ nhì xong nàng đưa lại cho tôi lần nữa. Hít vào một hơi dài, tôi thấy chóng mặt ngay, đầu nặng đi, bụng khó chịu nhưng được cảm giác ngây ngất lâng lâng thích thú lạ. Tôi gật gù. Thuyên cười lên, cho tôi cái nhìn đồng lõa. Kéo thêm được hai hơi thì hai mí mắt tôi nặng chĩu rồi tôi không còn biết gì nữa.

*
Rồi bẵng một thời gian lâu tôi mới gặp lại Thuyên, hình như hơn tháng. Suốt quãng thời gian đó tôi nhớ nàng vô cùng. Tối hôm bị điếu cần sa vật, sáng hôm sau thức dậy tôi thấy mình nằm sõng sượt nửa người trên ghế nửa người dưới đất. Trong nhà vắng lặng không một tiếng động. Chén dĩa bẩn vẫn còn ngổn ngang trên bàn ăn. Cái túi ny-lông vẫn còn dưới đất cạnh cái gối Thuyên ngồi đêm hôm qua, trong bao còn một ít lá xanh và vài tờ giấy trắng vuông con. Tôi xem đồng hồ tay. Bẩy giờ. Tôi vào phòng tắm rửa mặt bằng nước lạnh cho tỉnh, vuốt lại mái tóc. Trở ra phòng khách nhìn ra vườn sau qua cửa kính tôi thấy Thuyên cuốn chăn ngồi trên ghế nhìn xuống biển. Tôi chân đất đi ra hai bàn chân lạnh bước trên những viên gạch còn ướt sương ban mai. Trời lạnh hanh, tôi kéo zipper áo da lên. Xa xa dưới kia những mảng sương mù còn lơ lửng trên mặt nước. Trên đồi làn sương mù kéo đến đêm hôm qua đã bay đi nhưng còn để lại nhiều mảnh lảng vảng hai bên hông nhà.
- Sáng sớm còn lạnh Thuyên ra đây làm gì, tôi lên tiếng.
Thuyên không buồn quay lại nhìn.
- Ông có thể về được rồi. Xin lỗi tối qua làm ông bị say thuốc, tưởng ông thích thứ đó.
Định lại ngồi xuống cạnh Thuyên nhưng giọng lạnh lùng xa cách hãm tôi lại. Loay hoay chưa biết phải làm gì thì Thuyên nói “Bye” như xua đuổi. Tôi quay lưng đi qua phòng khách ra sân trước. Lên xe ngồi, tôi rùng mình trong cái lạnh hanh ban mai suy nghĩ về thái độ lạ lùng của Thuyên. Con đường xuống đồi nhiều khúc mắc như lòng tôi.
Vẫn không có số điện thoại Thuyên tôi không gọi nàng được. Vài lần tôi định lái xe trở lên đỉnh đồi nhưng cái giọng lạnh lùng sáng hôm đó làm tôi chùn chân. Có lẽ Thuyên đã có tình nhân, đêm hôm đó chỉ vì một mình cô đơn nên nàng rủ tôi đến chơi cho đỡ buồn rồi qua hôm sau nàng hối hận vì thái độ dễ dãi quá trớn của mình. Thế thôi, không có gì vững để xây lên một mối tình mới. Chỉ là một gặp gỡ ngẫu nhiên, qua đường.
Bánh xe mòn, tôi lấy hẹn sáng thứ bảy đem xe ra tiệm gắn bốn bánh mới. Đến nơi đã thấy Thuyên ngồi trong phòng đợi. Nụ cười trên môi thật tươi, giọng vui vẻ như lần đầu gặp nhau tại ngã tư đường. Xe Thuyên cũng cần vỏ mới.
- Mình gặp nhau là nhờ xe, tôi tuyên bố.
Xe Thuyên được làm xong trước. Tôi nói Thuyên ngồi chờ, lát nữa xe tôi xong mời nàng đi ăn cơm trưa. Thuyên cầm ví đi ra cửa tiệm nói vọng lại ra sau.
