Gửi anh chị Đỗ Hữu Nho và gia đình Đánh dấu một năm cháu Uyển Tiên qua đời
Tôi sửa soạn đóng hai cánh cửa nhà thiêu để ra về, thì một người đàn ông trong nhóm người đi đưa đám tang quay lại hỏi tôi. -Khi nào thì lấy tro được? -Khoảng 8 giờ sáng mai, tôi sẽ tới đây để lo công việc đó.
Người đàn ông chào tôi, rồi hấp tấp đi về phía nghĩa trang theo đám người đang đi về hướng đó. Sau khi đưa quan tài vào nhà thiêu, mọi người rủ nhau đi xem nơi hũ tro sẽ được đặt xuống. Nơi cây cỏ, đất sỏi được chăm sóc, cắt xén thành một khu vườn thật đẹp. Có thác nước róc rách, vài nhịp cầu gỗ và những tảng đá để rải rác; những tảng đá đã được khắc tên, cho biết bên dưới có một hũ tro nằm tĩnh lặng, những tảng đá để trống là nơi đó chưa có tàn tro nằm xuống. Đó là một ngôi vườn quá đắt cho người còn sống mua cho chính mình, nhưng với người qua đời, hình như người sống không nỡ đắn đo với người đã mất. Người sống như thấy mình có bổn phận làm cho người chết trên cả những điều cần thiết. Sáng hôm sau, tôi tới nơi, thì người đàn ông đó đã có mặt. Tôi hỏi, thì được biết ông dậy thật sớm, rời nhà từ sáu giờ sáng vì sợ kẹt xe. Tôi hỏi tiếp:
-Ông liên hệ thế nào với người qua đời này? -Tôi là cha của cô ấy.
Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ người cha. Ông khoảng ngoài sáu mươi, nhưng có lẽ nhiều tuổi hơn, tôi đoán thế, vì người Á Đông họ thường trẻ hơn tuổi thật của họ. Tóc ông hoa râm, hai con mắt buồn buồn( làm sao mà vui được). Tôi nói với ông.
-Thật ra tôi không được phép cho ông vào, nhưng thôi ông đã đến, thì vào đây xem tôi làm việc.
Anh ta mở khóa cánh cổng nhà thiêu, cha nghe tiếng chìa khóa tra vào ổ, khe khẽ như tiếng động phát ra từ một cái cuống họng yếu ớt của con và tiếng kêu lên của bản lề, khi cánh cửa hẹp mở ra nghe như tiếng mẹ con hay thở dài. Anh ta chắc không để ý đến những tiếng động quen thuộc đó. Cha theo anh vào hẳn phía trong. Gian buồng này, ngày hôm qua cha chỉ nhìn được một phần ở phía trước, nơi đặt chiếc lò thiêu.
“Buồng không rộng lắm,”anh ta nói.
Cha đứng xích qua một bên khi anh ta cầm chiếc cây dài bằng sắt, móc kéo cái khay trong lò thiêu ra, có lẽ anh ta sợ cái cây đó sẽ đụng phải cha. Chiếc khay kim loại có chiều dài và chiều ngang của chiếc áo quan được kéo ra. Cha không còn nhìn thấy chiếc áo quan có thân xác của con gái cha nằm trong đó ngày hôm qua nữa, thay vào đó là một lớp tàn tro dầy khoảng một gang tay. Ôi, mấy chục năm con làm người có bao giờ cha thử đo thân con trưởng thành bằng gang tay mình không nhỉ?Cha chăm chú nhìn xuống cái mầu xám tro than lạnh lẽo đó, cố hình dung ra vóc dáng của con.
Tôi bắt đầu công việc của mình. Tôi tôn trọng theo dõi sự xúc động trên mặt của người cha hiện diện và sự tĩnh lặng của người con đã chết. Tôi biết, cả hai đang quan sát việc làm của tôi. Tôi bắt đầu gắp những mảnh kim loại lớn của áo quan như bản lề ra trước, để vào một nơi, sau đó tôi dùng một dụng cụ khác bằng năm châm, rà rà trên mặt phẳng của cả khay tro để hút nốt những chiếc đinh, những con ốc mà tôi chưa gắp ra hết.Tôi gạt tất cả những cái đinh vừa hút được vào với đống bản lề.Người cha tiến gần đến cạnh tôi, hai chúng tôi cùng cúi xuống cái khay đựng cả tấm hình hài người phụ nữ đã thành tro bụi.
