- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,290,155

Bí mật nơi cây dầu đôi

01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 74737)


dnv_hl_114


Ông nội tôi là người cuối cùng trong dòng họ còn biết chữ nho. Ông có chín người con, 2 trai 7 gái. Ba tôi là con trai trưởng. Cái thời của ông còn nặng nề “trọng nam khinh nữ”. Trước khi mất, ông ngã bịnh một thời gian. Biết mình không sống được lâu, ông cho gọi tất cả những người con từ khắp nơi trở về. Sau khi dặn dò nhiều điều cho các con, ông đem hết số tiền dành dụm, trừ đi số tiền chuẩn bị hậu sự cho mình, rồi chia đều cho các con. Phần đất hương hỏa, ông giao cho hai người con trai: Ba và chú tôi. Sau đó, ông nói với tất cả các người con rằng: ông có một ít giấy tờ muốn giao lại cho Ba tôi giữ. Trong số giấy tờ đó, ba tôi kể lại, có tập gia phả, phần đầu viết bằng chữ nho, do tiền nhân để lại cho đến đời ông Cố của tôi, phần sau viết bằng chữ quốc ngữ. Rồi ông bảo các người con đi ra, chỉ giữ lại ba tôi để dặn dò mấy điều mà ông Cố tôi truyền lại. Và tôi là cháu đích tôn trong họ, nên trước khi mất, ba tôi gọi tôi về, truyền lại những điều này.

***
Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, người Pháp phát triển đường xá từ Phan Rang ra Thành, rồi xuống Nha Trang, ra Ninh Hòa. Ông Cố tôi nằm trong số những người mà Pháp tuyển mộ để mở đường này. Và vì thông thạo chữ nho cũng như hiểu biết chút ít tiếng Pháp, sau một thời gian cần mẫn làm việc, ông đã tạo nên sự tin tưởng, và trở thành một người giúp việc gần gũi với vị kỹ sư đứng đầu công trình này. Trong những ngày tháng ấy, ông Cố tôi đã biết được nhiều việc, ông cho là hệ trọng, nên đã ghi lại và truyền lại cho ông Nội tôi. Trong số đó, có ba điều chính. Thứ nhất, là Lời nguyền của người Chăm được phát hiện ở đèo Rù Rì và sau đó được chôn lại trên đỉnh đèo. Thứ hai, bí mật được giấu trong cây dầu đôi. Thứ ba, kho tàng của nghĩa quân trên vùng núi Hòn Hèo, nơi có liên hệ đến phong trào Cần Vương chống Pháp, cuối thế kỷ 19.
Trong ba điều ấy, Lời nguyền của người Chăm, tôi đã kể lại trong truyện “Lời Nguyền Trên Đỉnh đèo Rù Rì”. Bây giờ tôi xin kể về bí mật giấu trên cây dầu đôi, từ hơn 100 năm trước.
 
***
Khởi đi từ ngã ba Thành chạy về hướng Nha Trang, nhìn bên tay phải, du khách sẽ nhìn thấy cây dầu đôi. Cây cao, nhưng tàn lá không nhiều. Đứng xa xa, có thể thấy cả ngọn. Đến gần, sẽ thấy rễ cuồn cuộn như những con trăn lớn uốn lượn trên mặt đất. Trên thân cây, cách mặt đất khoảng một đầu người, có một cái bướu lớn.
Ông Cố tôi ghi lại rằng, khi đường xá từ Phan Rang mở ra đến Thành, ông có nghe các vị bô lão trong vùng kể lại rằng: vào đầu thế kỷ 19, cây dầu đôi chỉ có một thân cao nghệu nghễ. Sau một đêm mưa to, sấm chớp đầy trời, sáng ra mọi người thấy cây mất ngọn, thân cây tét làm hai sau khi bị sét đánh. Người dân dọn dẹp khúc bị sét đánh ngã, và nghĩ rằng cây sẽ chết. Vậy mà không. Cây dầu đôi lại vươn lên từ chỗ bị sét đánh, hai nhánh chọc thẳng lên trời như thách thức ông Thiên. Không biết có phải từ đó được gọi là cây dầu đôi?
