- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,382,227

PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN KHÔNG CÓ VUA CỦA NGUYỄN HUY THIỆP *

06 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 86223)

 da_2

LTG: Người ta gọi văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau 1986, là “văn học đổi mới”, “văn học trong thời kì đổi mới, “văn học đương đại”. Văn học trước 1975 nói chuyện chính trị, chuyện đại sự quốc gia. Văn học sau 1975 lại kể những câu chuyện về cái thường ngày, về thân phận cá nhân. Văn học trước 1975 thiên về tụng ca. Văn học sau 1975 thiên về nhìn thẳng, nói thật, phản tỉnh. Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh… đưa tiến trình đổi mới tiến tới chỗ cao trào, tạo nên một bước ngoặt trong sự phát triển của văn học dân tộc, góp phần xoá bỏ khoảng cách tư duy nghệ thuật giữa văn học Việt Nam và những nền văn học tiên tiến của nhân loại trong một “thế giới phẳng”... (HĐK)

 

 

1. Thủ pháp phân mảnh, ghép mảnh

1.1. Tên truyện

"Không có vua", gợi nhớ từ "loạn cờ" được nhân vật Thủy - cô con dâu trong Tướng về hưu sử dụng. Khi nghe ông Thuấn ngỏ ý muốn giúp ông Cơ và cô Lài dọn đỡ việc nhà, cô Thủy liền phản đối: “Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng. Cha là chỉ huy. Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ". “Không có vua” hay “loạn cờ” là trạng thái nhân thế đảo điên, không tôn ti trật tự, không chuẩn mực giá trị, không điểm tựa tinh thần. Nói như Nietzsche: “Thượng đế đã chết”. Con người ta không muốn/thể sắp xếp lại thế giới.

1.2. Nhân vật phân mảnh (những mảnh vụn cha con, anh em, hàng xóm láng giềng)

Trong thế giới "không có vua", cha con, anh em gầm gừ, chửi bới, cạnh khóe, cấu xé nhau, không tiếc lời nanh độc giành cho nhau; em "sòng phẳng" trả "tiền công" cắt tóc cho anh trai; cha chồng nhìn trộm con dâu tắm, em chồng ngang nhiên sàm sỡ, đòi ngủ với chị dâu; con giơ tay biểu quyết để cha chết... Trong cái thế giới "loạn cờ" ấy, sự tận thiện tận mĩ của Sinh trở nên lạc loài, chẳng khác nào “bông hoa lài cắm bãi cứt trâu”. 

Ngày Tết, khi hàng xóm sang chúc Tết, Đoài bảo: "Xin lỗi bác, cháu chẳng biết nhà bác có bao nhiêu người, tên là gì?". Ông hàng xóm cười: "Thì tôi cũng thế".

2. Cái nhìn phân tâm học

2.1. Bản năng tính dục

Sự "loạn cờ" xảy ra với nhà lão Kiền một phần có lẽ là do sự mất cân bằng âm dương. "Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông. Bà Nhớn, vợ lão Kiền, mất đã mười một năm". Vì thế mà nhà này trở thành một cánh đồng khô khát mùa đại hạn. Ẩn ức libiđô dự phần khiến lão Kiền "suốt ngày cau có", "cãi nhau với mọi người như cơm bữa", khiến Khiêm - thằng đàn ông "to lớn, lừng lững" - tính nóng nẩy...

Giữa mùa đại hạn kéo dài ấy, "Sinh lọt vào gia đình nhà này tựa như cơn mưa rơi xuống đất nẻ. Không khí dịu lại. Vài tháng đầu, lão Kiền không gây sự gì với con cái. Cấn là người hạnh phúc nhất. Anh cầm kéo cắt tanh tách, đối xử với khách hết sức nhã nhặn"...