Anh ta nói chậm rãi, tiếng anh ta đều đều không cảm xúc nhưng cũng không lạnh lùng, bằng những dẫn giải nghề nghiệp của anh ta,cha biết: áo quan bằng gỗ quý như chiếc nôi cuối đặt con vào, quần áo lụa là chọn mãi cho con, chiếc khăn tang quấn trên vầng trán con để trả hiếu mẹ cha còn sống, cành hoa hồng thơm ngát đặt nằm cạnh con, và ruột gan, da thịt con. Tất cả, đã bốc hơi trong sức nóng của hơn hai ngàn độ bách phân (1,400-2100.F) nung con trong thời gian gần hai tiếng. Bây giờ phần còn lại chính là tàn tro của xương cốt. Trong chiếc khay này, cha vẫn nhìn thấy những mảnh xương chưa tan hẳn, chúng có mầu trắng xám, trông như những mảng mây cha thường thấy vào những buổi chớm thu, chúng trông cũng giống như những mảnh san hô nhỏ và xốp con đã nhặt được ở ngoài bãi biển vào những mùa hè của thời thơ dại ở quê nhà. Ôi con! Ôi mây mùa thu và san hô mùa hè của cha mẹ.
Tôi cúi xuống chỉ cho người cha những chấm đỏ tìm thấy tụ lại trên những mảnh xương chưa tan hết. Những chấm này thật hiếm hoi, không ai hiểu tại sao lại có. Người Á Đông tin là chỉ ai có một đời sống thánh thiện, tốt đẹp mới có những vệt son này lưu lại trên xương. Bổn phận của tôi là nhặt những mảnh xương này, thận trọng bỏ từng mảnh xương vào một cái máy xay nhỏ và tán ra như bột để trộn lẫn vào phần tro than.
“Với những người bơ vơ, tôi xin làm người che chở Với kẻ lữ hành tôi xin làm người hướng đạo Xin được là thuyền, là cầu, là lối qua Cho người muốn đến bờ bên kia Mong sao cho đau khổ của mọi sinh vật đều hoàn toàn chấm dứt” (1)
Cha đứng nhìn anh ta gắp những mảnh xương như mây mùa thu, như san hô của biển mùa hè bỏ vào máy, anh ta quay lại nhìn cha, có ý hỏi cha có muốn giữ lại một mảnh nào không? Cha suy nghĩ giữa có và không? Cuối cùng cha không giữ lại mảnh nào, để cho con đủ nguyên vẹn cốt xương đi vào lòng đất. Anh ta xay, như xay cả đất trời hơn bốn mươi năm tích lũy trong hình hài con gái của cha, như xay chính xương thịt của cha, như xay tình yêu thương gia đình, tình mẫu tử, tình chồng nghĩa vợ của con. Cuối cùng, anh ta có được một vốc hạt tinh tuyền trộn lẫn vào nắm tro than bàng bạc. Tất cả được trút vào một cái bao đã có sẵn và tên con đã được dán vào. Cha nhớ chồng con đã tháo chiếc vòng ngọc ở tay con trước khi hoả thiêu, chiếc vòng không bao giờ còn tìm thấy cổ tay nó đã từng ôm ấp.Cha thấy trong khay có một mảnh nhỏ, không biết làm bằng gì mà không bị đốt cháy, có hình dạng như một chiếc khoen nhỏ, có lẽ đó là một vật đã gắn trên ngực con, để nhân viên y tế chuyền thuốc vào thân thể. Cha giữ lại mảnh này giống như chiếc vòng ngọc. Cả hai thứ này đã cùng chia sẻ những giờ cuối với con. Chúng được gìn giữ như di vật của con để lại cho gia đình.
Người cha đó đã ra về, sau khi chứng kiến công việc làm của tôi. Ông không hỏi nhiều, và tôi cũng cắt nghĩa rất ít. Tất cả việc tôi làm đối với người cha đó là một nghi lễ thiêng liêng. Trong gian buồng hoàn toàn im lặng, chỉ có ba chúng tôi. Tôi chăm chú làm việc. Cúi nhìn khay tro, tôi không biết trên mặt ông có nước mắt hay không, nhưng tôi nghe được tiếng lệ chẩy róc rách trong lồng ngực ông, tôi nghe được tiếng cựa mình, tiếng thì thầm của những mảnh xương đã cháy thành tro, tôi nghe được cả tiếng vỗ về của chính tôi cho nàng, khi tôi chạm tay vào tro than đó. Sau cùng, tôi cẩn trọng đặt nàng thêm một lần nữa vào trong cái hũ có gắn sẵn tên nàng.
