- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bí mật nơi cây dầu đôi

01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 122604)


dnv_hl_114


Ông nội tôi là người cuối cùng trong dòng họ còn biết chữ nho. Ông có chín người con, 2 trai 7 gái. Ba tôi là con trai trưởng. Cái thời của ông còn nặng nề “trọng nam khinh nữ”. Trước khi mất, ông ngã bịnh một thời gian. Biết mình không sống được lâu, ông cho gọi tất cả những người con từ khắp nơi trở về. Sau khi dặn dò nhiều điều cho các con, ông đem hết số tiền dành dụm, trừ đi số tiền chuẩn bị hậu sự cho mình, rồi chia đều cho các con. Phần đất hương hỏa, ông giao cho hai người con trai: Ba và chú tôi. Sau đó, ông nói với tất cả các người con rằng: ông có một ít giấy tờ muốn giao lại cho Ba tôi giữ. Trong số giấy tờ đó, ba tôi kể lại, có tập gia phả, phần đầu viết bằng chữ nho, do tiền nhân để lại cho đến đời ông Cố của tôi, phần sau viết bằng chữ quốc ngữ. Rồi ông bảo các người con đi ra, chỉ giữ lại ba tôi để dặn dò mấy điều mà ông Cố tôi truyền lại. Và tôi là cháu đích tôn trong họ, nên trước khi mất, ba tôi gọi tôi về, truyền lại những điều này.

***
Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, người Pháp phát triển đường xá từ Phan Rang ra Thành, rồi xuống Nha Trang, ra Ninh Hòa. Ông Cố tôi nằm trong số những người mà Pháp tuyển mộ để mở đường này. Và vì thông thạo chữ nho cũng như hiểu biết chút ít tiếng Pháp, sau một thời gian cần mẫn làm việc, ông đã tạo nên sự tin tưởng, và trở thành một người giúp việc gần gũi với vị kỹ sư đứng đầu công trình này. Trong những ngày tháng ấy, ông Cố tôi đã biết được nhiều việc, ông cho là hệ trọng, nên đã ghi lại và truyền lại cho ông Nội tôi. Trong số đó, có ba điều chính. Thứ nhất, là Lời nguyền của người Chăm được phát hiện ở đèo Rù Rì và sau đó được chôn lại trên đỉnh đèo. Thứ hai, bí mật được giấu trong cây dầu đôi. Thứ ba, kho tàng của nghĩa quân trên vùng núi Hòn Hèo, nơi có liên hệ đến phong trào Cần Vương chống Pháp, cuối thế kỷ 19.
Trong ba điều ấy, Lời nguyền của người Chăm, tôi đã kể lại trong truyện “Lời Nguyền Trên Đỉnh đèo Rù Rì”. Bây giờ tôi xin kể về bí mật giấu trên cây dầu đôi, từ hơn 100 năm trước.
 
***
Khởi đi từ ngã ba Thành chạy về hướng Nha Trang, nhìn bên tay phải, du khách sẽ nhìn thấy cây dầu đôi. Cây cao, nhưng tàn lá không nhiều. Đứng xa xa, có thể thấy cả ngọn. Đến gần, sẽ thấy rễ cuồn cuộn như những con trăn lớn uốn lượn trên mặt đất. Trên thân cây, cách mặt đất khoảng một đầu người, có một cái bướu lớn.
Ông Cố tôi ghi lại rằng, khi đường xá từ Phan Rang mở ra đến Thành, ông có nghe các vị bô lão trong vùng kể lại rằng: vào đầu thế kỷ 19, cây dầu đôi chỉ có một thân cao nghệu nghễ. Sau một đêm mưa to, sấm chớp đầy trời, sáng ra mọi người thấy cây mất ngọn, thân cây tét làm hai sau khi bị sét đánh. Người dân dọn dẹp khúc bị sét đánh ngã, và nghĩ rằng cây sẽ chết. Vậy mà không. Cây dầu đôi lại vươn lên từ chỗ bị sét đánh, hai nhánh chọc thẳng lên trời như thách thức ông Thiên. Không biết có phải từ đó được gọi là cây dầu đôi?