- Chiều nay lên ăn cơm nhà nghèo nữa không?
Không chờ tôi trả lời, Thuyên đi ra ngoài tiệm, thừa biết thế nào tôi cũng xách xe lên. Và tôi đã xách xe lên nhà Thuyên chiều hôm đó.
Cơm được dọn ra bàn dài. Thuyên ngồi một đầu bàn tôi đầu kia. Tôi nói ngồi thế xa cách quá, sao không ngồi cái bàn tròn nhỏ như lần trước.
Thuyên đáp giọng hơi sẵng.
- Tôi đem nó ra garage rồi. Ngồi thế này hay hơn.
Tôi không hiểu tại sao hay hơn nhưng không dám chất vấn. Chiều nay ăn cơm tây, mỗi người một đĩa. Phòng ăn bật đèn sáng trưng. Tôi nghĩ nếu tắt đèn điện xong giữa bàn để mấy ngọn nến thì trữ tình hơn. Mỗi người một đầu bàn im lặng ăn. Tiếng dao nĩa đụng lên đĩa kêu canh cách rõ mồn một. Thuyên chợt đặt nĩa xuống bàn, hỏi:
- Ông định làm gì về mình?
Tôi không hiểu câu hỏi, ngớ mắt nhìn nàng. Thuyên nhìn tôi chờ câu đáp.
- Không biết.
- Lên đây ông có ý định gì?
- Ý định?
- Ý muốn.
- Muốn và định.
- Ông muốn mình làm gì?
Tôi nói láo:
- Nói chuyện, tìm hiểu thêm về nhau.
Tôi nâng ly rượu lên dọ phản ứng trên mặt nàng.
- Ông muốn ngủ với tôi đêm nay không?
Gần sặc ngụm rượu, tôi cố nuốt xuống. Cửa thiên thai đã mở, mời mọc. Tôi cười, gật đầu.
- Nhưng ông phải hứa sẽ không yêu tôi ... vì tôi sẽ không yêu thương gì ông.
Giọng Thuyên hơi nghẹn ngào lẫn căm hờn. Nàng vẫn nhìn tôi như chờ câu trả lời.
- Tôi thật sự không hiểu.
- Ông không cần hiểu. Mình ngủ với nhau, thế thôi ... đây không phải là làm tình vì giữa mình không có tình.
Lưỡi dao trong tay Thuyên sắc mạnh xuống miếng thịt, cọ lên mặt dĩa như hằn học. Tôi cố tưởng tượng cảnh ngủ với một cô gái với một khuôn mặt xinh xắn khó chịu. Không biết Thuyên có nợ tôi gì không mà lại cho tôi thân xác nàng miễn cưỡng như vậy.
- Ông ăn đi, sao cứ nhìn tôi như vậy.
Sau bữa cơm, Thuyên lại đem túi cần xa ra cuốn một điếu hút. Tôi nhâm nhi ly rượu vang hút thuốc lá, quan sát người con gái ngồi dưới đất rít từng hơi thuốc mùi lá cháy khét lẹt. Tối nay Thuyên hút nhiều, mặt lừ đừ như say thuốc, mắt lim dim chìm đắm trong tiếng nhạc cello thê lương pha lẫn tiếng vĩ cầm não nề. Tôi rời ghế mò xuống đất lại cạnh nàng. Không biết Thuyên biết tôi bên cạnh không, nàng vẫn nhắm mắt người dật dờ. Tôi đánh bạo đặt tay lên vai Thuyên rồi nhẹ vuốt lên lưng nàng. Thuyên quay sang tôi, cái nhìn ngây dại. Nàng nhắm mắt lại, ôm chầm lấy tôi, đẩy mạnh tôi ngã ngửa xuống rồi nằm hẳn lên người tôi, hôn lên trán lên cổ tôi.
