- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,188,103

ĐI TÌM BẢN SẮC

15 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 63937)

 


 thac-content

 Có những người bạn, lâu lắm anh không gặp, nhiều người có lẽ từ ngày rời nước ra đi. Khi gặp nhau, anh và họ thường dùng những giây phút đầu tiên, nhìn nhau từ đầu tới chân, rồi cả hai cùng thốt lên: "trông vẩn thế, không thay đổi gì cả", nghĩa là Việt Nam vẫn hoàn toàn Việt Nam.

 Sự thật, qua nhiều năm trời xa xứ, anh và mọi người cũng không thay đổi là bao. Tuy tóc anh có bạc thêm, mặt anh có nhiều nếp nhăn hơn, và dù anh có ăn nhiều bánh mì, nhiều thịt cá Mỹ hơn, nhưng cũng chẳng giúp anh giống Mỹ thêm được chút nào.

 Ngay cả cách sống, khi bạn anh bước vào nhà, họ có thể thấy ngay những bức tranh trên tường, những tấm lịch dù có thay đổi hàng năm, nhưng vẫn là những hình ảnh muôn đời của Việt Nam. Vẫn những hàng thùy dương trên cửa Thuận An, Sa Huỳnh, Đại Lãnh, Nha Trang, Vũng Tàu.Vẫn những đồng lúa xanh của miền Nam với sóng lúa vờn nhau tới tận chân trời. Vẫn những con thuyền nhỏ nặng trĩu trái cây, xuôi giòng bình yên giữa hai hàng cây xanh bên bờ kinh lạch đỏ đất phù sa. Vẫn những cồn cát mênh mông óng ả không dấu chân người. Vẫn những thắng tích: Hòn Phụ Tử Hà Tiên, Lăng Ông, Chợ Bến Thành, Thánh Thất Cao Đài, Tháp Bà, Cầu Đá, Hòn Chồng, Lăng Tự Đức, Cột cờ Đông Ba, Suối Vàng, Hồ Than Thở, Thác Cam Ly... Còn nữa, còn thêm nữa, những cảnh Tháp Rùa, Hồ Hoàn Kiếm, Chùa Một Cột, cánh buồm trên vịnh Hạ Long...Vẫn hình ảnh những cụ già tóc trắng như tiên, những bà mẹ lòng bao la như biển cả, những trẻ thơ ngoan ngoãn, đầy hy vọng tựa măng non. Những thiếu nữ trong sáng bên hoa đào ngày xuân. Những nông dân say sưa đập lúa trong ngày mùa. Những dân chài mình trần bóng nhẫy, kéo lưới buổi bình minh... Tại phòng khách, họ có thể tìm thấy một vài số báo Việt ngữ, với các tin tức của cộng đồng Việt Nam tại các địa phương, những tin tức từ Việt Nam, từ các nơi khác trên thế giới, những truyện ngắn, những bài thơ... Cũng không khó khăn gì khi muốn tìm một vài cuốn tiểu thuyết tiền chiến hay hiện đại.

 Gần đến bửa ăn, tiếng xào nấu trong bếp nghe rào rào. Tiếng giục dã, tiếng chuyện trò như pháo rang, vui tựa ngày giỗ ngày Tết. Rồi mùi thơm ngon lành tỏa ra, vẫn cái mùi thơm mà khứu giác anh đã quen thuộc từ thuở ấu thời, hàng ngày, hàng bữa khi tan học về, chờ bữa cơm chiều.

 Nếu không ăn ở nhà, mọi người thường tự động nghĩ ngay đến các quán ăn Việt Nam. Anh quên hẳn các tiệm ăn Mỹ đầy rẫy hai bên đường, ngày hai buổi đi làm vẫn đập vào mắt anh. Tại các tiệm Việt Nam, vẫn những thực đơn tiếng Việt, vẫn những món ăn như thuở nào. Vẫn những chủ quán tiếp khách như tiếp người nhà và vẫn những câu chuyện ngồi chờ cà phê nhỏ giọt ngày xưa.

 Những cảnh sống hàng ngày đó tiếp diễn liên tục không ngừng đã giúp anh và mọi người thoải mái, mặc nhiên với cách sống Việt Nam. Các tình tự, nhu cầu, ý nghĩ vẫn Việt Nam. Con người toàn diện của anh và đồng bào anh với thể xác Việt Nam, đầu óc Việt Nam và nhất là trái tim vẫn hoàn toàn Việt Nam.

 Đi ngoài đường hay trong đám đông, nhiều người có thể nhận ra anh là người Việt Nam. Nhất là cái họ của anh vừa khó viết lại vừa khó đọc, nhưng họ biết ngay nó là của Việt Nam và chỉ Việt Nam mới có.

 Anh nghĩ rằng, cho dù anh và đồng bào anh có sống ở đây đến hàng trăm năm nữa cũng không có thể làm hết cái chất Việt Nam đi được. Mọi người như anh đã được tôi luyện trong cái khí thiêng của sông núi, trong cái hào khí của tiền nhân. Cái chất sắt đá của Việt Nam đó đã được đem thử với bao ngọn lửa độc bạo tàn, ngàn năm của Bắc phương, trăm năm của Tây phương, rồi sự đồi trụy của tư bản, sự bần cùng hóa của Cộng Sản, nhưng mọi người vẫn kiên trì ngạo nghễ, vẫn tung hoành dù có bị tản mát khắp nơi và có dù bị đời nhồi lên dìm xuống.

 Việt Nam, không những chỉ là tiếng nói khi vào đời, cho tới khi lìa đời, như trong một bài ca, mà Việt Nam tiếng ấy ngày nay đả được mọi người trên thế giới nhắc đến hàng ngày, hàng tuần trên đài truyền thanh, truyền hình, trên báo chí, trên miệng mọi người khác giòng giống với anh.

 Anh nghĩ rằng hai tiếng Việt Nam sẽ không bao giờ bị lãng quên trong đầu óc của nhân loại. Mỗi lần họ thốt lên, họ viết ra, anh được nghe thấy, anh được nhìn thấy là một lần anh được đánh thức anh là người Việt Nam.

 Việt Nam được nhắc đến khi trẻ em Việt đứng hàng đầu tại các học đường anh thấy hảnh diện. Việt Nam được nhắc đến khi đồng bào anh vượt biển bị hải tặc lộng hành, anh thấy căm phẩn, xót thương. Và khi Việt Nam bị đem ra bôi xấu, đe dọa, anh lại càng cảm thấy cần có sự hiện diện của mọi người để chận đứng cơn lốc, để làm sáng danh lại hai chữ Việt Nam.

 Việt Nam, tất cả đã thường trực trong không gian anh thở, trong thời gian anh sống. Từng giây, từng phút đã giúp anh nối chặt với đồng bào anh tại các tiểu bang của Hiệp Chủng Quốc, với đồng bào anh khắp thế giới, với quê hương xa cách ngàn trùng, với những người ở lại, với những người đã nằm xuống và với tiền nhân vẫn theo anh phảng phất đâu đây.

 Anh và mọi người đang đứng ở biên cương mới, đang đứng ở đầu ngọn gió, lại càng phải đứng vững hơn bao giờ hết. Anh và mọi người càng phải thấy mình là Việt Nam hơn nơi nào hết và hơn lúc nào hết.

 *

 Mọi người đang ngồi ở bàn ăn, tiếp nhau từng miếng, hàn huyên những chuyện ngày xưa thì có tiếng chào hỏi, tiếng trẻ lao xao bên ngoài, tiếng cửa mở mạnh và các tiếng chân chạy xầm xập lên lầu như đàn ong vỡ tổ. Anh nhìn vợ anh chạy ra ôm mừng mấy đứa cháu. Việt Nam đã và đang thay đổi bắt đầu từ đây, ở những người Việt Nam thơ dại nầy. Chúng đến chào ông bà và các ông bà bạn. Vẫn bằng tiếng Việt với những ngôn từ thông dụng. Da chúng vẫn vàng, tóc chúng vẫn đen, mắt chúng vẫn nâu. Có cái gì thay đổi?

 Khi chúng nói chuyện với nhau, với những bạn bè của chúng, chúng đã nói bằng tiếng Mỹ. Cử chỉ của chúng đã thấy tự do hơn. Chúng đã thích Hamburger, Pizza, Kentucky Fried Chicken ... hơn là đi ăn những món ăn ở nhà hàng Việt Nam. Thỉnh thoảng, đưa chúng đi xem đại nhạc hội Việt Nam, các danh hề chọc cười, chúng ngồi yên như mấy người Mỹ ngồi chịu trận vì nể lời mời đi xem người Việt trình diễn. Nhiều bài hát, chúng đã không nghe được và không thấm được ý. Đọc truyện Việt Nam đã bắt đầu không hiểu, chưa nói đến các vấn đề khác trên báo chí.