 
Cũng có người cho rằng, cây dầu đôi có 2 gốc, và lâu ngày, hai thân cây dính vào nhau nên gọi là cây dầu đôi. Không biết truyền thuyết nào đúng, nhưng hơn trăm năm nay, cây dầu đôi vẫn sừng sững giữa trời, mặc bao lịch sử đổi thay. Giờ đây, dưới gốc phải khoảng 7-8 người ôm mới hết, còn hai thân chọc thẳng lên trời thì mỗi thân ấy phải ba, bốn người cùng nắm tay, ôm không giáp vòng. Nhiều người kể rằng, bác sĩ Yersin, người khám phá ra Đà lạt, lúc sinh thời, mỗi lần từ Nha Trang qua trại chăn nuôi Suối Dầu làm việc, khi đi ngang qua cây dầu đôi, bác sĩ Yersin thường xuống xe, để ngã mũ như chào một bậc cao niên!
Vậy cây dầu đôi có niên đại bao nhiêu? Chưa có một câu trả lời chính xác. Chuyện kể rằng, năm Quý Sửu, 1793, thành Diên Khánh bắt đầu được xây dựng, sau khi Nguyễn Ánh rút quân từ Qui Nhơn về. Cả khu vực còn là những dãy rừng ngút ngàn. Quan đã cho lính và dân phu mở mang khu vực, tạo dựng xóm làng. Nhiều người từ miền ngoài được đưa vào lập nghiệp ở đây. Người ta cho rằng, ngay từ thời này, giữa những dãy rừng già đó, cây dầu đôi này đứng vượt trội hơn hết.
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, thành Diên Khánh đã trở thành một địa danh quen thuộc, như các địa danh khác, chợ Thanh Minh, Ninh Hòa, Vĩnh Điềm, Ngọc Hội, Lư Cấm, Vĩnh Hội.v.v… của Khánh Hòa. Lúc bấy giờ, Nha Trang còn là môt bãi cát trắng mênh mông, hoang sơ với vài dãy nhà tranh lụp xụp, của ngư dân người Việt sống bên nhau bằng nghề đánh cá ở xóm Cồn. Con đường từ Nha Trang đi lên Diên Khánh lúc này chỉ mới là con đường rải đá sơ sài. Giao thông chủ yếu vẫn là con đường thủy qua sông Cái. Trung tâm buôn bán, sinh hoạt kinh tế, văn hóa tập trung tại Vĩnh Điềm Hạ. Đường liên lạc duy nhất với Huế và Sài Gòn chỉ là con đường biển.
Năm 1885, quân Pháp đổ bộ lên Nha Trang, phong trào Cần Vương lan tới Khánh Hòa. Do lực lượng địch quá mạnh, nghĩa quân Cần Vương dưới sự lãnh đạo của các vị Trịnh Phong, Trần Đường và Nguyễn Khanh, được người dân ca tụng là Khánh Hòa tam kiệt, đã phải chịu thất bại vào năm 1886.
Nền đô hộ của người Pháp tại Nha Trang chính thức bắt đầu từ đây. Cũng như các tỉnh khác ở Trung Kỳ, Khánh Hòa nằm dưới ách cai trị của hai thế lực: Chính phủ Bảo hộ (Pháp) và Chính phủ Nam triều (triều Nguyễn). Cấp chỉ huy tỉnh thuộc Nam triều đóng tại Diên Khánh (còn gọi là cơ quan tỉnh). Cơ quan lãnh đạo của Chính phủ Pháp đóng ở Nha Trang (gọi là Tòa Sứ). Từ đó Nha Trang trở thành tỉnh lỵ của Khánh Hòa. Nhằm phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa, Pháp không ngừng từng bước xây dựng và mở rộng khu vực Nha Trang, làm cho nơi đây trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của tỉnh Khánh Hòa.