Rồi tôi và Thuyên đã làm tình, không, ngủ với nhau trong cuồng nhiệt. Nàng vội vàng, tấn công tới tấp, táo bạo. Men rượu và men dục của Thuyên kích thích tôi tột độ, tôi buông thả để kệ cho Thuyên làm bất cứ gì nàng muốn với thân tôi.

*
Thêm một khoảng thời gian thật lâu tôi không gặp lại Thuyên, người con gái lạ lùng ở trên đỉnh đồi thiếu mặt trời đó. Tôi không ngờ sao trên đó lắm sương mù ngay cả trong mùa hè. Thuyên đã đuổi tôi ra cửa tối hôm đó, ngay sau khi cuộc mây mưa vừa xong. Nàng đứng dậy, không buồn mặc quần áo, nói giọng xua đuổi:
- Xong rồi. Ông có thể ra về bây giờ.
Khi nãy còn đang ngụp lặn trong mây mưa tôi không nhìn rõ người Thuyên, giờ nhìn nàng đứng đó không một mảnh vải che thân, tôi mới thấy nàng có một thân hình tuyệt đẹp. Thấy tôi ngó nàng trân trân, Thuyên chụp lấy áo che phần người dưới còn chứng tích nhơ nhớp.
- Ông đi về đi, đủ rồi, xong rồi.
Ra đến ngoài sân tôi thấy sương mù đã xuống thấp. Dưới kia chỗ chân đồi sẽ sáng sủa hơn nhưng từ đây xuống tới dưới đó là một vấn đề. Tôi cho xe lăn bánh chầm chậm xuống con đường dốc. Được hơn trăm thước vào một khúc rẽ, tôi biết từ nhà Thuyên nhìn ra không thấy được mình, tôi tắt máy xuống xe đi bộ trở lên lại. Ngoài sân trời tối, trong nhà bật đèn sáng nên núp cạnh cửa sổ tôi yên trí mình khó bị phát hiện. Nhìn vào trong tôi thấy Thuyên đang nói chuyện điện thoại. Dường như Thuyên đang khóc, hai vai hơi rung rung rồi nàng làm buông ống nói xuống bàn, không buồn gác lên. Thuyên gục mặt xuống bàn một lúc xong đứng lên tắt đèn. Trong nhà tối om, tôi không còn thấy gì.
Không gặp Thuyên, tôi nhớ nàng ra riết. Dù cuộc mây mưa ngắn ngủi, tôi vẫn còn nhớ những giây phút tuyệt vời đó. Tôi nghĩ mình đã phải lòng Thuyên. Nhớ nhiều nhưng tôi vẫn không dám tự tiện đến nhà nàng. Mỗi lần lên xe định đi nhưng nhớ lại cái giọng lạnh lùng buổi sáng đầu tiên và câu xua đuổi sau lần ăn nằm đó thì tôi lại chùn chân. Tôi nhớ đến độ thành ngớ ngẩn. Tôi dậy sớm mỗi sáng thứ bảy la cà chợ lộ thiên ghé các xạp bán rau xem có Thuyên ở đó không cho đến giờ chợ đóng. Ngớ ngẩn đến độ đi ra tiệm sửa xe xem Thuyên có đem xe xuống đó thay vỏ không. Tôi định tâm nếu gặp nàng thì ra vẻ ngạc nhiên như gặp gỡ do tình cờ thay vì đến từ chủ tâm cần cù. Mỗi lần đi như thế lại về nhà lòng đầy thất vọng. Mãi rồi tôi tự an ủi dầu sao cũng chỉ là số phận, tôi không có số với Thuyên, nàng cũng có cảm tình gì với mình đâu. Phải quên đi.
Tự nhủ phải quên đi nhưng tôi vẫn giữ một hy vọng mong manh sẽ gặp lại Thuyên. Rồi tôi đã gặp lại nàng, cũng tại ngôi chợ ngoài trời đó. Một buổi sáng thứ bảy tôi ra chợ, mua một ly cà phê đem ra cũng cái băng đá hôm gặp nàng lần đầu tại đây. Tôi tưởng tượng thấy Thuyên xách cũng cái giỏ ny lông đen có mấy bó lau lòi ra đi lang thang giữa hai hàng xạp bán thức ăn. Thuyên từ xa thấy tôi ngồi đó, nàng lững thững đi đến, từ tốn chứ không vội vã.