 
Cũng có người cho rằng, cây dầu đôi có 2 gốc, và lâu ngày, hai thân cây dính vào nhau nên gọi là cây dầu đôi. Không biết truyền thuyết nào đúng, nhưng hơn trăm năm nay, cây dầu đôi vẫn sừng sững giữa trời, mặc bao lịch sử đổi thay. Giờ đây, dưới gốc phải khoảng 7-8 người ôm mới hết, còn hai thân chọc thẳng lên trời thì mỗi thân ấy phải ba, bốn người cùng nắm tay, ôm không giáp vòng. Nhiều người kể rằng, bác sĩ Yersin, người khám phá ra Đà lạt, lúc sinh thời, mỗi lần từ Nha Trang qua trại chăn nuôi Suối Dầu làm việc, khi đi ngang qua cây dầu đôi, bác sĩ Yersin thường xuống xe, để ngã mũ như chào một bậc cao niên!
Vậy cây dầu đôi có niên đại bao nhiêu? Chưa có một câu trả lời chính xác. Chuyện kể rằng, năm Quý Sửu, 1793, thành Diên Khánh bắt đầu được xây dựng, sau khi Nguyễn Ánh rút quân từ Qui Nhơn về. Cả khu vực còn là những dãy rừng ngút ngàn. Quan đã cho lính và dân phu mở mang khu vực, tạo dựng xóm làng. Nhiều người từ miền ngoài được đưa vào lập nghiệp ở đây. Người ta cho rằng, ngay từ thời này, giữa những dãy rừng già đó, cây dầu đôi này đứng vượt trội hơn hết.
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, thành Diên Khánh đã trở thành một địa danh quen thuộc, như các địa danh khác, chợ Thanh Minh, Ninh Hòa, Vĩnh Điềm, Ngọc Hội, Lư Cấm, Vĩnh Hội.v.v… của Khánh Hòa. Lúc bấy giờ, Nha Trang còn là môt bãi cát trắng mênh mông, hoang sơ với vài dãy nhà tranh lụp xụp, của ngư dân người Việt sống bên nhau bằng nghề đánh cá ở xóm Cồn. Con đường từ Nha Trang đi lên Diên Khánh lúc này chỉ mới là con đường rải đá sơ sài. Giao thông chủ yếu vẫn là con đường thủy qua sông Cái. Trung tâm buôn bán, sinh hoạt kinh tế, văn hóa tập trung tại Vĩnh Điềm Hạ. Đường liên lạc duy nhất với Huế và Sài Gòn chỉ là con đường biển.
Năm 1885, quân Pháp đổ bộ lên Nha Trang, phong trào Cần Vương lan tới Khánh Hòa. Do lực lượng địch quá mạnh, nghĩa quân Cần Vương dưới sự lãnh đạo của các vị Trịnh Phong, Trần Đường và Nguyễn Khanh, được người dân ca tụng là Khánh Hòa tam kiệt, đã phải chịu thất bại vào năm 1886.
Nền đô hộ của người Pháp tại Nha Trang chính thức bắt đầu từ đây. Cũng như các tỉnh khác ở Trung Kỳ, Khánh Hòa nằm dưới ách cai trị của hai thế lực: Chính phủ Bảo hộ (Pháp) và Chính phủ Nam triều (triều Nguyễn). Cấp chỉ huy tỉnh thuộc Nam triều đóng tại Diên Khánh (còn gọi là cơ quan tỉnh). Cơ quan lãnh đạo của Chính phủ Pháp đóng ở Nha Trang (gọi là Tòa Sứ). Từ đó Nha Trang trở thành tỉnh lỵ của Khánh Hòa. Nhằm phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa, Pháp không ngừng từng bước xây dựng và mở rộng khu vực Nha Trang, làm cho nơi đây trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của tỉnh Khánh Hòa.