***
Cơn gió nhè nhẹ của buổi chiều, tạo nên những gợn sóng nhỏ lăn tăn trên mặt con sông Cái. Mặt trời đã ngả về tây, làm hực lên những áng mây hồng, phản chiếu trên sông, tạo nên một hình ảnh rất đẹp. Viên kỹ sư Pháp và ông Cố tôi đang đi dọc bờ sông. Y nói rằng, Y nhớ nước Pháp. Nhớ những buổi chiều đi dọc bờ sông Sein thơ mộng. Đó là lý do dường như mỗi buổi chiều, sau khi công việc xong xuôi, Cố tôi hay thấy Y hay đi dạo một mình.
Hôm ấy, như có gì muốn chia sẻ, Y đã gọi ông Cố tôi đi cùng. Cả hai sóng bước dọc theo bờ sông Cái. Sau khi hỏi han vài thứ, Y nói với Cố tôi rằng: con đường mở rộng từ Thành xuống Nha Trang có vài trở ngại. Tuy nhiên, có một điều làm Y áy náy mãi, đó là không biết có nên không, nếu phải chặt đi cây dầu đôi cao ngút để mở rộng con đường. Y im lặng thật lâu. Thả dòng suy nghĩ theo từng bước chân. Rồi đột nhiên, quay sang Cố tôi, Y hỏi, ông nghĩ thế nào. Ông Cố tôi không biết trả lời sao cho tiện, đang phân vân suy nghĩ. Bởi vì, trong lòng ông, sự hiện diện của cây dầu đôi như một nhân chứng qua bao sóng gió lịch sử. Giờ đây, nơi chân cây, còn cái miếu nhỏ thờ người anh hùng Trịnh Phong. Làm sao mà phá đi được! Nhưng làm sao góp ý với Y mà không để bị nghi ngờ?
Cái áy náy của viên kỹ sư Pháp không phải không có lý do. Bởi nơi cái miếu nhỏ, lúc nào cũng khói hương nghi ngút. Người ta bảo rằng: miếu này rất linh thiêng. Chính ở cái khoảng tâm linh ấy, đã cắn rứt thâm tâm của viên kỹ sư này. Y không phải là mẫu người của tâm linh. Y trưởng thành trong cái nôi của công nghệ, được học tập kiến thức từ trường kỹ thuật. Tuy nhiên, có nhiều việc, mà Y đã từng thấy tại Phi châu, trong công việc của một kiến trúc sư, đã làm Y thay đổi.
Ngày ấy, khi còn là một kỹ sư cầu đường, mới ra trường, với lòng ham mê đi đó đi đây, Y đã hăng hái đi nhận nhiệm vụ tận Phi Châu. Công việc của Y là chỉ huy những công trình hạ tầng, xây dựng đường xá, cầu cống cho công việc đi lại được dễ dàng, và cũng để phục vụ cho mẫu quốc trong việc khai thác tài nguyên khoáng sản và chuyên chở về những hải cảng một cách thuận lợi.
Trong một công trình, dựng một con đường lớn, băng qua nơi chôn cất của một bộ lạc thổ dân. Nếu làm con đường vòng, nó sẽ phải băng qua một khu đầm lầy rộng lớn, sẽ tốn nhiều thời gian, vật liệu. Và dĩ nhiên, thời gian thực hiện sẽ lâu hơn nhiều. Sếp của Y quyết định bằng mọi cách phải thực hiện con đường thẳng, bởi đó là khoảng cách ngắn nhất nối hai nơi. Trong quyết định này, thổ dân đã chống trả kịch liệt, vì con đường phải băng qua nơi thờ phượng, chôn cất của những người đã khuất của thổ dân. Bằng sức mạnh của nòng súng, người Pháp dễ dàng dẹp tan sự chống trả kịch liệt của họ. Tuy nhiên, không phải dễ dàng để họ khuất phục. Những công đoạn làm xong ban ngày, ban đêm thổ dân phá đi. Chuyện cứ tái diễn nhiều lần, người Pháp quyết định áp dụng bàn tay sắt và canh giữ nghiêm ngặt hơn vào ban đêm. Và dĩ nhiên, máu đã đổ xuống, của cả hai phía, và hận thù ngày càng dâng cao. Trong lúc công trình đang xây dựng, nhiều việc kỳ bí đã xảy ra. Chiếc cầu không lớn lắm, bắt ngang dòng sông nhỏ trên con đường ấy phải xây đến lần thứ ba mới hoàn tất.