- Ông chờ tôi?
Tôi mỉm cười, trong lòng thấy thỏa mãn vì Thuyên đã tìm thấy tôi. Tôi không đáp.
- Ông giận tôi sao mà không thèm trả lời?
Tôi vẫn chỉ mỉm cười để trí tưởng tượng mình đi hoang cho đến khi mùi nước hoa quen thuộc mà tôi đã có lần vục mặt ngụp lặn thoang thoảng bên mũi tôi mới nhận ra mình không đang mơ mà Thuyên đang thật đứng trước mặt tôi bằng xương bằng thịt. Tôi đứng bật dậy, ú ớ.
- Thuyên! Thuyên đến lúc nào vậy?
Đây là lần đầu tôi nghe Thuyên bật cười to. Nàng ngồi xuống cạnh tôi. Tôi đặt tay lên tay nàng để biết chắc đó là Thuyên. Nàng đặt giỏ xuống, ôm lấy cánh tay tôi, nói khẽ.
- Thuyên xin lỗi anh.
Tôi ngây ngất đến choáng váng, kéo Thuyên sát lại. Nàng ngồi ôm tay tôi như vậy một lúc xong nói mời tôi chiều nay lên nhà nàng nữa.
- Thuyên có một ngạc nhiên dành cho anh.
Thuyên đi ra đến chỗ đậu xe mà tôi vẫn còn chưa tỉnh cơn mơ. Đứng lên đi ra xe, tôi thấy hai chân mình bước đi như có ai nắm lấy lôi đi thật nhanh tung tăng như trẻ con.
Sáu giờ chiều tôi ra cửa lên xe. Trời chiều nay chợt tối nhanh. Lạ, mới tháng chín. Phải tranh thủ thời gian vì trên kia sẽ còn tối hơn. Dù gì đi nữa, tôi phải lên trên đó cho bằng được, mỗi lần nghe lại chữ “anh” thốt ra từ miệng Thuyên.
Như hai lần trước, bắt đầu leo dốc đồi là tôi thấy cây cối càng dầy dặc ánh sáng càng yếu dần. Lên đến đỉnh đồi tôi rẽ trái đi lần theo con đường đất quen thuộc dẫn đến căn nhà cuối đường có cái cổng gỗ với giàn hoa leo.
Thuyên hôm nay trông khác với hai lần trước, tươi tắn hơn, nhí nhảnh hơn. Nàng đưa tôi ra vườn sau.
- Anh thấy gì lạ không?
Nắng trên sân gạch, nắng trên hai cái ghế gần mép vườn, nắng trên các dây hoa đỏ vàng xanh leo trên giàn, nắng khắp nơi.
- Nắng! Tôi bật nói.
- Đúng, Thuyên thuê người chặt bớt mấy cành cây, tỉa bớt lá để thêm nắng xuống không thôi anh than trời u tối và lạnh ... để anh thấy ấm lòng.
Tôi nhìn lên các đầu ngọn cây trong vườn, ngoài vườn. Các vòm cây trên cao trông thưa hẳn đi, nhiều cành đã bị cưa mất. Có cả vài cây bị đốn hẳn đi chỉ còn gốc trơ trẽn đó. Tôi chợt thấy tiếc nhưng trong lòng vô cùng cảm động về lòng quan tâm của Thuyên với tôi. Thuyên làm vậy khi nào? Vậy là Thuyên đã nghĩ đến tôi suốt mấy tháng qua và mong mỏi tôi lên lại nhà nàng và tôi đã lãng phí quãng thời gian đó chỉ vì trong đầu quá nhiều thêu dệt, thiếu quả quyết.
Thuyên nhìn tôi như chờ một phản ứng. Tôi nói đùa.
- Nắng ấm thế này thì tôi dọn lên đây ở chung với Thuyên.