 Nhưng khi nghe những truyện "jokes" trên Ti Vi, chúng cười như nắc nẻ. Báo "comics" chúng mua chất đống trong nhà. Bố mẹ chúng than là rủ được chúng đi đến các buổi văn nghệ, tế lễ, chùa chiền đã là một chuyện khó khăn.

 Đó là chưa đo lường được xem trong đầu óc chúng, trong trái tim chúng đã thay đổi như thế nào. Nếu đem so sánh với một đứa trẻ ở Việt Nam cùng tuổi, thì chắc chắn có những sự khác biệt hiển nhiên và có thể nó đã vượt quá xa so với mọi người thường nghĩ.

 Một tờ báo lớn trong vùng anh ở, đăng liên tiếp mấy ngày liền, nói về thành quả của học trò Việt Nam. Anh đọc bài và nhìn hình hai em học sinh ưu tú, gương mặt hai em tỏa ra một sự tự tin rạng rỡ. Anh tin rằng, những học sinh Việt Nam nầy sẽ còn chiếm ưu hạng trong những năm tới ở bậc đại học.

 Nhưng có một đoạn trong bài báo đó ghi lại lời phát biểu của một em làm anh suy nghĩ: "Tôi đã ở đây nhiều năm và tôi cảm thấy tôi là người Mỹ. Tôi nói tiếng Mỹ thông thạo hơn tiếng Việt".

 Rồi một ít năm nữa đây, con cháu của anh và đồng bào anh sẽ sống ở đây năm, sáu mươi năm hoặc lâu hơn nữa, ta cũng đừng ngạc nhiên khi thấy những đứa con mà chúng ta đem từ lòng quê hương đi, chúng sẽ không nói đến cái cảm nghĩ nữa, không nói đến sự so sánh nữa, mà thẳng thắn phát biểu: ‘’Tôi là người Mỹ, tôi không nói được tiếng Việt".

 Anh chưa dám nghỉ tới các thế hệ thứ hai, thứ ba, những trẻ em được sinh trưởng ở hải ngọai, những người Việt Nam chưa một lần được nhìn thấy quê hương, chưa một lần đặt chân lên mảnh đất của tổ tiên. Càng nghĩ anh càng cảm thấy ê ẩm trong lòng. Anh đem chuyện trên thảo luận với một số bạn, trong đó có người không phải là Việt Nam, họ đều qui trách nhiệm cho cộng đồng, cho những người lớn chúng ta và chính anh cũng lãnh một phần trong đó.

 Một ngày cuối tuần, anh ra thư viện của thành phố. Trong cái rừng sách tràn ngập, anh muốn lần theo vết chân của các sắc dân Á Châu giống như anh, đã đến đây từ thế kỷ trước. Anh mưốn xem họ và con cháu họ đã bắt đầu từ đâu, đã đi được đến đâu và qua chặng đường dài đó, họ đã thay đổi như thế nào? Họ có còn giữ được giấc mơ lúc ban đầu không? Anh nói chuyện với người quản thủ thư viện về ý định của anh. Một lúc sau họ mang đến cho anh hàng chồng sách. Trong cái yên lặng trầm ngâm, anh chọn ra mấy cuốn và lần giở từng trang...

 

 *

 

 Về người Nhật, trong cuốn Nisei (Thế hệ thứ hai của Nhật Bản), cuốn sách này được tái bản ít nhất là ba lần. Tác giả Bill Hosohawa trong chương The Search for Identity (Đi tìm bản sắc), đã viết về Nisei những mẩu chuyện như sau: "

  "Những Nisei, được sinh trưởng ở đây, là công dân Mỹ có máu Nhật, họ đang đi tìm bản sắc cho chính họ. Các Isei (Thế hệ đầu di dân Nhật) thì băn khoăn về tương lai của con cháu họ, không biết có những gì không hay sẽ xẩy ra cho các Nisei sau này".

 Trong chương này, một thiếu niên Nisei đã nói về đời sống hòa hợp giữa hai nền văn hóa trong gia đình của em như sau:

 "Đời sống trong gia đình tôi là một sự hổn hợp kỳ dị giữa Đông và Tây. Tôi ngồi ăn bữa điểm tâm Mỹ và ăn bửa trưa của Nhật. Phần ăn của tôi được khai triển lạ lùng giữa cơm , thịt bò và bắp cải. Tôi đã thành thạo trong việc dùng dao, nĩa và đũa như nhau. Tôi đọc lời nguyện bằng tiếng Nhật trước mỗi bữa ăn, và đọc kinh bằng tiếng Anh trước khi đi ngủ. Ngày lễ Giáng Sinh, tôi treo vớ trên lò sưởi; ngày đầu năm của Nhật, tôi nướng bánh dày và thưởng thức một cách ngon lành. Tôi nói với cha tôi bằng tiếng Anh, bằng tiếng Nhật hay bằng một thứ tiếng hỗn hợp kỳ cục mà tôi cảm thấy tiện lợi".

 Nisei này đã đi đến một sự dung hòa tuyệt diệu, bình thản giữa hai nền văn hóa trong đời sống của em. Một cuộc đời mà em vừa phải sống để tranh đua với xã hội bên ngoài, vừa phải sống để giử gìn các phong tục, nối tiếp với thế hệ trước em.

 Nhưng tác giả cho đây không phải là một trường hợp bình thường, điển hình cho tất cả Nisei đang gặp phải trong đời sống của họ. Tác giả viết tiếp:

 "Nhiều thiếu niên Nisei Nhật đã được dạy từ thuở ấu thời, họ sẻ là nhịp cầu nối qua Thái Bình Dương giữa hai nền văn hóa Đông và Tây, giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản, giữa nơi họ sinh trưởng và di sản của tổ tiên. Nhiều Isei nghĩ rằng, con họ sẻ không bao giờ chấp nhận nhập vào đời sống Mỹ một cách hoàn toàn, nên dạy cho các Nisei một số hiểu biết về Nhật Bản và khuyến khích Nisei về thăm lại quê hương".

 "Trong một chuyến về thăm Nhật được tổ chức năm 1925 cho các Nisei, một thiếu nử đả phát biểu sự bối rối của cô về tương lai trong một buổi tiệc do các nhà lảnh đạo Nhật khoản đãi:

 "Tôi kính trọng nước Nhật, đó là đất của tổ tiên tôi, nhưng tôi không biết gì về nước Nhật, tôi không nói được tiếng Nhật, mặc dầu chúng tôi có những khó khăn tại Mỹ, tôi vẫn yêu nước Mỹ. Tôi muốn hết lòng phụng sự đất Mỹ hơn."

 Để đáp lời, vị Đô Đốc chủ tọa đã ôn tồn nói với cô:

 "Cô hảy trở về Mỹ để trở thành một người học trò giỏi nhất, một chuyên viên tốt nhất trong ngành cô chọn, một người vợ thảo nhất khi cô lập gia đình, một người mẹ hiền nhất và một người công dân Mỹ tốt nhất như cô muốn. Tôi chắc rằng, nước Mỹ sẻ vui lòng được có cô, và chúng tôi ở Nhật cũng sẽ hảnh diện vì cô đã tỏ ra là một công dân tốt của Hoa Kỳ."

 Sau đó, nhiều chính giới Nhật cũng khuyến khích cô thành một công dân tốt nơi cô sinh trưởng và họ còn khẳng định: "Không ai có thể sống tích cực và thành công được khi mà lòng trung thành còn bị phân xẻ."

 Đó là lời lẽ của các nhà lãnh đạo trong buổi lễ chính thức. Nhưng trong thời gian cô lưu lại Nhật, làm việc cho một cơ quan văn hóa quốc tế tại Tokyo, cô đã nhận chân ra mặt trái của sự thật, và cô đã mạt sát thậm tệ:

 "Hầu hết các nhà giáo dục và lãnh đạo Nhật đều tồi tệ. Họ khinh bỉ Nisei về lối sống Mỹ và sự thiếu hiểu biết về văn hóa và nghi lễ Nhật. Họ coi Nisei không có khả năng nói tiếng Nhật đúng cách và chỉ là con cháu của giai cấp bần nông thấp kém đã phải bỏ xứ đi tha phương cầu thực". Ít lâu sau, cô trở về Mỹ. Cô đã bị dân Nhật ghét bỏ. Cô đã mạt sát họ và trớ trêu thay dù cô có tuyên bố yêu nước Mỹ đến thế nào, thì 20 năm sau, chắc gì cô đã thoát khỏi cảnh bị chính quyền Mỹ đưa vào trại tập trung khi hạm đội Nhật tấn công Trân Châu Cảng trong Thế chiến thứ hai.

 Kiếm việc làm ở Mỹ thì bị khó khăn vì nạn kỳ thị. Trở về Nhật, muốn phục vụ, lại càng khó khăn hơn, khi muốn tìm một chổ đúng.

 Nhiều Nisei tình nguyện về thăm, theo các chương trình khảo cứu hay du học ở Nhật. Họ đã nhiễm văn hóa Mỹ, nên gặp nhiều khó khăn để điều chỉnh cách sống, đó là chưa kể đến sự khinh thị, nhạo báng của những người cùng giòng máu với họ. Các điều đó khiến các Nisei chán ghét Nhật Bản đến nỗi họ đếm từng ngày để trở lại Hoa Kỳ.

 Một số Nisei thuộc tuổi học trò đã được cha mẹ gửi về Nhật sống với ông bà hay thân thuộc để được thụ huấn khuôn mẫu của Nhật. Những Nisei này đang học dở dang nền giáo dục Hoa Kỳ, nay lại phải hướng về nguồn gốc Nhật. Vì các Nisei là công đân Mỹ, nên đến tuổi trưởng thành họ trở lại Hoa kỳ với ước vọng của cha mẹ là con mình còn giữ được bản chất của người Nhật.

 Nhưng lại có vấn đề là khi trở về Mỹ, họ lại thấy hoàn toàn không hợp với các Nisei cùng lứa tuổi ở Mỹ. Họ cảm thấy lạc lõng, y như lúc còn ở Nhật. Cảm nghĩ của họ bây giờ theo lối Nhật, tiếng Mỹ lại cập quặng. Họ lại trải qua bao khó khăn, không biết đến bao giờ mới nhập lại được vào đời sống Mỹ, cùng với các Nisei khác. Thành thử, suốt đời họ lâm vào tình huống bối rối, luôn luôn lo điều chỉnh cuộc sống, luôn luôn tìm hiểu mình là gì trong đám người mình muốn hòa nhập.

 Anh nhớ đến một buổi hội trước đây, một Sansei (Người Nhật thuộc thế hệ thứ ba) đến thuyết trình về đề tài sự hội nhập văn hóa của người di dân. Sau phần trình bày, một câu hỏi được đặt ra cho Sansei này là: "Anh nghĩ thế nào về nước Nhật, anh có hảnh diện về nền kinh tế hùng cường của Nhật không? Sansei này thản nhiên trả lời: "Tôi không có cảm nghĩ gì cả."

 

 *

 

 Nói về người di dân Trung Hoa, trong cuốn The Story of Chinese in America, cuốn này đã được tái bản nhiều lần, tác giả Betty Lee Sung đã đưa bốn mảnh đời trong chương "Joining the Mainstream" (Nhập vào giòng sông chính) như sau:

 "Cô Lila Huey, sinh tại Mỹ, đã nổi giận khi mọi người gọi cô là Tàu, "Đừng gọi tôi là Tàu, tôi là Mỹ. Cha tôi tuy sinh ra ở Trung Hoa, nhưng đã ở đây trên ba mươi năm. Mẹ tôi sinh ra ở xứ sở này và chúng tôi đã là công dân Mỹ. Tôi không có liên hệ gì với nước Trung Hoa và điều làm tôi khó chịu khi có người hỏi tôi "cô là Tàu hay Nhật". Tôi thường trả lời bằng cách hỏi ngược lại, "Ông là người Ý, người Hy Lạp hay người gì?...

 Lila sau này tốt nghiệp đại học University of Washington, Seattle, và tìm được việc một cách dễ dàng. Lần đầu tiên trong đời, cô cảm thấy không phải là người Mỹ hoàn toàn, khi cô bắt đầu yêu một thanh niên Trung Hoa. Cô thú nhận rằng: "Tôi muốn kết hôn với người cùng giòng giống tôi. Tất cả những thanh niên khác trong vùng Seattle và Porland mà tôi quen ở đại học đều không hợp với tôi."

 

 Harry Dear không để ý khi bị người ta gọi là Tàu. Anh ta nói: "Tôi là Mỹ. Tôi hảnh diện về dân tộc tôi, về di sản của tổ tiên tôi. Tôi tới Mỹ từ lúc còn bé, lớn lên ở chợ Tàu New York. Tôi không nói được tiếng Mỹ trước khi tôi đi học trường công. Mẹ tôi góa chồng. Mẹ tôi đi may thuê để nuôi tôi. Mẹ tôi không nói được một tiếng Anh nào, ngay cả bây giờ cũng thế. Tất cả bạn bè tôi ở chợ Tàu đều nói tiếng Anh theo kiểu "chop sui". Tôi không bao giờ được điểm cao quá "C" về Anh văn. Khi vào đại học, tôi vẫn còn bị bạn bè cười vì tiếng Anh "chop sui " của tôi cứ vô tình tuôn qua cửa miệng"

 Sau này, Harry trở thành một kỹ sư trưởng trong một công ty.

 

 Raymond Eng, tốt nghiệp đại học Tôn Dật Tiên tại Quảng Đông. Đến Mỹ năm 1937, anh làm báo để truyền bá tư tưởng quốc gia và chống cộng sản. Anh tham gia cộng đồng, họp mặt với các lảnh tụ trong chợ Tàu. Anh được mọi người kính nể và thường giữ vai trò hòa giải và cố vấn cho cộng đồng. Sau này, anh bỏ nghề làm báo và chuyễn sang địa hạt địa ốc, bảo hiểm, thuế, thông dịch. Anh kết hôn với Tze Chun, nữ sinh viên Trung Hoa du học bị kẹt lại khi Trung Cộng chiếm lục địa.

 Cả hai sau này trở thành công dân Mỹ, nhưng cứ đến ngày Song Thập, anh đều lên diển đàn hô hào đuổi cổ Cộng Sản ra khỏi Trung Hoa yêu dấu của anh.

 

 Man Fook Liu, theo chân cha đi tới Mỹ để tìm vàng. Giấc mơ của Man Fook Liu là làm việc cật lực, để dành từng xu và trở về Tàu với túi đầy vàng.

 Trước khi anh rời Trung Hoa, gia đình cưới vợ cho anh. Anh đã có một con trai để nối giõi và là cái cớ để nhắc anh phải trở về. Anh tới Mỹ, như lòng đã nguyện là làm việc không nghỉ và mong kiếm được một mớ để trở về quê hương. Nhưng giấc mơ đó đã không bao giờ tới. Túi mãi không đầy vàng và Trung Hoa thì mất vào tay Cộng Sản. Anh cố tìm cách gửi tiền về nhà, nhưng được tin vợ anh đã chết từ lâu, còn con anh chạy lạc sâu vào nội địa, khi bị Nhật Bản chiếm.

 Hiện giờ Man Fook Liu đã hơn sáu mươi tuổi, không biết mình có nên trở lại quê hương nữa hay không, và cũng không biết mình muốn gì bây giờ. Còn tương lai thì chỉ mong khỏi mất cái việc phụ thợ giặt mà ông đang làm.

 

 Bốn hình ảnh trên, tác giả nêu ra tượng trưng cho các di dân Trung Hoa tại Mỹ. Lila mong mỏi hoàn toàn đổi thành Mỹ. Harry thành công khi hội nhập vào hội Mỹ và vẫn tự hào về nguồn gốc của mình. Raymond đã gắn liền đời mình với cộng đồng. Anh phục vụ cộng đồng và tìm sự kính nể ở đó. Còn Man Fook Liu là một kẻ tạm lưu cư, dù rằng đã sống gần trọn đời tại Mỹ, nhưng đầu óc và tâm hồn vẫn không rời Trung Quốc.

 

 *

 

 Về người di dân Phi Luật Tân, trong cuốn Asian American -Psychological Perspective- gồm nhiều bài nghiên cứu của giáo sư tại các đại học do Stanley Sue, Ph. D và Nathaniel N. Wagner, Ph. D biên soạn. Tác giả Fred Cordova đã phẫn nộ trong chương Filipino Americans: There's Always an Identity Crisis, (Người Mỹ gốc Phi luôn luôn có một khủng hoảng bản sắc) như sau:

  "Rất nhiều người Mỹ, không phải chỉ có Mỹ trắng không biết đến người Phi, và một điều đủ để ngạc nhiên là chính người Phi cũng không biết họ là gì nữa. Có hai điều hiển nhiên là có những định chế kỳ thị trong xã hội người da trắng và sự tự quên dần mất bản sắc của chính người da nâu".

 Người Phi tự gọi họ là người da nâu, không giống như những dân da vàng của Á Châu như Tàu và Nhật. Nhiều năm trước, trong các cuộc thống kê về dân số, họ thường bị đặt vào loại "other" ( người khác) trong loại "Oriental or other" ( người Phương Đông hay người khác) . Phi Luật Tân có 87 ngôn ngữ chính và hầu hết di dân Phi đều có tên lấy theo chữ Tây Ban Nha. Họ cứ bị nhầm lẫn hoài: khi thì Nhật, khi thì Tàu, khi thì Hạ Uy Di, khi thì dân da đỏ, khi thì Mể Tây Cơ... khi thì là dân da đen vì màu da sậm và cùng có thị hiếu như thích nghe nhạc dậm dật, khi thì da trắng vì có tôn giáo, học vấn và đời sống giống họ.

 Sự nhầm lẫn nầy đã khiến một giáo sư người Phi tại Seattle University nói:"Tôi luôn luôn bị dằng co với sự khủng hoảng bản sắc. Khi thì tôi là người Phi-Mã Lai, khi thì là người Phi-Tây Ban Nha, rồi lại là người Phi-Mỹ và sau này thì lại là người Mỹ-Phi.". Cuối cùng, giáo sư này phải nổi quạu: "Nhưng, hãy nhớ có một sự bất biến là cha mẹ tôi, các con tôi và tôi đều được tạo ra từ Adam và Eva. Để tóm lại, tôi nghỉ tôi là người Mỹ-Phi da đen-Mã Lai-Đông Dương-Tây Ban Nha-Nhật và...tôi là loài người!"

 

 Anh không có thì giờ đọc hết các chồng sách mà người quản thủ thư viện đưa cho anh. Anh biết rằng trong đó có biết bao nhiêu cuộc đời của các người di dân, tị nạn từ bên kia Thái Bình Dương đến. Có những giấc mơ đã thành, nhưng có bao nhiêu giấc mơ đã tàn lụi theo cuộc đời của họ. Có bao nhiêu tấm lòng hoài vọng cố hương, về miền Dương Tử, về miền Tô Châu, về miền Hoa Nam của lục địa, và những hòn đảo đầy hoa đào trên biển Nhật Bản lạnh giá hay trên biển Nam Hải nắng ấm xa xưa...

 *

 

 Tối đó, anh trở về nhà, nằm thao thức không ngủ. Nghĩ đến ngày trở về quê hương, sao mà thấy khắc khoải. Biết bao nhiêu người còn muốn rời bỏ quê hương"ngay cả cái cột đèn nếu biết đi còn muốn bỏ nước ra đi", tự nhiên anh thấy thấm đau hơn. Anh nghĩ đến đám con anh đem đi từ bên kia Thái Bình Dương và những cháu chắt của anh sau này. Chúng có sẽ bị trận cuồng phong kéo đi mất hay không? Chúng có còn muốn giữ nguồn gốc không? Chúng có tìm được bản sắc của chúng không? Chúng có bị bỏ quên không? Chúng có bị nhìn lầm không? Chúng có thể hội nhập vào giòng sông chính mà vẫn tự hào về di sản của tổ tiên không?

 Chúng có còn muốn trở về quê hương Việt Nam không? Và khi chúng muốn trở về, những người bên nhà có mở rộng vòng tay như đón những đứa con, đón những người anh em không quen biết từ bao năm hay không?

 Chúng có sẽ là một kẻ lạ trên chính quê hương của tổ tiên chúng hay không? Ngay cả chính anh nữa, anh vẫn tin là anh vẫn không thay đổi so với ngày rời nước ra đi. Nhưng dầu sao đời sống vật chất cũng ảnh hưởng đến anh và mọi người không ít. Trong khi đó. hình ảnh của những người ở Việt Nam có vẫn như trước ngày rã đám tan hàng hay không? Những cảm nghĩ của họ và của anh có còn giống nhau sau hàng mấy chục năm trời xa cách hay không?

 Đó là chưa nói đến những sự thù nghịch về chính kiến, những mối hận về tù đầy không hiểu đến bao giờ mới phai nhòa được. 

 

 *

 

 Anh không muốn nghĩ thêm nữa, choàng dậy gọi điện thoại cho một người bạn thân từ hồi còn ở trung học, sau này ông ta thành giáo sư, suốt đời chỉ vùi đầu vào những chồng sách cổ. Anh coi ông bạn như một cây tra cứu, mỗi lần anh muốn tìm dấu vết của các vấn đề cổ xưa. Sau khi sang đây, bạn anh vẫn còn say mê với cái thú đó; sách vở tàng trữ trong nhà ông ta như một cái thư viện nhỏ.

 Người bạn bị đánh thức, càu nhàu, nhưng khi nghe anh đề cập đến vấn đề đi tìm bản sắc, bản chất và nguồn gốc của người Việt, thì ông ta tỉnh hẳn ngủ. Như một cái máy, ông trở ngược lại bốn ngàn năm. Từ cái thuở Rồng Tiên gặp nhau, đời Xích Quỷ, Kinh Dương Vương, gặp Long Nữ, từ dấu chân Bách Việt, Tây Tạng theo sông Hồng Hà đi xuống, từ Nam Dương vượt Biển đi lên...miên man bất tận đưa anh xuôi đường vào giòng lịch sử.

 Anh phải chận ngay bạn lại, vì sợ bạn kéo dài hết đêm. Anh ngỏ ý là anh muốn tìm lại hình ảnh của người Việt Nam với bản sắc, bản chất từ những tài liệu đáng tin cậy để anh và con cháu có thể giữ được ở cái đất nước nầy. Thế là ông bạn khảo cổ của anh có công việc làm, và đó lại là một trọng trách nữa. Tự nhiên anh thấy thương bạn, đôi kính dày, cặm cụi, hăng say. Chắc cả đêm nay, nếu có chợp mắt được lúc nào, thì hồn ông ta sẻ bay bổng về thời Văn Lang, Hồng Bàng qua Đinh, Lê , Lý, Trần, hay lẩn quẩn bên các kệ sách trong phòng. Anh mong bạn, ngày mai đầu óc đừng có để đâu đâu, đến sở làm nhìn việc này ra việc khác thì phiền lắm.

 Hai hôm sau, nghe tiếng điện thoại, anh chắc là của bạn. Khi anh vừa lên tiếng trả lời thì bạn anh bắt đầu ngay như một bài luận thuyết:

 "Tôi muốn nói với ông điều này, trước khi đi tìm bản sắc cho con ông, cho cháu ông, cho chắt ông và cho cả ông nữa, để khỏi bị nhận lầm, để sống và có thể ngẩng mặt được ở xứ nầy, để có thể hòa hợp với bà con bên nhà được, thì phải bàn đến mấy vấn đề căn bản trước."

 "Nói đến bản sắc thì phải nói đến văn hóa, văn hóa và bản sắc thường đi liền với nhau, văn hóa tạo ra bản sắc và bản sắc duy trì văn hóa. Cho nên phải biết bản sắc và văn hóa là gì. Còn tài liệu Việt Nam mà tôi nghĩ ông có thể tin cậy được là của hai học giả Trần Trọng Kim và Đào Duy Anh."

 "Trước hết nói về văn hóa, xem Mỹ nó định nghỉa ra sao. Theo E.B. Taylor, một nhà nhân chủng học hiện đại trong cuốn Primitive Culture 1981:

"Văn hóa là một tổng hợp hổn tạp gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật lệ, phong tục và những khả năng khác cùng tập quán đòi hỏi ở một người để thành một phần tử của hội đó."

 Theo James A. Bank, một nhà đa chủng học, trong cuốn Social Education 1983, đưa đến định nghĩa gần với bản sắc hơn:

 "Văn hóa là những giá trị, những biểu tượng, những cách sống, những định chế do con người tạo ra để phân biệt giữa những nhóm người này với nhóm người khác."

 Theo học giả Đào Duy Anh, trong cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương1938, trong chương "Văn hóa là gì?" ông đi đến một định nghĩa rất là giản dị và bao quát sau khi đưa ra các dẫn chứng:

 "Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt."

 Anh sợ bạn đi từ định nghĩa này đến định nghĩa khác, sẽ bỏ bửa cơm chiều. Anh định ngắt lời nhiều lần, nhưng không được. Bạn anh cũng hiểu ý và chận ngay:

 "Ông đã biết rằng một nền văn hóa được tạo thành cũng phải trải qua hàng trăm, hàng ngàn năm . Khi nói chuyện về văn hóa và bản sắc mà ông vội vàng như thế làm sao thảo luận được. Ông cũng biết tạo ra con người thì dễ, nhưng cho con người đó có một bản sắc riêng biệt không phải là một chuyện trong thời gian ngắn.