Nhưng Sinh lại không thể là "của chung", chỉ có thể là vợ của một người: anh cả Cấn, cho nên lão Kiền và Đoài lại càng cháy bùng cơn khát. Và thế là sự "loạn cờ" càng được nhân lên. Trong bữa ăn (không có lệ mời nhau), "Đoài nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ: "Tình ơi tình, mình ơi mình, tình hở hang lắm cho mình ngẩn ngơ"". Sau bữa ăn, khi Sinh cất nồi dưới bếp, "Đoài đi theo, lấy cơm vào cặp lồng. Đoài đưa tay chạm vào lưng Sinh, Đoài bảo: "Người chị tôi cứ mềm như bún"". Ngày giỗ, khi soạn mâm, Sinh bảo Khảm: "Thiếu cái gì thì gọi", đợi Khảm đi khuất, Đoài bảo: "Thiếu một tý tình thôi, Sinh cho tôi xin một tý tình". Sau đó, mặc Sinh xua đuổi, Đoài đã cả gan "xán lại, hôn chút lên má Sinh". "Sinh đẩy ra, Đoài hổn hển: "Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ được với Sinh một lần"". Đêm giao thừa, Đoài dám buông lời với chị dâu: "Tối nay tôi vào buồng Sinh nhé!"... Và đến lượt lão Kiền. "Lão loay hoay dưới bếp, nghe tiếng dội nước ở trong buồng tắm, thở dài, bỏ lên nhà. Đi vài bước, lão Kiền quay lại, vào trong bếp, bắc chiếc ghế đẩu, trèo lên nín thở ngó sang buồng tắm. Trong buồng tắm, Sinh đứng khỏa thân"... Phân tâm học gọi đây là hình thức "thị dục", một trong những cách thức giảm thiểu ẩn ức libiđô. "Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có con b...” - lão Kiền đưa ra "quan điểm" của mình và Đoài cho rằng "kể cũng phải".

2.2. Bản năng xâm hại

2.2.1. Xâm hại bằng những lời nói sướng miệng, những lời nanh độc

Ví dụ: Lão Kiền bảo Đoài: "Mày ấy à? Công chức gì mặt mày? Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!". Hay với Khảm, cậu sinh viên năm thứ hai: "Đồ ruồi nhặng! Học với chả hành! Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi...". Với Cấn, lão buông lời khen lại quá lời chửi: "Hay thật, cái nghề cạo râu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhưng hái ra tiền!!".

Đoài bảo Khiêm: "tôi nói chú khéo xử sự với người, mà nhanh xử sự với lợn" làm Khiêm "tức nghẹn họng, sùi bọt mép".

Khi quá giận bố vì mục sở thị cảnh bố nhìn Sinh khỏa thân, giận cá chém thớt, Đoài tát thật lực Tốn một cái. Lão Kiền hỏi "Sao đánh nó?". Đoài bảo: "Nó vô giáo dục thì đánh". Lão Kiền chửi: "Thế mày có giáo dục à?". Đoài nghiến răng nói khẽ: "Tôi cũng vô giáo dục nhưng không nhìn trộm phụ nữ cởi truồng".

2.2.2. Xâm hại bằng bạo lực

Khi Sinh bảo: "Tôi có ba đầu sáu tay đâu?" (vì làm quần quật mà vẫn bị Cấn hạch tội để cho nhà trên hết nước sôi), Cấn đã trừng mắt: "Nói năng thế à? Nhà này không có lệ thế! Mấy cái bát này sao chưa rửa?". Nói rồi, xô chồng bát, đi ra.

Khi biết sự thực là Cấn đã nhốt Tốn trong cái buồng ở cạnh nhà xí vì ''Nhà có việc, để nó ra vào bất tiện", Khiêm đã "cầm cái gạt tàn thuốc lá trên bàn ném vào mặt Cấn. Cấn kêu "ối" một tiếng rồi ngã lăn ra. Khiêm xô vào đạp túi bụi".

Khi nghe Cấn bảo thấy tận mắt thằng bạn của Khảm lấy cắp nhẫn của Sinh, Khảm bảo "Phải đến nhà nó mà đòi. Không trả thì đánh bỏ mẹ nó đi". Cấn xin đi theo Khảm. Lão Kiền bảo: "Mang theo cái búa!".

Khi biết chiếc nhẫn của Sinh chẳng phải bị mất cắp, lại nghe lão Kiền bảo "Vợ mày giấu trong cạp quần chứ đâu", Cấn đã vừa bảo “Đồ khốn nạn" vừa "tát Sinh một cái nảy đom đóm mắt".