Hơi ngượng vì nghĩ mình đùa quá lời, tôi liếc sang Thuyên thấy mặt nàng đỏ ửng lên. Tôi bối rối xin lỗi.
- Xin lỗi Thuyên, tôi đã quá lời.
- Không, anh đã không quá lời vì chính đó là ý nghĩ ... ý muốn của em.
Cửa thiên thai mở vội xong đóng gấp đêm nọ nhưng chiều nay đã mở rộng, con đường vào thênh thang. 
Tối hôm đó, tôi đã ngủ lại nhà Thuyên, trong phòng ngủ Thuyên, trên giường Thuyên, với Thuyên và làm tình với nàng, làm tình chứ không phải ngủ chung. Tôi và nàng thong thả kéo dài từng giây phút thần tiên, cùng đưa nhau lên trên đỉnh khoái lạc trong cõi thiên thai. Sau cuộc mây mưa tuyệt diệu, tôi ôm tấm thân trần truồng đẹp đẽ, nghe Thuyên thủ thỉ kể lại những cuộc tình thiếu may mắn trong đời nàng.
Thuyên nói về mối tình cuối.
“... hắn đã cười vào mặt em, nói người điên như em thì ai mà mê, sẽ không thằng đàn ông nào muốn ngủ với em ..”, nàng ngập ngừng, “... rồi một hôm em gặp anh nơi ngã tư đường, rồi gặp lại ngoài chợ và em nghĩ lại lời rủa của hắn.”
- Và Thuyên muốn thử nghiệm xem lời nó nói có đúng không?
Vẫn còn ngập ngừng, Thuyên đáp:
- Vâng, khi đó trong lòng em còn đầy hận đối với thằng phụ bạc ... và lạnh nhạt với anh nhưng ... thôi, chuyện đã qua cho qua, bây giờ mình bên nhau, thế là đủ rồi.
Tôi còn nhiều thắc mắc nhưng thấy Thuyên nhắm mắt rúc mặt vào người tôi nên im. Và tôi dọn lên ở chung với Thuyên một cuộc sống mới tràn trề hạnh phúc trong căn nhà nhỏ trên đỉnh đồi nằm cuối con đường đất phía trước có hàng rào gỗ sơn trắng với giàn hoa leo, phía sau có cái sân con lát gạch với các giàn hoa đỏ trắng vàng chan hòa ánh nắng mặt trời trên triền đồi mà tôi và Thuyên mỗi chiều kéo ghế ra ngồi ngắm mặt trời chìm dần dưới mặt biển và cuộc sống tôi với Thuyên cũng êm ả như biển Thái Bình.

*
Ngừng xe dưới chân đồi nơi đầu con đường đất đi lên trên đó, tôi tần ngần. Trong lòng thôi thúc lái lên nhưng khuôn mặt lạnh lùng của Thuyên, thái độ xa cách của nàng, như một thân cây khổng lồ bị sét đánh đổ xuống nằm vắt ngang đường chắn lối đi. Mấy tuần nay không thấy Thuyên tôi nhớ nàng vô cùng, nhớ hơn cả lúc trước, và đau lòng nữa. Quá chìm đắm trong men tình, tôi đã không thấy những thay đổi trong Thuyên suốt cả năm ở với nàng. Một buổi chiều ngồi ngắm mặt trời lặn với Thuyên, tôi bàn với nàng về hôn nhân. Tôi nói tôi muốn vững bền, vĩnh cửu.
- Anh lo?