Lần thứ nhất, một tai nạn khủng khiếp khi hai nhịp cầu nối liền với nhau bị xụp xuống, dẫn đến cảnh người chết, kẻ bị thương la liệt, máu chảy lênh láng khi một nhịp cầu đổ nghiêng, đè xuống hàng trăm người đang thi công. Tiếng rên la thảm khốc. Và từ hôm đó, đêm nào nằm ngủ, Y cũng mơ thấy những tiếng kêu cứu, hãi hùng. Có khi là những tiếng hú, từ cõi xa xăm vọng về.
Lần thứ hai, khi cầu sắp hoàn tất, thì mùa nước lũ kéo về, và như chưa từng có trong lịch sử, cơn lũ cuốn phăng những chân cầu đang xây dựng, như cơn giận của đất trời giáng xuống, kéo phăng những gì mà người Pháp đã xây dựng trong vùng. Thế là đoàn của Y phải làm lại hoàn toàn, từ đồ án thiết kế, đến chi tiết thời gian xây dựng.
Lần thứ ba, khi cây cầu hoàn tất, lẽ ra Y được về Pháp nghỉ hè, nhưng cơn bệnh bất ngờ đã quật ngã Y. Một căn bệnh quái lạ: ban ngày nóng bức nhưng Y run lên cầm cập; ngược lại, ban đêm khí lạnh từ núi rừng lan tỏa, vậy mà Y lại tháo mồ hôi hột. Bác sĩ không tìm ra căn bệnh. Y nằm liệt rất lâu, sức sống xuống đến mức cùng kiệt, chỉ còn làn da bọc xương như những kẻ nhịn đói hằng tháng trời. Đến nỗi, về sau, có một người thổ dân, một bộ hạ của Y tỏ lòng thương hại, mách nước rằng: Y phải cúng giải thiêng, mới thoát khỏi những tai ương, vì Y và những người khác đã san phá những phần mộ và nơi chôn cất của những thổ dân. Những oan hồn đó đã vây lấy Y và quật Y gục ngã. Khi đang trong cơn bệnh ngặt nghèo, chỉ nằm chờ chết, y đành nghe theo. Và lạ thật, sau khi cúng kính theo quy tắc của thổ dân, người thầy cúng mà bộ hạ của Y kiếm về từ một vùng khác, đã cho y uống một thứ nước xanh lè, đậm đặc được chiết ra từ những loài cây gì đó. Ông ta dặn Y uống mỗi ngày 4 lần, mỗi lần gần 1/3 lít. Chỉ hai ngày sau, Y dần dần khỏe lại. Y uống tiếp thứ nước ấy đến ngày thứ bảy, thì bệnh tình của Y như chấm dứt hẳn.
Từ đó, Y trở thành một con người còn lòng tin vào đất trời, vào những oan hồn đã khuất. Đó là lý do, Y ngại ngùng phá cây dầu đôi. Mà thực ra, mấy tuần trước Y đã có ý định phá cây dầu đôi này. Y đã dùng một mũi khoan lớn, khoan xuyên thân cây, từ bên này qua bên kia, tạo nên một lỗ hổng, xuyên suốt. Đêm ấy, Y nằm mơ. Trong giấc mơ, Y thấy chân tay mình như bị cột tại gốc cây dầu đôi. Từng giọt mủ cây chảy ra, chạy dài từ mắt Y trở xuống, làm Y không mở mắt được. Và chung quanh Y, những bóng ma đang nhảy múa, la hét liên hồi. Khi bật dậy, người Y vã đầy mồ hôi, trong một tâm thần hỗn loạn.