 "Phải biết kiên nhẫn, phải biết bắt đầu đi từ đâu, phải biết những gì mình cần bỏ đi và cần tìm thêm."

 "Ông có biết văn hóa của chúng ta có những đặc tính gì không? Trong chương tổng luận cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, học giả Đào Duy Anh đã nêu ra năm đặc tính của nền văn hóa Việt Nam:

 "Thứ nhất văn hóa lấy nông nghiệp làm nền móng.

 "Thứ hai lấy gia tộc làm cơ sở, cá nhân chìm trong gia tộc.

 "Thứ ba là an cư lạc nghiệp, ưa chuộng hòa bình, không muốn cạnh tranh.

 "Thứ tư là lưu tự, lưu truyền giòng giống, tiếp nối sự nghiệp tổ tiên.

 "Thứ năm là thường tồn, không thay đổi, quá khứ lẫn trong hiện tại.

 "Cũng theo học giả, năm đặc tính kể trên đã có một kết quả tốt trong cái hội nông nghiệp. Sau đó bị va chạm với nền văn hóa "động" của Tây Phương, của kỹ nghệ thì cái văn hóa "tĩnh" của chúng ta đã bị lung lay, không thể đứng vững được, mà phải biến đổi. Đến nay, ông thử nghĩ xem, không phải mình chỉ có va chạm, mà mình bị bật gốc, bị đem đi khỏi cái nền móng cũ, sống lạc lõng trong một hội kỹ nghệ, thành dân thiểu số trong đa số thì ông sẽ tưởng tượng mình sẽ phải ứng biến đến mức độ nào.Thôi tôi sẽ nói ngay về bản sắc và tìm cho ông hình ảnh của người Việt Nam mà ông muốn tìm.".

 "Nhưng ông có biết bản sắc được định nghĩa là gì không? Tôi có bốn cuốn tự điển tiếng Việt trong nhà. Trong cuốn của hội Khai Trí Tiến Đức, tôi tìm không thấy. Cuốn của Lê NgọcTrụ và một số tác giả thì "Bản sắc là màu sắc tự nhiên của một vật, màu sắc tượng trưng tính chất của một sự việc, một người: bản sắc quốc gia, bản sắc nghệ thuật."

 ‘’ Cuốn Tự Điển Tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, trong nước chép lại một phần định nghĩa của Lê Ngọc Trụ: ‘’Bản sắc: màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính. Bản sắc dân tộc’’

 "Trong cuốn Hán Việt Tự Điển của Nguyễn văn Khôn thì "Bản sắc là chân tướng "và "chân tướng là bản tướng tướng mạo thật".

 "Những định nghĩa này thật sơ sài, có lẽ vì trước kia chúng ta sống trên đất nước của mình nên vấn đề này không được đặt nặng."

 "Hảy lấy một định nghĩa có tính cách khoa học hơn trong cuốn tự điển The American Heritage Dictionary thì chữ "Identity" là "Toàn bộ phẩm hạnh hay nhân cách mà một cá nhân được thừa nhận là phần tử của một nhóm người."

 "Ông đã biết những định nghĩa trên, thì đi tìm hình ảnh của người Việt Nam cũng không khó khăn lắm. Từ xưa, người Việt vẫn tin mình là giống dân Giao Chỉ. Lúc tôi còn nhỏ, khoảng 11 tuổi, họa hoằn tôi thấy được một vài dân quê ở miền Bắc có bàn chân mà hai ngón cái tỏe ra. Khi hỏi thầy giáo, thì được dạy đó là bàn chân Giao Chỉ, hai ngón chân cái giao với nhau. Ngày nay, chắc ít ai muốn có cái bàn chân nguyên thuỷ đó nữa; đó là một lẽ tự nhiên chẳng cần bàn".

 "Tôi có tìm được một đoạn, tả về người Việt Nam trong cuốn Việt Nam Sử Lược của học giả Trần Trọng Kim, nghe xong nếu có những điểm không ưa thì cũng đừng bất bình. Tôi cũng xin ông bình tĩnh để cùng nghe cả đoạn này để cùng suy ngẫm:

 "Người Việt Nam thuộc về loại da vàng, nhưng mà người nào phải đi làm lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì nước da ngăm ngăm đen, người nào nhàn hạ phong lưu ở trong nhà luôn thì nước da trăng trắng như màu ngà cũ."

 "Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn con người , chứ không to béo. Mặt thì xương xương, trông hơi bèn bẹt, trán thì cao và rộng, mắt thì đen và hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt, môi hơi dầy, răng thì to mà lại nhuộm đen. Râu thì thưa mà lại ít, tóc thì nhiều và dài, đen và hơi cứng.Dáng điệu đi đứng thì nhẹ nhàng và xem ra vững chắc ."

 "Áo quần thì dài rộng, đàn ông thì búi tóc và quấn khăn vành rây, áo mặc dài quá đầu gối, tay áo thì chật, ống quần thì rộng. Đàn bà ở Bắc Việt và phía Bắc Trung Việt thì đội khăn, mà ở chỗ thành thị thì mặc quần, còn ở nhà quê thì hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và Nam Việt thì đàn bà mặc quần và búi tóc, chứ không đội khăn bao giờ."

 "Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng hay có tính tình vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác chế nhạo.Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật."

 "Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma, tin quỉ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn."

 "Đàn bà thì hay làm lụng và hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quí là tiết, nghĩa, cần, kiệm."

 "Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một phong tục, nói một thứ tiếng, cùng giữ một kỹ niệm, thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc từ đầu nước đến cuối nước."

 

 "Đoạn văn trên của cụ Trần Trọng Kim đã tả người Việt Nam trước 1930 về phong diện, y phục và đủ các tính tốt và xấu. Đến nay, qua hơn nửa thế kỷ, người Việt đã thay đổi những gì? Sự dinh dưởng có tốt hơn để thay đổi được tướng mạo không? Y phục thì đã gần như thay đổi hoàn toàn. Những điều Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và Tiết, Nghĩa, Cần, Kiệm có còn giữ được và phát triển thêm không? Các tính xấu có bớt đi hay đã tăng thêm?".

 "Một điều ông phải lưu ý con người Việt Nam nói trên đã sống trong cái hội hoàn toàn Việt Nam, chắc không có nhiều sự so sánh lắm. Nay đem ra sống trong một quốc gia tạp chủng. Giữa đám người từ khắp nơi trên thế giới đến, thì sự so sánh và cái nhìn sẽ có nhiều khác biệt.

 "So với các sắc dân tại Hoa Kỳ thì người Việt đã nổi tiếng về hiếu học, minh mẫn, lanh lẹ và trọng đạo đức. Có một vài tính xấu nếu đem ra so ở đây thì chắc cũng chẳng xấu lắm. Như quỷ quyệt thì chắc không thể nào so sánh với sự quỷ quyệt khoa học của dân tạp chủng. Tiếng Mỹ thì chưa thông, ngôn từ không đủ thì sao có thể chế nhạo, bài bác hay khoác lác với ai được. Cả đến "khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, thích danh vọng" thì có thấm vào đâu với các anh Mỹ nhà giàu quyền thế. Này ông bạn, ông có thấy rất nhiều người gửi đi xin việc, được phỏng vấn, nhưng số đông được trả về vì quá lễ phép, quá khiêm tốn, đã không biểu lộ được cái khả năng thường nhật của mình, nói chi đến sự phô trương , khoác lác."

 "Ông có thấy, các tính xấu mà cụ Trần Trọng Kim gọi là cái xấu trong cái hội của mình nó đã không phát hiện ra bên ngoài xã hội Mỹ, mà phiền thay, nó vẫn lẫn quẫn trong cộng đồng chúng ta để đục phá lẫn nhau, để bài bác, kiêu ngạo, khoác lác, khoe khoang với nhau."

 "Tôi nói những điều trên không phải muốn luân lý giáo khoa với ông. Nhưng để chứng minh một điều, mình mới đến đây, chưa có kinh nghiệm va chạm nhiều, nên trong vấn đề đi tìm bản sắc, hay trở về nguồn, những cái hay , tốt riêng biệt của người mình thì cố giữ. Nhưng trong những cái hay đó, không chắc mọi điều được coi là hay ở xứ này, mà mình cứ cố giữ thì cũng hoài công phí sức. Ngay cả cái dở của mình,chưa chắc nó đã hoàn toàn dở mà mình phải bỏ, có điều mình phải điều chỉnh làm sao cho thích hợp.

 "Theo ý tôi, đi tìm bản sắc không chỉ có nghĩa thụ động, để họ phân biệt được và nhìn mình là người Việt Nam. Tuy trong cái thụ động này, thật sự nó cũng đã có bao nhiêu cố gắng, yên lặng hay ồn ào để duy trì liên tục bản chất Việt Nam."

 "Đi tìm bản sắc còn bao hàm ý nghĩa không những tự tồn mà còn phát triễn cho từng cá nhân và cho cả tập thể liên hợp. Hiệp chủng quốc là một quốc gia tiến bộ không ngừng, thay đổi rất nhanh, đào thải những kẻ đứng lại, những kẻ đi ngược dòng . Cái khó khăn của chúng ta là phải vừa theo kịp nhịp độ của họ mà vẫn giữ được bản sắc của ta."

 "Trong vấn đề văn hóa và bản sắc tại đây, người ta thường đặt ra hai vấn đề: Một là đồng hóa, hai là thích hợp hóa. Đồng hóa được Weinstock S. Alexander trong cuốn Acculturation and Occupation 1969, định nghĩa như sau: "Đồng hóa là sự mất hết văn hóa và bản sắc nguyên thủy của một cá nhân hay một tập thể để bị thu nhập vào một nền văn hóa đang thống trị."

 "Người Việt chúng ta không ai muốn bị đồng hóa, mà dù có muốn cũng không được. Hãy đem đổ những hạt đậu trắng, đậu đen, đậu vàng vào một cái tô và trộn lẫn đến trăm lần, người ta vẫn có thể nhặt ra đậu đen, đậu vàng và đậu trắng riêng biệt."

 Những người dân da trắng từ Âu châu đến Hoa Kỳ, chỉ ít năm sau là họ trở thành Mỹ

đặc. Còn chúng ta, dù trải qua bao nhiêu thế hệ, vẫn sẽ chỉ là những hạt đậu vàng trong tô đậu hổn hợp trên mà thôi."

 "Quốc gia Hoa Kỳ trước kia thường chủ trương và thúc dục mọi người đồng hóa, như một melting pot. Từ khi làn sóng di dân của nhiều quốc gia tràn đến, họ đã bắt đầu thay đổi một số quan niệm, và thêm vào đó là sự thích hợp hóa, và nay lại đề cao sự đa dạng của văn hoá, Salad bowl và Cultural Diversity".

 "Gác bỏ sự đồng hóa, vấn đề của chúng ta ở đây là trong cái đám đậu vàng đó, mình không bị nhận lầm là người Tàu, người Nhật hay người Phi và làm sao để các sắc dân khác trọng nể mình."

 "Nói về thích hợp hóa, đó là sự diển biến của sự học hỏi và điều chỉnh dần dần của các cá nhân sống trong một hội có những dị biệt văn hóa. Thích hợp hóa là cả một nghệ thuật sống của người di dân, nhất là di dân Á Châu. Những giá trị của đời sống, những định chế xã hội, những phong tục tập quán, đời sống văn hóa, ngôn từ ngôn tự, thực phẩm, y phục và phải nói đến cả văn chương nghệ thuật v.v...của cả hai nền văn hóa, chúng ta đều cần thấu hiểu cho cuộc sống mới, mà lúc nào cũng có thể giữ được bản chất đặc thù của mình."

 "Thích hợp hóa không phải là đem hai nền văn hóa trộn lẫn với nhau. Cũng không phải cố giữ mức thăng bằng điều hòa của hai đời sống Đông và Tây. Nó là cả một sự hổn hợp của chiến lược, chiến thuật của trường kỳ và đoản kỳ, lúc tiến, lúc lui, lúc hòa, lúc phá, lúc thoát, lúc nhập... trong từng môi trường, trong từng hoàn cảnh, từng thời gian để nắm lấy phần ưu thắng, để ẩn mình an toàn và cũng để chung sức và chia sẻ hạnh phúc cũng như gian khổ với mọi người. Nó cũng không phải là một công thức cứng nhắc, cuồng tín hay khiếp nhược và tự mình phải đặt một lằn ranh cuối của mức lùi, mức mất và một lằn ranh không vượt quá để còn có thể thắng lại được..."

 "Nói đến người di dân tại Hoa Kỳ, nhiều người cho rằng mức độ đồng hóa càng cao thì càng có nhiều cơ hội thành công và cũng như thế mức độ thích hợp hóa càng cao thì mức độ của đời sống kinh tế và xã hội cũng thấy rõ rệt khá hơn.

 "Khi nghiên cứu về bản sắc, nó đem lại cho ta nhiều ý nghĩa. Con cháu chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi "Tôi là ai?", "Tại sao tôi lại phải đổi tên?", "Tại sao tôi lại là dân Mỹ?", "Tại sao tôi không phải là một kẻ tị nạn chính trị mãi mãi? Đi tìm bản sắc không những cho thấy bản ngã của ta, mà sẽ đem lại cho ta những niềm tự kiêu hảnh và tự kính mến mình. Ông có nhớ Alex Haley, tác giả da đen nổi tiếng trong cuốn "Roots", và sau này thành một cuốn phim trường thiên chiếu đã trên các đài truyền hình không?."

 

 "Ông ta đã mất bao năm lần mò về cội nguồn của mình. Từ bao thế hệ nông nô tại Mỹ, ngược dòng về bộ lạc tổ tiên ông trong rừng già ngày xưa. Ông đã đưa những hình ảnh từ ngày Kunta kinte, người thiếu niên, tổ tiên của ông sống tự do trong cảnh trời đất sơ khai, ngày bị sa lưới nhốt trong cũi. Những ngày bị trói và xếp như cá hộp trong hầm tầu vượt Đại Tây Dương khổ hơn kiếp súc vật. Ngày bị đem ra bán đấu giá, và những chuỗi ngày dài làm nô lệ trong các nông trại trồng bông miền Nam..."

 "Alex Haley đã cho mọi người biết dù là dân da đen, dù bị làm nô lệ, họ vẫn có đủ các thiên tính của con người mà thượng đế đã tạo ra. Họ vẫn có đầy đủ các đức bao dung, nhân ái, tự trọng. Họ cũng ham muốn tự do và cũng đủ sức chịu đựng như Chúa đã chịu đóng đanh trên thánh giá. Cuốn "Roots" không những có giá trị về văn học mà nó còn giúp cho mọi người nhận chân được cội nguồn và phẩm giá của dân da đen. Nó cũng đã giúp phá bỏ được phần nào sự khinh thị và mặc cảm vẫn bao trùm lên giống dân của ông."

 "Nếu bản tướng, chân tướng là của một cá nhân thì bản sắc phải do mỗi người trong tập thể cùng có chung. Có bản sắc, như có một cái khiên, cái mộc để bảo vệ cho tất cả mọi người trong cộng đồng. Nhiều vấn đề, người ngoài họ phải e dè, nếu khi chạm đến một người, tức là chạm đến cả cộng đồng. Các cá nhân dù có sống đơn độc ở nhiều nơi, họ cũng được cái dù vô hình ấy che chở."

 "Một điều quan trọng nữa cho tất cả người Việt Nam của chúng ta, trong vài ba thập niên nữa, nếu chúng ta không tìm ra được cái bản sắc chung, thì mấy triệu người Việt Kiều tị nạn hải ngoại trên khắp thế giới sẽ thành Việt Mỹ, Việt Gia Nã Đại, Việt Pháp, Việt Đức, Việt Anh, Việt Ý , Việt Úc...Và nay còn cả một khối hàng trăm ngàn người trong nước xuất cảng lao động tìm cách ở lại, họ sẽ thành Việt Nga, Việt Hung, Việt TiệpẨ hàng ngàn cô gái nông thôn muốn thoát khỏi cảnh lầm than cố ra đi để lấy chồng ngoại quốc, họ sẽ thành Việt Hàn, Việt Đài Loan và sẽ là Việt gì gì thêm nữaẨNgòai ra hôn nhân dị chủng ngày càng có khuynh hướng gia tăng. Chúng ta tự hỏi có điều gì giữ họ ngồi được với nhau, có cái gì giúp họ nhận ra là anh em, đồng bào. Cái chuẩn của bản sắc là gì, nếu không chỉ còn là một đống sà bần không tên. Còn thêm nữa, với bao nhiêu dị biệt và văn hóa bên ngoài, bao nhiêu pha trộn làm sao có những điểm chung với những người Việt Nam trên quê hương mấy chục năm sau.

 

 

 

 

 "Chúng ta hãy nhìn những người di dân Trung Hoa. Với kinh nghiệm của họ, họ di dân không ngừng, họ định cư ở khắp thế giới, và trải qua bao nhiêu thế hệ, dù ở đâu họ vẫn giữ được hình ảnh của họ liên tục. Chợ Tàu như một điểm tựa, và quê hương như một hậu cứ khổng lồ vô biên. Hàng năm, mỗi lần lễ song thập, tất cả các đại diện Hoa kiều trên thế giới lại quay về họp mặt, và họ vẫn còn nói thứ tiếng của tổ tiên họ. Còn chúng ta, không biết đến bao giờ mới có một ngày như "Song thập" thật sự như họ trên quê hương ta.

 "Còn di dân Nhật Bản, họ là những người chịu nhiều sự đau khổ về bản sắc với quốc gia của họ nhất. Vì biến cố lịch sử của thế chiến thứ hai, chính phủ Mỹ đã cấm di dân Nhật, và cũng đương nhiên cắt đứt sợi dây liên lạc giữa họ với quê hương họ. Không phải họ không có tinh thần quốc gia, mà chính vì lòng quốc gia quá mạnh và cũng vì sự kỳ thị giai cấp quá nghiệt ngã của dân Nhật đối với những người cùng đinh di dân Nhật mà chính họ đã lảnh hậu quả khủng hoảng về bản sắc như vậy."

 "Tôi cũng đang lo ngại rằng, khi mà làn sóng di dân Việt Nam bị cắt đứt, khi mà hận thù vẫn chưa xoá mờ được, khi mà cách đối xử của chính quyền trong nước với người Việt tị nạn hải ngoại chưa thay đổi, thì tôi nghĩ rằng tình trạng sẽ cũng không khác gì cho các thế hệ sắp tới như những kinh nghiệm của di dân Nhật Bản tại Hoa kỳ, ngoại trừ cộng đồng Việt Nam hải ngoại phải được xây dựng một cách vững chắc" 

 "Thôi bây giờ, ông không cần phải ngắt lời tôi, tôi cũng nên ngừng. Đầu óc ông đã đầy những băn khoăn, tôi không muốn làm ông bối rối thêm nữa. Mọi chuyện cứ từ từ giải quyết, đây là một vấn đề trường kỳ và liên tục. Điều cần nhất là mọi người phải biết mình muốn cái gì? Muốn đi đến đâu? Muốn cái hình ảnh của con cái mình như thế nào ở cái thế hệ thứ hai, thứ ba...?

 

 *

 

 Anh bỏ điện thoại xuống. Bữa cơm tối cũng vừa xong. Anh bước ra bao lơn để cần một chút gió. Đêm đã xuống từ lâu, trên trời lờ mờ, lác đác vài ngôi sao. Đêm hè ở đây đã khác xa với vùng trời miền nhiệt đới. Anh nhớ lại những đêm hè ở quê hương, trời đầy sao vằng vặc, giải Ngân Hà rõ mồn một chạy ngang trời. Ngày còn nhỏ, anh thường cùng với anh chị em ngồi trong sân, ngửa mặt thi đếm sao, nhưng đếm chẳng bao giờ hết được, và chỉ ngưng khi tất cả đều mỏi cổ.

 Tự nhiên anh liên tưởng đến anh và mọi người ở đây, như đang đứng trong đêm tối, đang cùng nhau cố tìm một vì sao định hướng, chỉ đạo cho một cuộc hành trình lâu dài mới.

 Một lần, anh đến dự buổi tiếp tân một người nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng đã bao năm đóng góp cho nền điện ảnh Việt Nam, và Hoa Kỳ. Cô đã tâm sự, cô luôn luôn bị dằng co giữa con người Việt Nam và những vai trò mà các hảng phim giao phó. Cô đã từ chối nhiều hợp đồng vì không muốn con người Việt Nam bị hiểu lầm và bị bôi nhọ. Nhiều người đã phát biểu tán thưởng hành động của cô, những hãng phim Mỹ thì họ không đặt nặng vấn đề đó và thường phiền trách cô rằng "Cô hảy quên con người Việt Nam của cô đi". Chắc một số người cũng đã quên vì một vài lý do thực tế nào đó. Còn cô thì đã nhất định không chịu quên.

 Anh lại nhớ đến một chiều đi dự lể "Ngày học sinh Việt Nam", được tổ chức nhân dịp cuối năm học. Khác với năm xưa, ngoài việc nêu danh và trao tặng phẩm cho các học sinh tốt nghiệp trung học, ban tổ chức thêm vào việc giới thiệu các lớp Việt ngữ và có một ước vọng là tập họp được tất cả các học sinh Việt Nam trong vùng để gây một ý thức cộng đồng cho các em.

 Hội trường tuy còn trống chổ, nhưng nhiều người đã đến tham dự. Trên hàng ghế chính, có nhiều quan khách Mỹ, họ ngồi cho đến khi lễ tất. Chung quanh anh, hầu hết là các học sinh trung học. Anh đã sống lại đôi phút những hình ảnh của thuở thiếu thời khi xưa trong những ngày hè mãn khóa. Anh mĩm cười nhìn một số em nhỏ vổ tay, huýt gió khi các em nhỏ nữ sinh lên nhận lãnh phần quà. Trong khung cảnh náo nhiệt đó, nhiều em khác ngồi yên lặng , một số em ngồi một mình trên những hàng ghế trống, không bạn bè, không phụ huynh.

 Anh cũng mong các em sẽ đến đông hơn để vui đùa, huýt gió, để hò hét làm vỡ hội trường và sống như cái thời anh đã sống trước kia trong các ngày mãn khóa. Chúng ta đã có bao nhiêu bạn bè ở đó, những bạn bè như những sợi dây kỹ niệm kéo về trường xưa, làng cũ. Anh muốn các em cũng có những người bạn của thời trung học như anh, dù có phải phiêu bạt khắp phương trời, tấm tình bằng hửu vẫn mãi mãi không phai.

 Anh mong muốn thấy mọi người chúng ta cùng đến. Đến không phải chỉ nhìn thấy chúng chia tay mùa hè mà để ân cần khuyến khích con cháu ta gặp lại nhau, tập hợp nhau và nhất là giúp chúng thành những người bạn đồng hành với nhau sau nầy.

 Hôm đó anh cũng được chứng kiến hình ảnh những em hăng hái, tự tin đứng trước hội trường phát biểu ý kiến. Anh cũng nghe thấy những diễn giả khuyến nhủ con cháu mình cố gắng học và đừng quên nguồn gốc Việt Nam. Anh cảm thấy bao chứa chan hy vọng, khi nghe một em bé sáu tuổi đọc bài cảm tưởng là trước kia đã quên hết tiếng Việt, sau ba tháng học, em đã biết đọc, tuy còn rất nhiều chữ em đọc không có dấu. Anh còn cảm động hơn, khi chương trình Việt ngữ giới thiệu một nữ giáo viên, một thiếu phụ đơn độc đến Mỹ với ba con nhỏ vẫn cố bỏ thời giờ âm thầm, dìu dắt các em nhỏ về nguồn.

 Còn bao nhiêu điều phấn khởi khác, trong các tiệm sách, những tác phẩm cũ và mới, các tạp chí bằng tiếng Việt ngày một tràn ngập trên các kệ. Báo hàng ngày, hàng tuần ê hề được phát không trong các siêu thị. Những buổi trình diễn văn nghệ, giới thiệu sách mới, hội họp chính trị rạp không còn chỗ. Chùa chiền, nhà thờ không thiếu một nơi nào. Những bài kinh, những lời giảng vẫn bằng tiếng mẹ đẻ thuở xưa. Những Little Saigon như những nôi nuôi dưỡng và phát triển văn hóa cũng như bản sắc cho người Việt hải ngọai, không những chỉ có tính cách đặc thù cho Hiệp Chủng Quốc, cho các quốc gia khác có người Việt định cư, mà còn đối biệt với những gì đang xẩy ra trong nước.

 Nhưng sao nhiều người, trong nỗi hân hoan nhìn thấy con mình đang soải cánh bay về tương lai, vẫn băn khoăn thấy có một khoảng trống ngày càng cách xa với những họat động nói trên. Còn bao nhiêu tính chất Việt Nam trong con cháu họ, khi mà trình độ ngôn ngữ ngày càng khác biệt trầm trọng. Từ biết nói, đến biết đọc và hiểu được bài văn là một chặng đường xa, nếu không có Ỷ chí và môi trường hỗ trợ. Có người đặt câu hỏi tiếng Việt có phải là một yếu tố sống còn để giữ gìn bản sắc, tinh thần cho các thế hệ sắp tới của người Việt hải ngọai hay không? Người già luôn luôn bị quá khứ kéo lại, người trẻ thì bị tương lai kéo đi, mà trong cái xã hội Ềsiêu kỹ thuậtỂ này sức kéo gia tốc ngày càng mạnh. Văn hóa Việt Nam bằng ngoại ngữ để truyền thông với các thế hệ tương lai vẫn còn yếu kém, chập chững, do dự. Những vấn đề của họ vẫn chưa có chỗ tương xứng trong chương trình nghị sự của cộng đồng. Tương lai chưa thăng bằng với quá khứ, và nhiều mục tiêu đã bị lãng quên.

 Nhiều người cho rằng những hoạt động văn hoá, nhất là báo chí ồn ào hiện nay cũng sẽ chỉ là những âm ba sẽ lịm dần trong mảnh ao tù trong những thập niên tới, nếu không có gì nối được quãng đứt gián đoạn hiện nay với những thế hệ sắp tới vì ngôn ngữ và lẽ đương nhiên tiến hóa trong lịch sử di dân của nhân lọai. 

 Đó là chưa nói đến cái bản sắc nói chung cho người Việt hải ngọai khắp nơi trong cộng đồng thế giới với biết bao dị biệt. Họ sẽ được giáo dục, có văn hóa, và có tiếng nói khác nhau. Quê hương đáng lẽ phải là những điểm chuẩn chung để mọi người còn có một cái gì để noi theo. Đó là niềm kiêu hãnh, là tình tự dân tộc, là đạo đức chính trị, là đạo đức kinh doanh, nếu chỉ thấy cái thua kém, thù hận, và ô nhiễm mọi mặt. thì có lẽ đã muộn rồi. Như đàn cá hồi khi ra biển rộng, lúc tìm đường về, nhưng cái tổ cũ đã bị phá bỏ, các kinh rạch cũ đã bị rác rưởi lấp kín, thì chắc là lại ra đi, về vùng vẫy tự do ở vùng biển rộng trời cao. Thế hệ tiếp nối của con cháu chúng ta rồi chắc cũng sẽ phải lần mò đi tìm bản sắc riêng cho mình hay tự quên đi để mặc trôi theo vào dòng sông chính nơi chúng sinh trưởng.

 Nguyễn Công Khanh

 

THƯ MỤC THAM KHẢO:

Sách Anh Ngữ:

Nisei: The Quiet American, tác giả Bill Hosohawa, nhà xuất bản New York W. Morrow, 1969

The Story of Chinese in America, tác giả Betty Lee Sung, nhà Xuất bản New York, Collier 1971

Asian American-Psychological Perspective, tác giả Ben Lomond, Stanley Sue, Nathaniel N. Wagner, nhà xuất bản California, Science and Behavior Books, 1973

Primitive Culture, tác giả EB. Taylor, 1981. Social Education, tác giả James A Bank, 1983

American Heritage Dictionary, nhà xuất bản New York NY Dell, 1983

Acculturation and Occupation, tác giả Weinstock S. Alexander, 1969

Roots, tác giả Alex Haley, nhà xuất bản Boston G. K. Gill, 1979

 

Sách Việt Ngữ (Tái bản tại hải ngọai):

Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, tác giả Đào Duy Anh

Việt Nam Sử Lược, Tác giả Trần Trọng Kim

Tự Điển Việt Nam, Hội Khai Trí Tiến Đức

Tự Điến Việt Nam, Tác giả Nguyễn Ngọc Trụ

Hán Việt Tự Điển, tác giả Nguyễn Văn Khôn

Tự Điển Tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Việt Nam, 1994

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Mười 20189:13 SA(Xem: 1397)
Sinh ngày 6/10 Nhâm Ngọ, tức 13/11/1942, tại thôn “Me Vừng,” làng Phụng Viện thượng Hải Dương, Bình Giang, Hải Dương—nhưng trên khai sinh, đề ngày 6/0/1942—tôi có một lá tử vi khá kỳ lạ. Giáo sư Nguyễn Bỉnh Tuyên—một lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã, thày dạy kèm chữ Pháp cho tôi trong hai năm Đệ Tam, Đệ Nhị (1957-1959)—nói tôi có số “ở tù;” nên “ở lính” có thể giải thích như ở tù. Mãi tới năm 1971, bác Phan Vọng Húc—bạn cha tôi ở Hải Dương, phụ thân nhà thơ Phan Lạc Giang Đông—mới đưa ra lời giải đoán khá chính xác: Tôi có số “Ngựa Trời,” sẽ xuất ngoại, đỗ đại khoa, và thọ tới hơn 70.
02 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 59568)
Khái Hưng gốc làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương–nơi chính quyền Bảo hộ Pháp từng dùng bom đạn san bằng sau cuộc khởi nghĩa mùa Xuân năm 1930 của Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ]. Thân phụ là Trần Mỹ, Tuần phủ Phú Thọ [Thái Bình?].
12 Tháng Mười Một 20189:44 CH(Xem: 288)
Bức điện ngắn ngủi. Tôi đọc và không tin ở mắt mình. Chiếc ấm điện chưa đổ nước đã cắm phích, vài khắc nổ tung. Thach giật minh chúi đầu vào bức chân dung đang vẽ dở. Tôi nhẩm nhẩm đọc lại: ‘’Em hay vô đây, anh đã xây cho chúng ta một ngôi nhà...’’.Thạch dành bức điện, lướt mắt rồi vò nát:’’ Thằng nào?’’ .Tôi không trả lời, ểu oải nằm vật ra giường.Thạch tức tối vò bức tranh. Tôi như trượt về ký ức. Đà Lạt năm ấy giữa mùa hạ chói gắt, chiecs xe khách vất vả vượt đèo Ngoạn Mục. Tôi đến Đà Lạt, bên này đỉnh đèo là mùa dông rét mướt. Cái lạnh đột ngột phả vào nỗi bức bối mà tôi đang phải chốn chạy.
12 Tháng Mười Một 20187:44 CH(Xem: 263)
Tôi chọn em và thơ để sống mỗi ngày được nhiều hơn 24 tiếng. / Em đừng treo anh vắt vẻo lên câu thơ, bắt anh giữ thăng bằng cùng thời cuộc. Anh yêu mến đám đông nhưng đám đông trì níu anh đến chết. / Em chỉ đau ngón chân đã làm anh đau cả bàn tay phải. Những bờ huyền thuần khiết đã nhường nhịn em, những hờ lan mệt mỏi đã nhường nhịn em. Anh cũng nhường nhịn em dù anh không phải là người đàn ông tốt nhịn. /
04 Tháng Mười Một 20188:37 CH(Xem: 558)
Những đứa trẻ mùa đông / Nô đùa cùng giá rét / Củ khoai lùi ấm áp khất thực tuổi thơ / Còng lưng chữ nghĩa đu đưa sợi dây vực thẳm trố mắt ngẩn ngơ /
04 Tháng Mười Một 20188:27 CH(Xem: 542)
không thề xác tín được / nụ hôn luôn bí mật hiện đang phiêu du / nó sẽ dành cho bóng hình ẩn mặt / khi ý thức chẳng hiểu gì về sự phỉnh dụ của giọng nói /
31 Tháng Mười 20186:16 CH(Xem: 758)
Vài phút nữa em thức dậy / Vậy là tháng mười sắp hết / Tình rét co ro em con mèo nhỏ / Em khoác áo vàng mùa dã quỳ mưa /
30 Tháng Mười 20189:28 CH(Xem: 708)
Mưa không ngưng từ ngày cô bỏ đi. / Cô đếm từng đêm. / Đã 4000 đêm mưa. Từ khi cô đã cuống cuồng bỏ chạy, đã hấp tấp đến nỗi không kịp mang theo một thứ gì, cô lật đật lưỡi đưỡi, vấp váp, rồi vùng dậy, đứng lên, lao ra khỏi vùng phai tàn. / Phải rồi, ở đó, trong bóng tối mát dịu của người đàn ông ấy, quanh chỗ rợp đổ xuống của bờ vai rộng mà cô dựa vào mỗi đêm, quanh vồng ngực ấm mà cô chúi vào mỗi đêm, giờ chỉ là một vùng phai tàn. / Từ khi cô bỏ chạy, đã được 4000 đêm.
26 Tháng Mười 20188:54 CH(Xem: 524)
Nhân dịp nhà văn Nguyên Ngọc giõng dạc tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 26/10/2018, xin đăng lại cuộc chuyện trò đã đăng trên Hợp Lưu mới chớp mắt đây mà đã 15 năm truân chuyên vận nước (ND)
26 Tháng Mười 20185:31 CH(Xem: 638)
Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, “tự diễn biến” thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước. Tôi không thể còn đứng trong một tổ chức như vậy. Tôi vẫn tin ở tương lai của đất nước, nhất là ở lớp trẻ, vì không có lực lượng vô luân nào có thể ngăn trở dân tộc này quyết định vận mệnh của mình. Nguyên Ngọc Ngày 26-10-2018