Tôi cảm thấy có gì hững hờ trong câu hỏi của Thuyên. Lần đầu tiên trong suốt thời gian ở với Thuyên tôi thấy có sự thay đổi trong thái độ của nàng. Tôi nghĩ có lẽ Thuyên đã chán cuộc sống hờ, cho rằng tôi chỉ muốn lợi dụng thân xác nàng, có lẽ Thuyên đã cho rằng tôi cũng không khác gì những người đàn ông khác đã đi qua đời nàng như một chuyến du lịch trong một vùng đất lạ đầy rẫy những thích thú nhưng một thời gian sau thì những thích thú ban đầu trở thành nhàm nên rũ áo đi. Vì vậy tôi muốn cho Thuyên nghĩ là tôi yêu nàng thật sự, là tôi muốn đi cuộc hành trình với nàng cho đến cuối đường đời. Và tôi đã ngỏ lời nhưng tôi đã lầm. Trông như Thuyên là người mệt mỏi chán chường sau chuyến du lịch. Thuyên thường ra ngồi sau vườn một mình, không còn rủ tôi theo. Những lúc tôi ra ngồi cạnh thì Thuyên có vẻ xa cách, không một cái nhìn, không một lời nói, mắt mơ màng nhìn xa xa ngoài biển. Một đỗi sau nàng mới quay sang, mỉm cười hỏi:
- Anh không lạnh?
Khi đó tôi mới cảm thấy cái lạnh mơn trớn trên mặt. Tôi bắt gặp cái nhìn nhanh của Thuyên lên những đầu ngọn cây trên cao, tôi đưa mắt nhìn theo. Những đọn cây bị cắt những chùm lá bị tỉa đi năm trước bây giờ đã mọc trở lại. Sao nhanh thế! Nắng không còn nhiều như những ngày tháng đầu hạnh phúc của tôi trên đây.
- Nắng lại ít đi rồi, tôi bảo, ... như lúc trước ấy.
Thuyên lại nhìn mơ màng ra biển, đáp nhẹ:
- Em nhớ trời lạnh, chán nắng rồi.
Sau buổi chiều đó, tôi thường nhìn lên những đầu ngọn cây và thấy dường như mỗi ngày chúng mọc thêm ra vài phân và mỗi ngày những tia nắng cũng bớt đi theo. Rồi một buổi chiều đầu thu, đúng một năm sau ngày tôi dọn lên đây, đi làm về không thấy Thuyên đâu, tôi đi ra vườn sau đinh ninh sẽ thấy nàng ngồi ngắm biển. Hai chiếc ghế sau vườn trống không. Trên cái bàn tròn nhỏ giữa ghế, một tờ giấy được dằn dưới một viên đá. Tôi cầm lên đọc.
“Thuyên về thăm nhà vài ngày. Anh để chìa khóa nhà trên bàn ăn khi dọn ra”.
Tôi điện thoại đứa em gái nói nó cho ở tạm vài tuần rồi vào phòng ngủ xếp quần áo vô va-li. Trở ra lại vườn sau, tôi muốn chiêm ngưỡng cảnh hoàng hôn trên mặt biển từ đỉnh đồi này một lần cuối. Cái lạnh làm tôi rùng mình. Khu vườn âm u như dạo nào. Những vòm cây trên cao đã mọc xum xuê trở lại.

*
Tôi quày đầu xe lái ra lại xa lộ. Ngã tư đường ngày nào tôi và Thuyên gặp nhau lần đầu vẫn còn đó nhưng không còn khuôn mặt xinh xắn và đôi môi cong cớn. Khuôn mặt xinh xắn đó bây giờ hẳn đang ngồi chùm chăn trên chiếc ghế con sau vườn chiêm ngưỡng mặt trời đang bị mặt biển nuốt dần. Không biết Thuyên ngồi một mình hay có ai khác bên cạnh đang trầm trồ khen ngợi cảnh hoàng hôn.


Bùi Ngọc Khôi
Hè 2011
(*) Thuyên (Tựa HL online)
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 901)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 693)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1463)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1553)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1316)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1206)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3356)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2131)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3157)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2644)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9932)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16771)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15761)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16192)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1553)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3356)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3156)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3106)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1316)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5279)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7303)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6652)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 901)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 693)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1463)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2644)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2415)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2256)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2480)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2481)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1206)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13615)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29720)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35742)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10847)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12694)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2131)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3156)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3324)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3605)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4153)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7847)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7159)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9996)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.