Mấy ngày nay, Y nằm thiêm thiếp như chờ chết. Cơn bệnh cũ từ Nam Phi tái phát. Y run cầm cập ngay cả trong những ngày nắng quái, trong lúc miệng khô khốc, nứt nẻ. Mỗi đêm, Y đều nằm thấy những cơn mộng dữ. Y cho người gọi ông Cố tôi tới, kể cho ông nghe những giấc mơ hãi hùng. Y bảo, trong giấc mơ, Y thấy một người trung niên Á châu, râu quai nón, dáng dấp bặm trợn, nơi thắt lưng, đeo một đoản kiếm. Ông ta bảo Y rằng: đây không phải là nơi của Y. Rồi bỗng nhiên, ông ta nắm chui kiếm đưa về phía trước. Y sợ hãi, lùi về phía sau, tay chụp khẩu súng ngắn. Nhưng tất cả đã muộn màng. Lưỡi kiếm quét ngang mặt Y, nhưng Y không cảm thấy đau đớn gì, mà nghe một mùi tanh lợm giọng quét ra từ đoản kiếm, và máu từ đầu kiếm tuôn trào, quét vào mặt Y. Chẳng bị thương tích gì, Y chỉ bị ngộp thở khi làn máu phun mạnh từ đoản kiếm quật vào mặt. Y cuối xuống, van lạy. Người trung niên đó bỏ đi, mà không thèm quay lại. Giấc mơ ấy cứ hiện ra hằng đêm.
Thấy Y kiệt quệ một cách đáng thương, ông Cố tôi gợi ý, tìm một thầy cúng trong vùng, để cúng cho Y. Y đồng ý. Ông tôi kiếm một thầy pháp nổi tiếng. Sau khi nghe kể hết sự tình. Ông thầy pháp ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Một hồi sau, ông lên tiếng.
“Tôi không muốn chữa bệnh cho những kẻ xâm lược. Tuy nhiên, theo ông nói, Y không phải là một con người tàn ác. Tôi sẽ cố gắng. Nhưng tôi biết chắc một điều: Y còn giữ rất nhiều thứ mà Y thu vét được. Y phải trả lại hết. Không phải trả cho tôi, cho ông, mà là gởi trả lại một nơi nào đó, mà Y muốn. Ngày nào Y chưa trả, nợ đó vẫn còn đè nặng trên vai, những oan hồn u uẩn còn bám víu Y. Y sẽ từ từ kiệt quệ mà chết. Nếu Y muốn sống, điều kiện duy nhất là phải thành thật, trả lại tất cả, và ra về với hai bàn tay trắng.Tôi sẽ trấn một lá bùa. Y phải đem lá bùa này cất cùng chung với tài sản đang có. Cất ở đâu, tùy Y. Và tài sản này, mãi mãi không bao giờ Y nên nghĩ tới. Ông về nói lại như vậy, khi nào Y đồng ý thì hãy tìm tới tôi.”
Ông Cố tôi thuật lại lời ông thầy pháp, trong khi viên kỹ sư nằm rên hừ hự, như môt kẻ sắp rời khỏi trần gian. Nhưng đôi mắt chợt sáng lên, khi nghe ông Cố tôi có nhắc đến những tài sản mà Y thu vét từ bao lâu nay. Nghe xong, Y gục xuống thiểu não. Y gật đầu, đồng ý. 
Chiều hôm đó, ông Cố tôi lại đi tìm ông thầy pháp và báo tin. Ông ta bảo ông tôi chờ. Gần nửa giờ sau, ông đem ra một cái gói nhỏ, màu vàng. Ông bảo, trong đó có lá bùa. Không ai được phép mở nó ra. Nếu không, người mở ra sẽ mang nhiều bệnh tật và tai ương, không chỉ một mình mà cả một gia tộc của người đó cũng phải gánh chịu. Ông dặn ông Cố tôi về giao cho viên kỹ sư người Pháp, và cho Y biết như vậy.