Tôi nhìn khuôn mặt người cha lần chót trước khi chia tay. Tôi thấy mặt ông tiều tuỵ và phờ phạc. Tôi biết ông đau khổ lắm. Tôi muốn gửi đến ông mấy lời:
“Nỗi đau buồn là một vết thương cần được chú ý và hàn gắn.Hàn gắn nỗi đau buồn có nghĩa là đối mặt với nó công khai thẳng thắn, bộc lộ và phóng thích trọn vẹn nó, chấp nhận nó kéo dài bao lâu nó cần, để cho vết thương lành lại. Thường ta cứ tưởng rằng một khi công nhận nỗi đau buồn, chắc ta không thể nào chịu nổi. Sự thật thì nỗi đau khổ được bộc lộ ra sẽ có lúc đi đến kết thúc. Đau khổ mà không bộc lộ được sẽ kéo dài bất tận”(2)
Cánh cửa nhà thiêu đóng lại sau lưng, người cha lặng lẽ ra về. Ông lê gót ra chỗ đậu xe, lòng tràn ngập hình ảnh con, ông ngửa mặt lên bầu trời, ông thấy từng cụm mây trắng đang bay tản mác về nơi vô định, ông đưa bàn tay vuốt mặt mình.
Thôi con, mây trắng bay đi nhé.
Trần Mộng Tú Ghi chú: 1 và 2, trích Tạng Thư Sống Chết của Sogyal Rinpochi – Trí Hải dịch
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang.
TCHL
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ…
Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy /
Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi /
Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ /
Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./
Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên /
Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong.
Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy /
Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi /
Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ /
Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian.
Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự.
Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống.
TẠP CHÍ HỢP LƯU
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang.
TCHL
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ…
Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc:
AI là mặt bằng chung tốt nhất,
hai phần ba người viết có thể bị thay thế,
và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình.
Một nhận định sắc.
Nhưng cũng là một lời thú nhận.
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng.
Nó là một vết cắt.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 —
với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất.
Nhưng với nhiều người khác,
đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh?
-Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi.
Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975.
Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức:
(1) phê phán gay gắt phía đối lập,
(2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc
(3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải.
Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật.
Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ
dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn
câu.
Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã
xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được
đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước.
Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất
bản.
<div class="nw_box_list_brief nw_boxing_padding"><div class="pl_list pl_list_col_1" role="list"><div class="pl_row pl_row_1 pl_row_first"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4534" class="pl_content pl_content_first" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN (phần 1)" class="pl_atitle" href="/p134a4534/am-ban-va-duong-ban-phan-1-">ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN (phần 1)</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 1201)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN (phần 1)" class="nw_image" itemprop="url" href="/p134a4534/am-ban-va-duong-ban-phan-1-" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/Bt3AsNnT3ggBAnYX/w150/am-ban-va-duong-ban.png" title="am-ban-va-duong-ban" alt="am-ban-va-duong-ban" width="120" height="180" data-info="1024,1536"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/Bt3AsNnT3ggBAnYX/w150/am-ban-va-duong-ban.png" title="am-ban-va-duong-ban" alt="am-ban-va-duong-ban" width="120" height="180" data-info="1024,1536"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/Bt3AsNnT3ggBAnYX/w150/am-ban-va-duong-ban.png"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="180"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN" href="/author/post/1626/1/mai-an-nguyen-anh-tuan">MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ…
Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN (phần 1)" href="/p134a4534/am-ban-va-duong-ban-phan-1-"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2026-06-26"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div><div class="pl_row pl_row_2 pl_row_last"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="3114" class="pl_content" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1" class="pl_atitle" href="/p134a3114/de-sach-trich-tieu-thuyet-ky-1">Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 43120)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1" class="nw_image" itemprop="url" href="/p134a3114/de-sach-trich-tieu-thuyet-ky-1" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/_UtFkRwV1ggBAEVj/w150/de-sach.jpg" title="de-sach" alt="de-sach" width="120" height="176" data-info="308,451"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/_UtFkRwV1ggBAEVj/w150/de-sach.jpg" title="de-sach" alt="de-sach" width="120" height="176" data-info="308,451"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/_UtFkRwV1ggBAEVj/w150/de-sach.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="176"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="ĐỖ QUYÊN" href="/author/post/1615/1/do-quyen">ĐỖ QUYÊN</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Rất khó kiểm chứng câu thơ đầu “Bàn tay ta làm nên tất cả”, nếu không có câu kế “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Chúng ta nên đọc lời ai điếu cho hai chữ “tất cả”. Đáng lẽ câu thơ đầu, với hai chữ này đã trở thành lời thách đố mênh mang bất định cho nhân loại sau hậu, nếu không có câu thơ sau. Tiếc! Đây là hai câu thơ không nên vợ nên chồng nhất trong các cặp đôi thơ hay.</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1" href="/p134a3114/de-sach-trich-tieu-thuyet-ky-1"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2018-09-07"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div></div></div>
<div class="nw_box_list_brief nw_boxing_padding"><div class="pl_list pl_list_col_1" role="list"><div class="pl_row pl_row_1 pl_row_first"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4459" class="pl_content pl_content_first" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="BƯỚC CHUYỂN MỚI CỦA OCEAN VUONG NĂM 2025" class="pl_atitle" href="/p137a4459/buoc-chuyen-moi-cua-ocean-vuong-nam-2025">BƯỚC CHUYỂN MỚI CỦA OCEAN VUONG NĂM 2025</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 8230)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="BƯỚC CHUYỂN MỚI CỦA OCEAN VUONG NĂM 2025" class="nw_image" itemprop="url" href="/p137a4459/buoc-chuyen-moi-cua-ocean-vuong-nam-2025" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/D3CdNs823ggBAn15/w150/ocean-vuong.png" title="ocean-vuong" alt="ocean-vuong" width="120" height="179" data-info="252,376"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/D3CdNs823ggBAn15/w150/ocean-vuong.png" title="ocean-vuong" alt="ocean-vuong" width="120" height="179" data-info="252,376"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/D3CdNs823ggBAn15/w150/ocean-vuong.png"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="179"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="Phan Tấn Uẩn" href="/author/post/1623/1/phan-tan-uan">Phan Tấn Uẩn</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (*). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness (397 trang; 25 chương đánh số từ 1 đến 25; Nhà Xuất bản Penguin Press, New York, 2025) . Tác phẩm mới nầy nhanh chóng được các danh sách uy tín của Amazon xếp vào một trong những cuốn sách được mong chờ nhất trong năm 2025(**) và xác nhận Ocean Vuong đã chuyển từ “ngôi sao mới của thơ ca” thành “một trong những giọng văn triển vọng của thế kỷ XXI”.</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="BƯỚC CHUYỂN MỚI CỦA OCEAN VUONG NĂM 2025" href="/p137a4459/buoc-chuyen-moi-cua-ocean-vuong-nam-2025"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2025-12-08"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div><div class="pl_row pl_row_2 pl_row_last"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4454" class="pl_content" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="Ngô Thế Vinh’s Anthology II - Portraits of Literature, Art, and Culture" class="pl_atitle" href="/p137a4454/ngo-the-vinh-s-anthology-ii-portraits-of-literature-art-and-culture">Ngô Thế Vinh’s Anthology II - Portraits of Literature, Art, and Culture</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 9371)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="Ngô Thế Vinh’s Anthology II - Portraits of Literature, Art, and Culture" class="nw_image" itemprop="url" href="/p137a4454/ngo-the-vinh-s-anthology-ii-portraits-of-literature-art-and-culture" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/cRapMyMg3ggBAB5P/w150/diem-sach-ngothevinh-.jpg" title="diem-sach-ngothevinh-" alt="diem-sach-ngothevinh-" width="120" height="60" data-info="648,323"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/cRapMyMg3ggBAB5P/w150/diem-sach-ngothevinh-.jpg" title="diem-sach-ngothevinh-" alt="diem-sach-ngothevinh-" width="120" height="60" data-info="648,323"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/cRapMyMg3ggBAB5P/w150/diem-sach-ngothevinh-.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="60"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="Nguyễn Văn Tuấn" href="/author/post/1667/1/nguyen-van-tuan">Nguyễn Văn Tuấn</a></li><li class="sep">, </li><li class="item" itemprop="author"><a title="NGÔ THẾ VINH" href="/author/post/9/1/ngo-the-vinh">NGÔ THẾ VINH</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Ngô Thế Vinh’s Anthology II - Portraits of Literature, Art, and Culture is a masterful act of reclamation, a radiant arras woven from the lives and legacies of eighteenliterary, artistic, and cultural figures who defined South Vietnam’s vibrant intellectual scene before the cataclysm of April 30, 1975. This collection is not merely a gallery of portraits but a resolute stand against oblivion, preserving the humane, dynamic, and innovative spirit of the Republic of Vietnam (RVN). With a physician’s precision and an exile’s longing, Vinh crafts a narrative that resurrects a cultural heritage nearly erased by decades of suppression, offering readers a window into an era that was as fleeting as it was profound.