***
Cơn gió nhè nhẹ của buổi chiều, tạo nên những gợn sóng nhỏ lăn tăn trên mặt con sông Cái. Mặt trời đã ngả về tây, làm hực lên những áng mây hồng, phản chiếu trên sông, tạo nên một hình ảnh rất đẹp. Viên kỹ sư Pháp và ông Cố tôi đang đi dọc bờ sông. Y nói rằng, Y nhớ nước Pháp. Nhớ những buổi chiều đi dọc bờ sông Sein thơ mộng. Đó là lý do dường như mỗi buổi chiều, sau khi công việc xong xuôi, Cố tôi hay thấy Y hay đi dạo một mình.
Hôm ấy, như có gì muốn chia sẻ, Y đã gọi ông Cố tôi đi cùng. Cả hai sóng bước dọc theo bờ sông Cái. Sau khi hỏi han vài thứ, Y nói với Cố tôi rằng: con đường mở rộng từ Thành xuống Nha Trang có vài trở ngại. Tuy nhiên, có một điều làm Y áy náy mãi, đó là không biết có nên không, nếu phải chặt đi cây dầu đôi cao ngút để mở rộng con đường. Y im lặng thật lâu. Thả dòng suy nghĩ theo từng bước chân. Rồi đột nhiên, quay sang Cố tôi, Y hỏi, ông nghĩ thế nào. Ông Cố tôi không biết trả lời sao cho tiện, đang phân vân suy nghĩ. Bởi vì, trong lòng ông, sự hiện diện của cây dầu đôi như một nhân chứng qua bao sóng gió lịch sử. Giờ đây, nơi chân cây, còn cái miếu nhỏ thờ người anh hùng Trịnh Phong. Làm sao mà phá đi được! Nhưng làm sao góp ý với Y mà không để bị nghi ngờ?
Cái áy náy của viên kỹ sư Pháp không phải không có lý do. Bởi nơi cái miếu nhỏ, lúc nào cũng khói hương nghi ngút. Người ta bảo rằng: miếu này rất linh thiêng. Chính ở cái khoảng tâm linh ấy, đã cắn rứt thâm tâm của viên kỹ sư này. Y không phải là mẫu người của tâm linh. Y trưởng thành trong cái nôi của công nghệ, được học tập kiến thức từ trường kỹ thuật. Tuy nhiên, có nhiều việc, mà Y đã từng thấy tại Phi châu, trong công việc của một kiến trúc sư, đã làm Y thay đổi.
Ngày ấy, khi còn là một kỹ sư cầu đường, mới ra trường, với lòng ham mê đi đó đi đây, Y đã hăng hái đi nhận nhiệm vụ tận Phi Châu. Công việc của Y là chỉ huy những công trình hạ tầng, xây dựng đường xá, cầu cống cho công việc đi lại được dễ dàng, và cũng để phục vụ cho mẫu quốc trong việc khai thác tài nguyên khoáng sản và chuyên chở về những hải cảng một cách thuận lợi.