Trưa hôm sau, viên kỹ sư Pháp lại kêu ông Cố tôi lên, miệng thì thào: Tôi đã bỏ tất cả tài sản cùng lá bùa vào trong cái ống này. Y đưa cái ống lên và lắc lắc. Ông Cố tôi nghe như có cái gì chuyển động trong cái ống. Tiếng phát ra là từ những vật rắn chắc va chạm với cái ống đồng. Cái ống tròn, dạng như cái ống thổi lửa bằng tre của người nhà quê, dài khoảng hai gang tay, đường kính khoảng hơn 4 xăng ti mét. Y nói rằng: tất cả những tài sản mà Y kiếm được tại Châu Phi và Đông Dương này, đều nằm trong đó. Tuy nhiên, bây giờ, đối với Y không còn ý nghĩa gì cả. Y phải sống, phải về lại Pháp. Y không muốn cuộc đời Y tàn tạ, chết chôn vùi nơi xứ sở khỉ ho cò gáy này.
Ông Cố tôi chỉ lặng im. Một hồi sau, Y cho biết: đó chỉ là những viên đá nhỏ, có màu. Một số có màu trăng trắng, số lớn còn lại có màu xanh lục và hồng tía. Bên trong, kèm theo lá bùa của ông thầy pháp, y còn viết những dòng chữ trên một trang giấy vàng xỉn, bỏ chung với số tài sản và lá bùa vào trong cái ống đồng. Tối hôm đó, người thầy pháp đến làm phép và cúng cho Y.
Sáng sớm hôm sau, Y cho gọi ông Cố tôi lên, và bảo cùng đi ra chỗ cây dầu đôi. Y đứng lên, tự mình di chuyển, dù rất nặng nhọc. Rồi đích thân Y thắp hương, lầm bầm khấn nguyện. Trong lúc nhìn Y, ông Cố tôi chợt nhìn thân cây dầu đôi đang rỉ máu. Chỗ thủng mà y khoan hôm trước đã biến mất. Một phần vỏ cây, to bằng bàn tay, bịt lại bên ngoài thân, có dấu đinh đóng chặt. Một hàng mủ còn mới tinh nguyên đang rỉ xuống, như một con rắn, cái đuôi quấn vào bộng cây, cái đầu chúi mạnh xuống dưới. Y phóng tia nhìn rất sắc sang ông Cố tôi, rồi nhìn chỗ mủ đang rỉ ra, im lặng. Bỗng nhiên, Y quỳ xuống vái mọp, hai tay đặt hẳn lên mặt đất. Y xá ba xá, thành khẩn như một người mộ đạo chân chính. Thật lạ lùng, ông Cố tôi nhìn thấy chỗ mủ đang rỉ ra, chợt ngưng ngang và nó rút trở lại như con rắn chui tuột vào chỗ có dấu đinh đóng chặt. Ông dụi mắt, như không tin vào những gì mình vừa nhìn thấy. Cái lỗ mà Y khoan hôm nào, lành lặn trở lại thành một đóm tròn như cổ chai, sần sì như một cục u trên thân cây dầu đôi!
Không bao lâu sau, viên kỹ sư Pháp khỏi bệnh, Y trở về Pháp. Sau đó không lâu, một viên sĩ quan người Pháp khác thay thế, đường xá hoàn thành xuống Nha Trang, qua khỏi đèo Rù Rì, chạy dài ra đến đèo Rọ Tượng ở Ninh Hòa, thì Cố tôi xin nghỉ việc.