</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="Ngô Thế Vinh’s Anthology II - Portraits of Literature, Art, and Culture" href="/p137a4454/ngo-the-vinh-s-anthology-ii-portraits-of-literature-art-and-culture"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2025-11-20"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div></div></div>
<div class="nw_box_list_brief nw_boxing_padding"><div class="pl_list pl_list_col_1" role="list"><div class="pl_row pl_row_1 pl_row_first"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4506" class="pl_content pl_content_first" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="MỘT BÀI THƠ DỊCH, 114 NĂM SAU KHI BÀI THƠ GỐC RA ĐỜI." class="pl_atitle" href="/p135a4506/mot-bai-tho-dich-114-nam-sau-khi-bai-tho-goc-ra-doi-">MỘT BÀI THƠ DỊCH, 114 NĂM SAU KHI BÀI THƠ GỐC RA ĐỜI.</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 7168)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="MỘT BÀI THƠ DỊCH, 114 NĂM SAU KHI BÀI THƠ GỐC RA ĐỜI." class="nw_image" itemprop="url" href="/p135a4506/mot-bai-tho-dich-114-nam-sau-khi-bai-tho-goc-ra-doi-" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/vOK3LmeC3ggBALFF/w150/tam-vong-2.jpg" title="tam-vong-2" alt="tam-vong-2" width="120" height="90" data-info="1077,808"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/vOK3LmeC3ggBALFF/w150/tam-vong-2.jpg" title="tam-vong-2" alt="tam-vong-2" width="120" height="90" data-info="1077,808"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/vOK3LmeC3ggBALFF/w150/tam-vong-2.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="90"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="Guillaume Apollinaire" href="/author/post/1820/1/guillaume-apollinaire">Guillaume Apollinaire</a></li><li class="sep">, </li><li class="item" itemprop="author"><a title="Trần C. Trí chuyển ngữ" href="/author/post/1675/1/tran-c-tri-chuyen-ngu">Trần C. Trí chuyển ngữ</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời.
LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912
DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="MỘT BÀI THƠ DỊCH, 114 NĂM SAU KHI BÀI THƠ GỐC RA ĐỜI." href="/p135a4506/mot-bai-tho-dich-114-nam-sau-khi-bai-tho-goc-ra-doi-"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2026-03-15"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div><div class="pl_row pl_row_2 pl_row_last"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4505" class="pl_content" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="MALL OF AMERICA" class="pl_atitle" href="/p135a4505/mall-of-america">MALL OF AMERICA</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 7714)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="MALL OF AMERICA" class="nw_image" itemprop="url" href="/p135a4505/mall-of-america" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/CxJFTWCC3ggBAKAE/w150/mall-of-america.jpg" title="mall-of-america" alt="mall-of-america" width="120" height="57" data-info="577,275"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/CxJFTWCC3ggBAKAE/w150/mall-of-america.jpg" title="mall-of-america" alt="mall-of-america" width="120" height="57" data-info="577,275"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/CxJFTWCC3ggBAKAE/w150/mall-of-america.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="57"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="SUZANNE WANG" href="/author/post/1819/1/suzanne-wang">SUZANNE WANG</a></li><li class="sep">, </li><li class="item" itemprop="author"><a title="Phan Tấn Uẩn chuyển ngữ" href="/author/post/1818/1/phan-tan-uan-chuyen-ngu">Phan Tấn Uẩn chuyển ngữ</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024.
Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="MALL OF AMERICA" href="/p135a4505/mall-of-america"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2026-03-14"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div></div></div>
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật.
Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa.
Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ /
Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô /
Người thua trận chót đền trăm tuổi /
Ta gánh thù sâu chốn hải hồ /
Những tưởng mười năm đời sáng lại /
Ta về bươi kiếm miểng xương khô /
Vét hết oan khiên người lỡ vận /
Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam.
Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga:
Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn /
Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam /
Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.