Khiêm kể về công việc giết lợn. Hai tay cầm hai cực điện dí vào thái dương từng con, "éc" phát là chết. Bị mất điện, phải dùng xà beng quật vào gáy lợn. Gặp con lợn khỏe, quật chục cái không chết, gáy toét cả ra. Một ca Khiêm giết được hơn nghìn con lợn.

2.3. Bản năng thiện

Tác giả cố tình "mờ hóa", vượn hóa (H.Đ.K nhấn mạnh) nhân vật Tốn, con út lão Kiền. Tốn "bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng". Khi được Khiêm giải phóng khỏi buồng cạnh nhà xí, Tốn "chân tay mặt mũi đen nhẻm nhe răng cười" rồi "lết đôi chân què đi lên nhà"... Nhưng phải chăng ở nhân vật này lại tồn tại nguyên sơ tất cả bản năng thiện của loài người khi loài người chưa được "văn minh hóa". Tốn "không chịu được bẩn", "hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến", "Những ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú". Khi bốn ông anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc hu hu...

Đặt Tốn cạnh hai ông anh cử nhân Đoài và Khảm, người đọc được dịp cùng đối thoại: Phải chăng hệ quả của quá trình văn hóa hóa, văn minh hóabản năng thiện (gặp gỡ phương Đông: "nhân chi sơ tính bản thiện") của con người có nguy cơ bị triệt tiêu?

Và nữa, khi lão Kiền tắt thở, trên môi lão "thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền lành, trung hậu". Phải chăng, chỉ khi "mãn hạn làm người", con người ta mới được trở về với bản tính thiện sơ nguyên của mình?

3. Nhân vật đa diện (một hình thức nhại nhân vật "luận đề" truyền thống)

Một Lão Kiền suốt ngày cau có, chực cơ hội để xổ toẹt vào con cái những lời độc địa; bỉ ổi nhìn trộm con dâu tắm khỏa thân; nhẫn tâm khi đồng lõa, hợp tác với con cả nhốt con út bệnh hoạn vào buồng cạnh nhà xí để “giữ thể diện” với khách khứa... Nhưng lão cũng đáng thương khi thành thực "Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có con b...” "Làm người nhục lắm" "Mẹ cha mày, tao chỉ nghĩ thân tao, thì lũ chúng mày được thế này à?"... Và lão trở nên đáng yêu khi Rằm tháng Chạp, đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm, mua cho Tốn cái áo sơ mi, mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cả cho Cấn; khi sáng mồng một Tết áo quần tề chỉnh cùng vợ chồng con cả đi chúc Tết hàng xóm...

Một Đoài vai tính cách chẳng ăn nhập gì với vai xã hội. Là công chức của Bộ Giáo dục nhưng lại là kẻ vô giáo dục. "Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!" (như lời lão Kiền chửi). Giữa bữa cơm gia đình, có thể nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ trơ trẽn khiến chị dâu ngượng chín cả mặt. Ngang nhiên sàm sỡ, đòi ngủ với chị dâu, đòi đuổi anh trai ra khỏi nhà để chiếm chị dâu. Có thể đang khi chặt thịt gà, tay đầy mỡ, cứ để thế không rửa tay, chạy lại bàn thờ mẹ vái lia lịa. Lạy gì không lạy lại lạy mẹ phù hộ cho "đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub". Biểu quyết để bố chết khi lâm bạo bệnh. Thở phào "Thật may quá" khi nghe bố tắt thở. Gác lại đã việc nhận điện ông cậu chết vì đang dở cuộc vui, với lại "Các bác già chết đi có gì là lạ?"... Nhưng có lúc Đoài cũng tỏ ra tử tế "Con xin lỗi bố" (vì thông cảm cho con người đàn ông của bố, vì biết ơn sự hy sinh của bố sau khi nghe bố "nói chuyện đàn ông"). Đoài tỏ ra nghĩa khí bênh vực kẻ yếu "Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền!" khi anh trai sắp giở trò vũ phu với chị dâu. Đoài cũng biết giúp Tốn dọn nhà đón mẹ con Sinh về. Trong bữa tiệc mừng thành viên mới, Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói: "Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống (…) Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó"...