Tôi về, từ trên mây. Về một cách vội vã, ở lại chỉ trong vòng một tuần. Sau khi nghe Ba tôi giao lại gia phả của dòng họ, tôi đã đọc sơ qua. Tôi đã đến, đã quan sát cây dầu đôi. Thấy có một cái bướu lớn, chỗ cái bướu cao hơn đầu người, chứ không phải chỉ khoảng hơn một thước như Cố tôi thuật lại. Không biết có phải cái bướu hiện giờ và cái bướu mà Cố tôi nhắc đến, là một? Tôi không quan tâm đến chuyện đó. Tôi đã sờ lên vết sẹo của cây và thầm nhủ rằng: Cây đã mang những vết sẹo đời để cho người sống sót. Tôi chụp vài tấm hình. Tôi lấy cận ảnh cái bướu, như một chút kỷ niệm. Rồi vòng tay ra, ôm lấy thân cây, như ôm một thân tình, đã xa cách rất lâu, bây giờ mới gặp lại. Tôi áp tai mình vào lớp da sần sùi, nghe như tiếng rộn ràng di chuyển của nhựa sống. Tôi từ giã cây dầu đôi như từ giã một người thân thiết mà biết chắc rằng: phải lâu, rất lâu tôi mới cơ hội trở về.
Lạ lắm, khi tôi xuống Nha Trang rửa những tấm hình đã chụp. Không thấy cái bướu đâu cả. Hình tôi chụp cận ảnh cái bướu, bây giờ lại thấy lớp vỏ lành lặn và tương đối bằng phẳng chứ không ghồ ghề, nhô cao. Tôi quyết giữ điều lạ này cho mình. Tuy nhiên, gần đây, dù ở xa nửa vòng trái đất, tôi có nghe tin người ta đang bàn thảo, bứng cây dầu đôi này trồng lại một nơi khác, có thể gần thành Diên Khánh cũ, để “giải phóng” mặt bằng. Tôi nghe một niềm đau dấy lên từ phế phủ.
Tôi chỉ mới biết cây dầu đôi sau chuyến trở về ấy, nhưng lại thấy cây như một người thân quen, với thân vươn cao, tán lá bung ra như một chở che, rộng lượng. Với tôi, cây dầu đôi đã chứng kiến nhiều xáo trộn của lịch sử. Cây đứng sừng sững như một chứng nhân của đất trời Diên Khánh, đã chứng, đã nghe bao cảnh đổi dời. Cây cũng đã buồn bã dõi theo bao trận chiến ác liệt giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn Ánh. Cây cũng lắng nghe tiếng reo hò vang dậy của nghĩa quân, dưới sự thống lãnh của Bình Tây đại tướng Trịnh Phong, dùng thành Diên Khánh làm Tổng hành dinh để chống Pháp trong phong trào Cần Vương, do vua Hàm Nghi khởi xướng. Cây cũng đã mưng mủ, lắng nghe tiếng lòng của bao người dân nổi trôi theo vận nước.
Có cần không, cho chút mặt bằng, mà phế bỏ một chứng nhân im lặng của lịch sử?
Là một lưu dân, tôi ngậm ngùi nhìn cây nổi trôi theo vận nước.

Đoàn Nhã Văn
California 5/2011



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20192:35 CH(Xem: 2626)
Việt Nam cổ thời chỉ được ghi phụ chép trong cổ sử Trung Hoa như các xứ man di phương Nam rồi Tây Nam từng đến xin cống lễ, hay liên quan đến chiến công xâm lược, thực và giá lẫn lộn, của các triều đại—dưới các chiêu bài giáo hóa, phép thờ nước lớn, và/hay chinh phạt. Lịch sử thành văn của Việt Nam thỉ chỉ xuất hiện từ đời Trần (10[20]/1/1226-23/3/1400)—tức Đại Việt Sử Ký (1272) của Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322)—nhưng đã tuyệt bản, chỉ còn những mảnh vụn sao chép và sửa đổi theo ý thích của các dòng họ cai trị mà Phó bảng Phan Chu Trinh từng chỉ trích là “hủ Nho” [ultra conservative confucianist].
23 Tháng Năm 201912:27 SA(Xem: 233)
HOUSTON (VB) – Nhà thơ Tô Thùy Yên đã từ trần vào lúc 9:15 giờ đêm giờ Houston (tức 7:15 giờ chiều giờ California) hôm Thứ Ba 21/5/2019. Theo bản tiểu sử trên Wikipedia, nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, đã nổi tiếng từ thập niên 1950s tới nay....Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp. Thuở nhỏ học trung học Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, có ghi danh theo học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp, một thời gian rồi bỏ dở.