Trong một công trình, dựng một con đường lớn, băng qua nơi chôn cất của một bộ lạc thổ dân. Nếu làm con đường vòng, nó sẽ phải băng qua một khu đầm lầy rộng lớn, sẽ tốn nhiều thời gian, vật liệu. Và dĩ nhiên, thời gian thực hiện sẽ lâu hơn nhiều. Sếp của Y quyết định bằng mọi cách phải thực hiện con đường thẳng, bởi đó là khoảng cách ngắn nhất nối hai nơi. Trong quyết định này, thổ dân đã chống trả kịch liệt, vì con đường phải băng qua nơi thờ phượng, chôn cất của những người đã khuất của thổ dân. Bằng sức mạnh của nòng súng, người Pháp dễ dàng dẹp tan sự chống trả kịch liệt của họ. Tuy nhiên, không phải dễ dàng để họ khuất phục. Những công đoạn làm xong ban ngày, ban đêm thổ dân phá đi. Chuyện cứ tái diễn nhiều lần, người Pháp quyết định áp dụng bàn tay sắt và canh giữ nghiêm ngặt hơn vào ban đêm. Và dĩ nhiên, máu đã đổ xuống, của cả hai phía, và hận thù ngày càng dâng cao. Trong lúc công trình đang xây dựng, nhiều việc kỳ bí đã xảy ra. Chiếc cầu không lớn lắm, bắt ngang dòng sông nhỏ trên con đường ấy phải xây đến lần thứ ba mới hoàn tất.
Lần thứ nhất, một tai nạn khủng khiếp khi hai nhịp cầu nối liền với nhau bị xụp xuống, dẫn đến cảnh người chết, kẻ bị thương la liệt, máu chảy lênh láng khi một nhịp cầu đổ nghiêng, đè xuống hàng trăm người đang thi công. Tiếng rên la thảm khốc. Và từ hôm đó, đêm nào nằm ngủ, Y cũng mơ thấy những tiếng kêu cứu, hãi hùng. Có khi là những tiếng hú, từ cõi xa xăm vọng về.
Lần thứ hai, khi cầu sắp hoàn tất, thì mùa nước lũ kéo về, và như chưa từng có trong lịch sử, cơn lũ cuốn phăng những chân cầu đang xây dựng, như cơn giận của đất trời giáng xuống, kéo phăng những gì mà người Pháp đã xây dựng trong vùng. Thế là đoàn của Y phải làm lại hoàn toàn, từ đồ án thiết kế, đến chi tiết thời gian xây dựng.
Lần thứ ba, khi cây cầu hoàn tất, lẽ ra Y được về Pháp nghỉ hè, nhưng cơn bệnh bất ngờ đã quật ngã Y. Một căn bệnh quái lạ: ban ngày nóng bức nhưng Y run lên cầm cập; ngược lại, ban đêm khí lạnh từ núi rừng lan tỏa, vậy mà Y lại tháo mồ hôi hột. Bác sĩ không tìm ra căn bệnh. Y nằm liệt rất lâu, sức sống xuống đến mức cùng kiệt, chỉ còn làn da bọc xương như những kẻ nhịn đói hằng tháng trời. Đến nỗi, về sau, có một người thổ dân, một bộ hạ của Y tỏ lòng thương hại, mách nước rằng: Y phải cúng giải thiêng, mới thoát khỏi những tai ương, vì Y và những người khác đã san phá những phần mộ và nơi chôn cất của những thổ dân. Những oan hồn đó đã vây lấy Y và quật Y gục ngã. Khi đang trong cơn bệnh ngặt nghèo, chỉ nằm chờ chết, y đành nghe theo. Và lạ thật, sau khi cúng kính theo quy tắc của thổ dân, người thầy cúng mà bộ hạ của Y kiếm về từ một vùng khác, đã cho y uống một thứ nước xanh lè, đậm đặc được chiết ra từ những loài cây gì đó. Ông ta dặn Y uống mỗi ngày 4 lần, mỗi lần gần 1/3 lít. Chỉ hai ngày sau, Y dần dần khỏe lại. Y uống tiếp thứ nước ấy đến ngày thứ bảy, thì bệnh tình của Y như chấm dứt hẳn.
Từ đó, Y trở thành một con người còn lòng tin vào đất trời, vào những oan hồn đã khuất. Đó là lý do, Y ngại ngùng phá cây dầu đôi. Mà thực ra, mấy tuần trước Y đã có ý định phá cây dầu đôi này. Y đã dùng một mũi khoan lớn, khoan xuyên thân cây, từ bên này qua bên kia, tạo nên một lỗ hổng, xuyên suốt. Đêm ấy, Y nằm mơ. Trong giấc mơ, Y thấy chân tay mình như bị cột tại gốc cây dầu đôi. Từng giọt mủ cây chảy ra, chạy dài từ mắt Y trở xuống, làm Y không mở mắt được. Và chung quanh Y, những bóng ma đang nhảy múa, la hét liên hồi. Khi bật dậy, người Y vã đầy mồ hôi, trong một tâm thần hỗn loạn.
Mấy ngày nay, Y nằm thiêm thiếp như chờ chết. Cơn bệnh cũ từ Nam Phi tái phát. Y run cầm cập ngay cả trong những ngày nắng quái, trong lúc miệng khô khốc, nứt nẻ. Mỗi đêm, Y đều nằm thấy những cơn mộng dữ. Y cho người gọi ông Cố tôi tới, kể cho ông nghe những giấc mơ hãi hùng. Y bảo, trong giấc mơ, Y thấy một người trung niên Á châu, râu quai nón, dáng dấp bặm trợn, nơi thắt lưng, đeo một đoản kiếm. Ông ta bảo Y rằng: đây không phải là nơi của Y. Rồi bỗng nhiên, ông ta nắm chui kiếm đưa về phía trước. Y sợ hãi, lùi về phía sau, tay chụp khẩu súng ngắn. Nhưng tất cả đã muộn màng. Lưỡi kiếm quét ngang mặt Y, nhưng Y không cảm thấy đau đớn gì, mà nghe một mùi tanh lợm giọng quét ra từ đoản kiếm, và máu từ đầu kiếm tuôn trào, quét vào mặt Y. Chẳng bị thương tích gì, Y chỉ bị ngộp thở khi làn máu phun mạnh từ đoản kiếm quật vào mặt. Y cuối xuống, van lạy. Người trung niên đó bỏ đi, mà không thèm quay lại. Giấc mơ ấy cứ hiện ra hằng đêm.
Thấy Y kiệt quệ một cách đáng thương, ông Cố tôi gợi ý, tìm một thầy cúng trong vùng, để cúng cho Y. Y đồng ý. Ông tôi kiếm một thầy pháp nổi tiếng. Sau khi nghe kể hết sự tình. Ông thầy pháp ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Một hồi sau, ông lên tiếng.
“Tôi không muốn chữa bệnh cho những kẻ xâm lược. Tuy nhiên, theo ông nói, Y không phải là một con người tàn ác. Tôi sẽ cố gắng. Nhưng tôi biết chắc một điều: Y còn giữ rất nhiều thứ mà Y thu vét được. Y phải trả lại hết. Không phải trả cho tôi, cho ông, mà là gởi trả lại một nơi nào đó, mà Y muốn. Ngày nào Y chưa trả, nợ đó vẫn còn đè nặng trên vai, những oan hồn u uẩn còn bám víu Y. Y sẽ từ từ kiệt quệ mà chết. Nếu Y muốn sống, điều kiện duy nhất là phải thành thật, trả lại tất cả, và ra về với hai bàn tay trắng.Tôi sẽ trấn một lá bùa. Y phải đem lá bùa này cất cùng chung với tài sản đang có. Cất ở đâu, tùy Y. Và tài sản này, mãi mãi không bao giờ Y nên nghĩ tới. Ông về nói lại như vậy, khi nào Y đồng ý thì hãy tìm tới tôi.”
Ông Cố tôi thuật lại lời ông thầy pháp, trong khi viên kỹ sư nằm rên hừ hự, như môt kẻ sắp rời khỏi trần gian. Nhưng đôi mắt chợt sáng lên, khi nghe ông Cố tôi có nhắc đến những tài sản mà Y thu vét từ bao lâu nay. Nghe xong, Y gục xuống thiểu não. Y gật đầu, đồng ý. 
Chiều hôm đó, ông Cố tôi lại đi tìm ông thầy pháp và báo tin. Ông ta bảo ông tôi chờ. Gần nửa giờ sau, ông đem ra một cái gói nhỏ, màu vàng. Ông bảo, trong đó có lá bùa. Không ai được phép mở nó ra. Nếu không, người mở ra sẽ mang nhiều bệnh tật và tai ương, không chỉ một mình mà cả một gia tộc của người đó cũng phải gánh chịu. Ông dặn ông Cố tôi về giao cho viên kỹ sư người Pháp, và cho Y biết như vậy.
Trưa hôm sau, viên kỹ sư Pháp lại kêu ông Cố tôi lên, miệng thì thào: Tôi đã bỏ tất cả tài sản cùng lá bùa vào trong cái ống này. Y đưa cái ống lên và lắc lắc. Ông Cố tôi nghe như có cái gì chuyển động trong cái ống. Tiếng phát ra là từ những vật rắn chắc va chạm với cái ống đồng. Cái ống tròn, dạng như cái ống thổi lửa bằng tre của người nhà quê, dài khoảng hai gang tay, đường kính khoảng hơn 4 xăng ti mét. Y nói rằng: tất cả những tài sản mà Y kiếm được tại Châu Phi và Đông Dương này, đều nằm trong đó. Tuy nhiên, bây giờ, đối với Y không còn ý nghĩa gì cả. Y phải sống, phải về lại Pháp. Y không muốn cuộc đời Y tàn tạ, chết chôn vùi nơi xứ sở khỉ ho cò gáy này.
Ông Cố tôi chỉ lặng im. Một hồi sau, Y cho biết: đó chỉ là những viên đá nhỏ, có màu. Một số có màu trăng trắng, số lớn còn lại có màu xanh lục và hồng tía. Bên trong, kèm theo lá bùa của ông thầy pháp, y còn viết những dòng chữ trên một trang giấy vàng xỉn, bỏ chung với số tài sản và lá bùa vào trong cái ống đồng. Tối hôm đó, người thầy pháp đến làm phép và cúng cho Y.
Sáng sớm hôm sau, Y cho gọi ông Cố tôi lên, và bảo cùng đi ra chỗ cây dầu đôi. Y đứng lên, tự mình di chuyển, dù rất nặng nhọc. Rồi đích thân Y thắp hương, lầm bầm khấn nguyện. Trong lúc nhìn Y, ông Cố tôi chợt nhìn thân cây dầu đôi đang rỉ máu. Chỗ thủng mà y khoan hôm trước đã biến mất. Một phần vỏ cây, to bằng bàn tay, bịt lại bên ngoài thân, có dấu đinh đóng chặt. Một hàng mủ còn mới tinh nguyên đang rỉ xuống, như một con rắn, cái đuôi quấn vào bộng cây, cái đầu chúi mạnh xuống dưới. Y phóng tia nhìn rất sắc sang ông Cố tôi, rồi nhìn chỗ mủ đang rỉ ra, im lặng. Bỗng nhiên, Y quỳ xuống vái mọp, hai tay đặt hẳn lên mặt đất. Y xá ba xá, thành khẩn như một người mộ đạo chân chính. Thật lạ lùng, ông Cố tôi nhìn thấy chỗ mủ đang rỉ ra, chợt ngưng ngang và nó rút trở lại như con rắn chui tuột vào chỗ có dấu đinh đóng chặt. Ông dụi mắt, như không tin vào những gì mình vừa nhìn thấy. Cái lỗ mà Y khoan hôm nào, lành lặn trở lại thành một đóm tròn như cổ chai, sần sì như một cục u trên thân cây dầu đôi!
Không bao lâu sau, viên kỹ sư Pháp khỏi bệnh, Y trở về Pháp. Sau đó không lâu, một viên sĩ quan người Pháp khác thay thế, đường xá hoàn thành xuống Nha Trang, qua khỏi đèo Rù Rì, chạy dài ra đến đèo Rọ Tượng ở Ninh Hòa, thì Cố tôi xin nghỉ việc.
Tôi về, từ trên mây. Về một cách vội vã, ở lại chỉ trong vòng một tuần. Sau khi nghe Ba tôi giao lại gia phả của dòng họ, tôi đã đọc sơ qua. Tôi đã đến, đã quan sát cây dầu đôi. Thấy có một cái bướu lớn, chỗ cái bướu cao hơn đầu người, chứ không phải chỉ khoảng hơn một thước như Cố tôi thuật lại. Không biết có phải cái bướu hiện giờ và cái bướu mà Cố tôi nhắc đến, là một? Tôi không quan tâm đến chuyện đó. Tôi đã sờ lên vết sẹo của cây và thầm nhủ rằng: Cây đã mang những vết sẹo đời để cho người sống sót. Tôi chụp vài tấm hình. Tôi lấy cận ảnh cái bướu, như một chút kỷ niệm. Rồi vòng tay ra, ôm lấy thân cây, như ôm một thân tình, đã xa cách rất lâu, bây giờ mới gặp lại. Tôi áp tai mình vào lớp da sần sùi, nghe như tiếng rộn ràng di chuyển của nhựa sống. Tôi từ giã cây dầu đôi như từ giã một người thân thiết mà biết chắc rằng: phải lâu, rất lâu tôi mới cơ hội trở về.
Lạ lắm, khi tôi xuống Nha Trang rửa những tấm hình đã chụp. Không thấy cái bướu đâu cả. Hình tôi chụp cận ảnh cái bướu, bây giờ lại thấy lớp vỏ lành lặn và tương đối bằng phẳng chứ không ghồ ghề, nhô cao. Tôi quyết giữ điều lạ này cho mình. Tuy nhiên, gần đây, dù ở xa nửa vòng trái đất, tôi có nghe tin người ta đang bàn thảo, bứng cây dầu đôi này trồng lại một nơi khác, có thể gần thành Diên Khánh cũ, để “giải phóng” mặt bằng. Tôi nghe một niềm đau dấy lên từ phế phủ.
Tôi chỉ mới biết cây dầu đôi sau chuyến trở về ấy, nhưng lại thấy cây như một người thân quen, với thân vươn cao, tán lá bung ra như một chở che, rộng lượng. Với tôi, cây dầu đôi đã chứng kiến nhiều xáo trộn của lịch sử. Cây đứng sừng sững như một chứng nhân của đất trời Diên Khánh, đã chứng, đã nghe bao cảnh đổi dời. Cây cũng đã buồn bã dõi theo bao trận chiến ác liệt giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn Ánh. Cây cũng lắng nghe tiếng reo hò vang dậy của nghĩa quân, dưới sự thống lãnh của Bình Tây đại tướng Trịnh Phong, dùng thành Diên Khánh làm Tổng hành dinh để chống Pháp trong phong trào Cần Vương, do vua Hàm Nghi khởi xướng. Cây cũng đã mưng mủ, lắng nghe tiếng lòng của bao người dân nổi trôi theo vận nước.
Có cần không, cho chút mặt bằng, mà phế bỏ một chứng nhân im lặng của lịch sử?
Là một lưu dân, tôi ngậm ngùi nhìn cây nổi trôi theo vận nước.

Đoàn Nhã Văn
California 5/2011



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1738)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1377)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1290)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2146)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1708)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2295)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1671)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2006)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2167)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 2356)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1671)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11604)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18193)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17255)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2146)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2295)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3457)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3595)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 1708)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3192)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2978)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 3616)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1738)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2006)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2167)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2395)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1377)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1290)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2356)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2973)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3902)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14765)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30911)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37461)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12629)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13895)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 4815)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7116)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6375)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6852)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7701)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9591)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8813)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11756)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.