Một Khiêm, tay đồ tể "ngoại hạng", mắt "vằn tia máu đỏ", một năm "ăn cắp đến nửa tấn thịt" (theo phép thống kê của Đoài), và "hai trăm sáu mươi bộ lòng" (theo phép thống kê của Khảm), sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh trai khi ép anh trai nhận tiền công cắt tóc "Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi"... Nhưng Khiêm lại rất mực tử tế với chị dâu (trước mâm cỗ đêm giao thừa, Khiêm bảo: "Chị là bề trên, chị cứ vái ba vái trước còn đâu tôi khấn"; Khiêm bảo: "Năm mới, chúc chị Sinh sức khỏe, may mắn. Mừng tuổi chị một nghìn, chị cầm lấy để cho có lộc" khiến Sinh rớm nước mắt). Khiêm rất mực tử tế với đứa em tật nguyền là Tốn (đã nổi giận lôi đình khi biết anh cả chỉ vì ích kỉ muốn giữ thể diện mà có thể nhẫn tâm nhốt thằng em vào buồng cạnh nhà xí). Khiêm đã "tặng" cho Sinh và Tốn một buổi tối giao thừa vô cùng "cảm động". Khiêm cũng tử tế rất mực với bố. Bên giường bệnh của bố, khi đêm đã khuya, mọi người đã đi ngủ, "Khiêm vẫn ngồi đọc. Đọc đi rồi lại đọc lại. Đại ý bài kinh xin đức Phật giải tội cho người sắp chết, để nghiệp chướng cho người sống chịu, lời lẽ khó hiểu. Suốt đêm Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng"...

4. Tính đối thoại

Đối thoại giữa tác giả - nhân vật, nhân vật - nhân vật, nhân vật - người đọc, tác giả - người đọc. Nhiều "tuyên ngôn" của nhân vật ám dụ mọi người cùng suy ngẫm để rồi tự mỗi người đưa ra lời bình luận riêng của mình. Ví dụ:

Đoài bảo Khảm: "Triết học là thứ xa xỉ của bọn mọt sách. Chú có thấy cái chuỗi hạt nhựa đeo cổ của chị Sinh không. Nó là triết học đấy". 

Đoài bảo Khảm: "Em giai ơi, thằng ấy (tức Khiêm) là phúc thiện tinh của nhà mình đấy. Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giá trị gấp mười lần cái bằng đại học của tao với mày".

Lão Kiền bảo: "Quân trí thức bây giờ toàn phường phàm phu tục tử". Khảm cười: "Các cụ ngày xưa chẳng dạy: "Có thực mới vực được đạo" là gì?... Lão Kiền hỏi: "Bọn chúng mày bây giờ thì vực đạo gì?". Đoài ăn xong đứng lên vươn vai: "Cái này phải tranh luận đấy. Tôi đang ngờ cái ông ngày xưa nói ra câu ấy chẳng hiểu quái gì về đạo. Đáng ra phải nói "Có thực mới vực được tình". Tức là tình người đấy, đồng bào ạ".

Anh Minh (sếp trực tiếp của Đoài) bảo: "Cậu cứ làm việc cho tốt. Tớ ủng hộ". Đoài bảo: "Công việc nhà nước biết thế nào là tốt xấu?".

Khảm bảo Đoài: "Hai anh em mình mang tiếng có học mà Tết nhất đến, một bộ quần áo hẳn hoi không có".

Đoài bảo Khảm: "Có năng khiếu kinh doanh thích thật, còn các năng khiếu như văn chương, nghệ thuật, v. v... đều vô dụng cả”...

* *

*

Thay lời kết: “Rượu vừa ngọt vừa cay. Ai chấp nhận cuộc sống thì cầm lên cho. Cuộc sống dù khỉ gió nhưng đẹp tuyệt vời” (lời của Đoài). Đời con người ta "Khổ lắm. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm” (lời của Sinh)./.

 

HOÀNG ĐĂNG KHOA

*tựa của Hợp Lưu




 

 

 

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 2207)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
13 Tháng Tư 20175:58 CH(Xem: 16547)
Đã 42 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi. (1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng hoặc còn suy tôn ông Diệm thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng.
23 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 65987)
C uộc tranh đấu của Phật Giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 , trên bối cảnh liên hệ ngày một xấu đi giữa Bộ Ngoại Giao Mỹ và chính phủ Ngô Đình Diệm trong hai năm 1962-1963. Mặc dù chỉ nhấn mạnh vào cuộc tự thiêu bi tráng của Thượng tọa Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 [...] “Vài Ý Nghĩ Về Thượng Tọa Thích Quảng Đức” công bố lần đầu tiên một số tài liệu văn khố Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa và Phủ Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa, giúp vùi chôn một lần và mãi mãi loại sử văn suy tôn, nhớ ơn và đào mộ. Tạp Chí Hợp Lưu
11 Tháng Mười Một 20196:54 CH(Xem: 222)
Điệu nhạc đơn độc trỗi dậy, / người ca sĩ giọng khàn đục cất cao tiếng hát mê hoặc / căn phòng tối chìm vào cung bậc / đâu đó trên môi, trong tóc / nụ hôn còn hồng da thịt / tiếng kèn đồng ngày nào thổi xuyên miền ký ức.
11 Tháng Mười Một 20196:47 CH(Xem: 228)
Hắn nhìn chăm chú bức tranh treo trên tường, đôi mắt hắn lóe lên một tia nhìn đầy cảm xúc. Có lẽ hắn đang liên tưởng hình ảnh người thiếu nữ trong tranh là một người có thật ngoài đời. Người thiếu nữ có đôi mắt rất buồn, một nỗi buồn tận cùng của sự đau khổ, tuyệt vọng.
10 Tháng Mười Một 20199:24 CH(Xem: 273)
Không còn ai thắp ngọn nến hồng / Hạt mưa bay long lanh / Ấm áp tiếng cười ngọn gió / Ta mở cánh cửa mùa đông
10 Tháng Mười Một 20199:16 CH(Xem: 290)
“Thưa bố, mẹ Con đắn đo nhiều lắm, và phải tập trung rất nhiều lòng dũng cảm để có thể viết bức thư này… Khi bố mẹ đọc được những dòng này, con đã ở một phương trời xa, phương trời mơ ước mà con từng ấp ủ trong những năm túng quẫn đến cạn đường sống của nhà ta…
07 Tháng Mười Một 20198:36 CH(Xem: 419)
Trong thời niên thiếu, anh cũng như một số bạn đều mê đọc tiểu thuyết, đọc thơ của các văn thi sĩ tiền chiến. Trong các nhóm nhà văn đó thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã ảnh hưởng đến anh nhiều nhất. Văn của họ nhẹ nhàng, trong sáng, với những truyện tình lãng mạn lồng trong khung cảnh quê hương đơn sơ và lúc nào cũng man mác tình yêu. Truyện của họ, không lúc nào thiếu trong tủ sách gia đình của anh. Trong nhóm đó, Nhất Linh được anh coi như một mẫu người lý tưởng, một nhà văn, một chiến sĩ cách mạng. Nhiều nhân vật trong truyện đã in sâu vào ký ức anh. Họ không những đã trở thành một phần đời sống của anh mà đôi khi lại là những giấc mộng không thành. Trong những năm cuối cuộc đời, ông xa lánh cảnh trần tục, như một tiên ông quy ẩn bên dòng suối Đa Mê của rừng lan Đà Lạt.
05 Tháng Mười Một 20196:10 CH(Xem: 487)
Nỗi buồn em chưa bao giờ cũ / Em giấu nó như trai ngậm ngọc / Như cầu vồng sau mưa / Em giấu nỗi buồn từ sáng qua trưa / Chiều tà và đêm xuống ...
02 Tháng Mười Một 20193:46 CH(Xem: 518)
ngày chuyển điệu tiếng gọi mùa đông / cho dù sự gắng gượng không thể lóe sáng âm thanh / người ta bắt đầu chuẩn bị cho vẹn phần cuộc vui / chúng ta đang bị nghiêng trong vời vợi ngữ cảnh