22 Tháng Năm 201910:59 CH(Xem: 460)
có một nơi vượt qua không gian và thời gian thao thức / vượt qua những lằn ranh hư thực / nơi chỉ có Anh và Em / và Tình Yêu / nhón chân nhẹ nhẹ bước vào /
22 Tháng Năm 201910:52 CH(Xem: 270)
Ngồi đây em và sen sẽ nở / Tóc tai cỏ dại sẽ thơm lừng / Mùi hương đã ngát từ vô thỉ / Cớ gì lũ sáo cứ bâng khuâng.
15 Tháng Năm 20198:04 CH(Xem: 502)
Mưa suốt ngày hôm nay / Người ta nói năm nay mùa mưa đến sớm / Nhưng với em / Mưa chưa bao giờ ngừng từ tháng 11 năm ngoái /
15 Tháng Năm 20196:33 CH(Xem: 610)
Ngủ một giấc đi em \ sáng mai hẳn dậy\ ai làm bí thư chủ tịch\ ai bán hàng rong cũng vậy\ anh tin rằng hơn chín mươi triệu dân đất nước này \ không người nào dám bỏ cuộc\ hoặc cán đích\ hoặc nửa chừng buông súng\ đều phải qui hàng trước vạch áo cơm\
15 Tháng Năm 20195:35 CH(Xem: 502)
Trên vạn dặm Trung Hoa, trong số những di tích lịch sử tôi có dịp được tham quan, có lẽ đền thờ Nhạc Phi nằm ở chân núi Thê Hà cạnh Tây Hồ, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang là di tích để lại cho tôi nhiều ấn tượng khó quên hơn cả. Đặc điểm nổi bật nhất trong kiến trúc của khu đền là giữa không gian rộng rãi, có khu mộ Nhạc Phi cùng con trai Nhạc Vân, đối diện là bốn bức tượng sắt quỳ nhốt trong cũi sắt, đã tạo nên nét đặc sắc chưa từng thấy trong các di tích lịch sử ở Trung Quốc cũng như trên thế giới… Hơn hai trăm năm trước, đại thi hào Nguyễn Du đã tới nơi này, để lại 5 bài thơ chữ Hán vịnh sử bất hủ về Nhạc Phi và những kẻ thủ ác hãm hại người anh hùng của đất nước Trung Hoa cổ đại.
14 Tháng Năm 20199:20 CH(Xem: 505)
Bài thơ: “Cúng Dường” của thiền sư, thi sĩ Tuệ Sĩ đã được nhiều giảng sư, luận sư, triết gia chuyển dịch, tất cả đều dịch rất sát, rất hay, nhưng trên ý nghĩa của mặt chữ, đã khiến dư luận cảm thương, tội nghiệp khi đọc thi phẩm này, mà theo tôi, sự giải thích sát nghĩa như vậy đã ngược lại hoàn toàn tính hùng vĩ và đại bi tâm của nhân cách tác giả và thi phẩm.
13 Tháng Năm 20199:17 CH(Xem: 667)
…Trong miền bụi đỏ mơ hồ đôi mắt ngây thơ vương giọt nước mắt làm dịu cái oi bức mùa hè cứ ám ảnh tôi qua bao giấc ngủ… Quãng đời ấy thật sự ngọt ngào. Chúng tôi đến trường trước hết là học làm người, sau đó mới là kiến thức. Tôi vẫn nhớ như in những câu cách ngôn mà mỗi sáng thứ hai thầy trang trọng viết lên đầu bảng và giảng giải ý nghĩa của nó cho cả lớp cùng nghe. Những câu ca dao, tục ngữ nói về công ơn cha mẹ, đối nhân xử thế, kính già yêu trẻ…
13 Tháng Năm 20198:54 CH(Xem: 337)
Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ.