- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tay thở hơi người

17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 110151)
hoaiziangduy_hl-content


 
Bạn có thấy đâu đó, người ta bày bán ba hình tượng ngồi riêng rẽ với hai bàn tay bịt kín hai mắt, bịt kín đôi tai, bịt kín miệng? Hay có lúc ba người ngồi chồng lên nhau theo thể hình tháp. Đứng nhìn lâu, có chút sảng khoái ở nghệ thuật mời chào. Nhưng đem về tập tành chủ nghĩa sống theo. Không thấy. Không nghe. Không nói. Bạn mới thấy nỗi niềm của từng nhịp thở ở đôi tay người.


Trước tiên người ta đẩy tôi ra chào trước. Hình thể tôi là một người nam, với hai tay bịt kín mắt. Đã bảo không muốn nhìn thấy gì cuộc đời nầy, sao lại phải đưa tôi vào thế tục? Chưa hết, độ hai ngày sau thì ông bạn tôi với hai tay bịt kín đôi tai, không nghe lý sự, nhưng mở mắt, lại đến trình diện. Chào hỏi thế nào, ông vẫn không nghe, như không có chút không khí nào dẫn truyền cái âm thanh đưa tới. Mãi đến ông bạn sau nầy ra đời đến nhập bọn với đôi tay bịt kín miệng. Tôi mới ngộ ra cái triết lý cuộc đời nầy. Chính mình không thấy người, mà cũng không thấy ta.
Nói lòng vòng tới lui, bộ ba chúng tôi là ba hình tượng không thấy, không nghe, không nói. Cái thuở xa xưa, đời tam hoàng rồi đến thời nhiễu nhương ốm đau loạn lạc. Người ta chung hưởng niềm vui, chúc tụng nhau bằng ba ông Phước, Lộc, Thọ trong nhà trong cửa, yên ấm niềm tin. Và rôì trong thời buổi hôm nay ở thị trường chứng khoán lên xuống. Cha đẻ chúng tôi, hay nói rõ ra, anh chàng tuổi trung niên, áo quần nghiêm chỉnh, là nghệ sĩ, nhưng không chút bụi đời, đã tạo ra một lúc ba anh em tôi trình diện đời thường. Cái công trình nầy tôi là người chứng kiến (dù hai tay bịt mắt), loại nghệ sĩ như anh không phải sống cho mình. Anh làm ra hình tượng cung cách triết lý để mị lấy niềm ngưỡng mộ nghệ thuật. Nhưng đàng sau anh, người thuê mướn anh làm công việc tim óc đầy tính sáng tạo nầy, lại là người chủ nhân tiếp cận thị trường. Có điều, phác hoạ ban đầu vẫn là người nam, chứ không hình nữ. Theo anh, bước tiên phong của nghệ thuật vị nhân sinh nầy. Hình ảnh người đàn ông đơn giản, trầm mặc, chân thật, có chiều sâu hơn. Nắn tượng nữ nhân cần thiết ở nhan sắc, đường nét thân thể, mẫu mã cho người chế độ ăn kiêng nhìn theo, hấp dẫn như người mẫu thời trang, hay miss university cuốn hút kiêu sa. Là vậy, cho nên khi được ưu tiên về phái tính, bọn đàn ông từ đất liền lục địa, vui vẻ dắt dìu nhau ra xứ người. Nói theo triết lý nhân gian. Hình ảnh chúng tôi là biểu tượng cần thiết, cho nghệ thuật sống biết người biết ta, biết lúc, biết thời. Khổ nổi mỗi phong cách chúng tôi, nếu nhìn theo chiều hướng khác, như một mệnh nghiệp. Dưới mắt đời thường, mỗi người mang một thương tật đối diện cuộc đời.

Ngày đầu tiên ra mắt ở buổi cuối tuần. Khi nhìn chúng tôi ở quầy trưng bày. Tiếng cô gái nói với người tình về tôi.
- Anh thấy hình nầy không ?.
- Thấy có vẻ rầu quá. Người đàn ông nói
- Không đâu, nghệ thuật sống đấy. Cô gái trả lời.
- Làm cái gì vậy?
- Thì bịt kín mắt, khỏi nhìn thấy cho khoẻ thân
- Kể cả cái gần muốn nhìn, cũng không nhìn hả?.
Nghe cô nói mà tôi sướng cả lòng. Biết bao người bịt mắt như tôi, đâu cần nhìn cũng tưởng được cái e ấp của trăm thân xác con người khoe của, ra mắt đại gia để kiếm tấm chồng xứ người. Đôi khi nhãn không thấy, nhưng nhĩ tinh thông lại đoán được cái chất giọng để biết con người đối diện, thật tình hay khoe khoang gạt gẫm. Nhưng rồi người đưa chúng tôi về nhà, không phải đôi vợ chồng son ngắm nghiá ban đầu. Cơ duyên từ người đàn ông bên cạnh, đứng nghe đối đáp tình cờ. Ba chúng tôi theo anh chàng về nhà, trang trọng ngồi trên cái kệ đặt ở phòng khách. Mỗi ngày tôi nghe ông bạn kề bên báo cáo ít nhất một lần, nhiều lần, lúc anh chàng đờ đẫn nhìn chúng tôi. Hình như anh muốn nhập tâm cái chủ thuyết ba không vào đời sống, con người mình.
Nghĩ cái gì vây? Hỏi nhưng không có tiếng trả lời ở đồng bọn.
Còn thâý hay không, tôi cả quyết không bỏ tay bụm mắt xuống.
Kể từ ngày bước ra chốn hồng trần, kề cận bên lúc nào cũng có hai người cho đủ bộ tam sên. Nhìn bên ngoài tưởng có vẻ kết đoàn, đừng nghĩ lầm ý bên trong theo dõi. Không có gì hết. Cái may mắn khi ra thị trường, bộ ba được tôn vinh học thuyết sống làm người. Chính vậy chúng tôi không muốn thua lẫn nhau, kiên quyết giữ vững lập trường ba không, mỗi người tự một không với chính mình.
Người bạn nhỏ cùng chúng tôi trong nhà, thật tội nghiệp. Đúng là mỗi người một phận số, khi nghe qua mấy lời tâm tình gia cảnh. Thì ra kể từ ngày vợ mất việc làm, sau kỳ nghỉ vacation . Kế đến anh cũng mất nhà vì thiếu hụt tài chánh. Cho nên để thích ứng với hiện tại. Một người làm nuôi ba miệng ăn lớn nhỏ, thêm chi phí tiền gởi trẻ. Anh kế hoạch, lấy tiền nuôi tình. Trước hết mỗi người tự hy sinh bản thân. Chương trình đưa ra bàn bạc. Vợ con lên máy bay về quê hương. Sống mướn nhà, mướn thêm người giúp việc. Con đi học trường mẫu giáo ( bên đó gọi là trường mẫu giáo quốc tế) nói tiếng Anh, như sống ở nước ngoài. Về nhà, qua lại hàng xóm nói tiếng Việt, khỏi sợ quên tiếng mẹ đẻ. Bên nầy anh cấp dưỡng hàng tháng, vẫn rẻ hơn anh phải làm chủ một gia đình có nhà. Làm người, nhất là tình nghĩa phu thê, xa vắng ai lại không buồn, nhưng biết sao hơn. Chỉ mong kinh tế khá hơn, có nhiều việc làm, trở về sống đoàn tụ. Bao lâu, hay còn lâu hơn nữa thì tính sau. Vợ lo mất nhà, mất credit. Anh an ủi, cái ngày anh cưới em có credit gì đâu, lúc chưa có bảo hiểm sức khoẻ, vẫn sống, vẫn có tình yêu, hạnh phúc gia đình.
Ông bạn kề bên cả ngày bịt kín lấy đôi tai, đêm mấy lần bỏ xuống, có trời mà biết. Ông ra vẻ bàng quan thế sự, tự cho mình cao hơn tôi một cấp, như thể chúng ta chia ra ba bậc cao, trung, hạ trí. Cái tình anh em ruột thịt chung một tác giả còn vậy, Huống gì ở ngoài tụ lại. Làm sao không có lớp lang tranh giành lớn nhỏ. Ai chỉ huy ai? Ông thấy rất rõ, giả đò bịt tai không nghe. Thật ra theo tôi. Nói không phải suy bụng ta ra bụng người. Ông lại nghe nhiều chuyện kín hơn ai hết.
Chuyện gì vậy?
Chuyện trong sở anh chàng đó.
Lúc Monika đưa điện thoại cầm tay đang nói dở dang cho Mark. Tôi không tin đó là thật. Không biết đầu dây bên kia cô nàng nói tiếng Anh thế nào. Mark mừng rỡ, nói chậm, hình như cho dễ hiểu trong cuộc đối thoại. Khung cảnh diễn ra thật nhanh gọn, sau lời giới thiệu mấy phút trước đó. Trả điện thoại lại cho Monick. Mark nói cho người chung quanh đang nghe ngóng. Cô em muốn gặp mặt càng sớm càng tốt, Monik cười phân bua với mấy người Việt làm gần. Vậy là xong. Cuộc mai mối thật chớp nhoáng. Anh chàng người Mỹ thứ thiệt, chứ không phải người Việt mang tên Mỹ như cô Monick. Vậy là Mark bốn mươi bốn tuổi, mắc câu cô cháu gái Monick, hai mươi bốn tuổi đang ở Việt nam muốn sang Hoa Kỳ.
Tự dưng. Người bịt mắt là tôi, nghe xong thấy khó chiụ, áy náy. Sao người ta dễ dàng lấy nhau vậy? Tình yêu chỉ thoáng qua qua điện thoại, chỉ cần được ra đi, phó mặc ngày mai thế nào. Cái thuở thời tôi. Trai gái quen nhau, chưa dám nắm tay, nói gì đến chuyện hôn nhau, hôn nhân. Cuộc đời với họ thật nhỏ nhoi vô nghĩa, thân xác tình tự coi như chuyện bình thường. Hay chính mình tự hỏi. Mình không có tình yêu nên không biết. Mắt bị tay che có ai thấy đâu, để lọt vào mắt xanh của giai nhân nào.
 Một người chắt lưỡi, sao nhanh vậy. Cô bạn nhỏ đứng gần, góp lời. Còn đỡ hơn mấy dịch vụ khảo sát trinh tiết, lo tiền mới được bán đi làm vợ người nước ngoài. Nghe mà tưởng như ở trong nước là không sống được, cá ra ngoài mới có nước cá lội. Mà biết đâu đó là thật.
Thêm mấy lời an ủi. Dẫu sao gần với nhân vật, biết ít nhiều về họ, đở hơn là không biết.
Thật ra có biết rõ gì đâu. Đàn ông như Mark hơn bốn mươi tuổi đầu mà chưa có người yêu hay cặp kè mới là chuyện lạ. Mark lúc nào cũng có cái nón trên đầu. Cái tính anh thích phục vụ bằng cách mua thức ăn nhiều phần để sẵn, mời người khác ăn. Ai trả tiền Mark nhận. Không đưa, ăn cho sướng miệng, chả sao. Mark vui vẻ như thể làm ra tiền, phải chi tiền bớt cho thiên hạ. Nào hỏi trước, ăn không? Order rồi đi lấy về, hay sẵn một công, hai chuyện?. Nào soạn nhạc, băng, dĩa cho mượn, phim người lớn, phim hoạt họa Mark có đủ cả. Nói chung ai cũng nghĩ Mark là người tốt bụng. Lúc đầu tôi tưởng anh chàng nầy có đạo, thích làm phước kiểu mấy ông bà già hồi trước. Nhưng sau, với mấy chiêu diễn ra đi kèm, không biết hắn muốn giở trò khỉ gì? Nghĩ đến trò khỉ, thì y như rằng.
Một hôm Mark xuất hiện đầu giờ làm, đi lòng vòng, đội nhiều nón đặt chồng lên nhau, thêm con khỉ nhồi bông tay chân khẳng khiu quấn lưng. Hắn thích làm trò, lần nâỳ, lần sau thay đổi cách diễn. Có điều không bình thường ở hắn ta chăng? Và như vậy cái tên phát âm chữ Mark nâỳ, hẳn phải gắn liền chữ Mác dây của âm tiếng Việt? Một lần hắn ta vấp ngã, cái nón trên đầu rơi xuống, mới thâý cái đầu hói. Đầu hói là chuyện bình thường ở xứ nầy, tắm nước nóng thì hay bị rụng, bị hói. Nhưng cái đầu hói của Mark trông dễ sợ ở nước da trắng xanh, lâu ngày bị đậy kín, thiếu không khí, thiếu ánh sáng cho da để thở. Tôi so với một lần, nhìn thâý mình con chuột cống lột da, luộc trong cái lon guigoz mà phát khiếp.
 Mẫu người đàn ông không lấy gì đẹp trai lắm, không hiểu sao đối tượng bên nhà vừa nói ra, chưa thấy mặt là đã chịu liền. Như vậy phải nói là nàng Monick ở đây chọn dùm mới đúng. Nồi nào úp vung nấy? Nồi chưa vào khuôn, nhưng nấp đậy đã sẵn sàng.
Trước đây không nghe Mark nhắc chuyện đàn bà, bảo là không thích. Vậy mà bây giờ Monick đưa hình cho coi, hắn ta ok liền.
Chuyện thấy lạ, thật ra cũng không lạ. Bởi cháu rể Mỹ và dì mai mối đều cà tửng như nhau. Monick tính khí muốn nói gì thì nói, chỉ có mối tình hờ mà thật, chung chăn với anh chàng người Ấn trong nầy hơn mười năm qua, đồng nghiệp nào cũng biết. Mối tình vào sở làm như chim liền cánh, cây liền cành, quá quen thuộc. Thấy khó chiụ năm đầu, năm sau thấy dễ, mười năm sau dễ hơn chuyện bình thường. Đèn nhà ai nấy sáng.
 Mọi người biết, chồng Monick cũng biết. Khi người đàn bà đã yêu đã sống liều với tình yêu, thì người đàn ông đâm kẹt. Hoặc làm nam nhi đại trượng phu xảy ra án mạng tù tội, hoặc chấp nhận ly dị. Lý lẽ nầy cô em chồng Monick cho hay. Anh mình đã từng quì dưới chân kiều nữ, van xin hồi tâm trở về. Mấy lần không xong, đành nhẫn nhục dùng chung, khỏi phải tốn tiền cấp dưỡng khi ly dị. Tưởng mẹ vậy, con cũng một chèo. Nhưng không, có gặp trẻ nhà Monick mới biết. Nàng dạy con lễ phép, lo cho chúng từng chút một. Có điều yêu thương chăn gối cho bản thân, thì cùng lúc hai người đàn ông mới thỏa. Bên nào nhiều ít, nặng nhẹ, chấp nhận hết không tính lỗ lã. Chỉ có anh chàng Ấn thì lời cả vợ nhà, lẫn bồ sở. Có người nói chắc thằng nầy bản lãnh, đầy đủ kỹ thuật Sumatra. Nó không nhàm chán cô nàng, vậy thời Monick cũng điệu nghệ không vừa. Nghe qua, thử nghĩ mà xem, xứ sở tự do nầy cái gì lại không thể xảy ra?.
Chuyện hứa hẹn tưởng chơi, Mark tiến tới thật. Anh đồng ý chi phí đi về, làm thủ tục cưới hỏi. Dì Monick ra điều kiện, về bên đó, đêm hai người không được ngủ chung, theo truyền thống lễ giáo. Chờ qua đây, sau lễ cưới mới được phép. Thấy Mark cười mỉm chi, như thể không ngủ chung ban đêm thì ngủ chung ban ngày có sao.
Chuyện xảy ra trước mắt Bình, là người đem ba pho tượng chúng tôi về. Bình có chút ngẩn ngơ. Một người đi, một người về, như câu hát! Thấy tủi buồn cho hoàn cảnh mình, khi nghĩ giờ nâỳ nơi chốn xa nửa vòng trái đất, vợ con anh một thân một mình. Anh nhớ hai đứa nhỏ quá.
 Bình bước lại gần Monick đang đưa hàng vào máy. Lúc nầy là lúc anh có cảm tình với những ai về quê hương, hỏi thăm chuyện người mà thấy gần gũi tình cảm ở mình.
- Tuần tới Mark về VN thật hả? Chuẩn bị chưa, mau vậy?
- Có khó gì, một cú phone là xong.
- Cô cháu thế nào mà không lấy chồng bên đó.
- Anh hỏi khó nói quá.
- Tuổi nầy mà không có người yêu?
Monick có vẻ ngần ngừ. Thấy có người tình Ấn Độ kề bên, sợ hiểu lầm, Bình tránh nói tiếng Việt. Nhịn không lâu, Monick thẳng thừng.
- Bên đó, nó có chịu kép nào đâu, bà chị tôi sợ cái vụ đó quá, qua đây rồi duyên ai nấy gặp, biết đâu ở xứ sở nầy, con người nó đổi hệ lại theo thời tiết.
- Cô cháu làm gì bên đó?
- Thì cái gì làm được để sống là làm.
- Tiếng Anh cũng khá hả?
- Học đại học rồi, không có tay trong thì không xin làm hãng ngoại được.
- Biết chọn lựa nầy có hạnh phúc không, sao vội vàng vậy?
- Qua được cái đã, còn tụi nó có ăn nằm được hay không, tính sau.
- Có gì bí ẩn trong nầy?
- Chuyện thầm kín mà, vào cuộc mới biết.
Vậy đó suốt cả câu chuyện dài, tóm lược như nội dung truyện tình cực ngắn. Không biết ông bạn bịt đôi tai có nghe lỏm được chút nào không? Thấy thái độ ông có vẻ ung dung tự tại, như thể là chuyện thường tình cười mỉm.
 Nghe không ông bạn? Tôi hỏi dò tình hình. Làm sao biết là ông không nghe?
Không có tiếng trả lời.
Ông không nói thì làm sao có âm vọng để nghe.
Phần Mark, anh hí hửng chờ hai tuần tới ra đi, cùng người mai mối. Trước hết anh để ảnh cô vợ sắp cưới sau một ngày đính hôn, trên chỗ anh làm. Hình chụp cô bé cũng xinh, tóc cắt ngắn, ngổ ngáo. Mark lên kế hoạch về sau, nghĩa là bán nhà, xin thuyên chuyển về miền quê , ít người lui tới. Hắn nói đó mới là chốn yên thân, cắt đứt mọi liên lạc quan hệ, chỉ còn có hai người, mấy hệ cũng thành một hệ.
Nghe qua, Bình tưởng tượng đến nỗi cô độc ở người con gái buổi đầu đến xứ người, rồi đây hào quang mơ mộng biến mất.. Đoạn đường chiến binh nầy ai không trải qua. Thôi thì duyên ai nấy gặp, mệnh số đương thời có khác gì những lo toan, không gì là của mình trong xã hội nầy.
Ý nghĩ cuối của Bình, coi vậy mà đúng ý cái tượng người bịt miệng nầy quá. Như thường lệ, lúc mà Bình ngẩn ngơ nhìn lấy ba chúng tôi, ông bạn thứ ba bên cạnh tôi lại gật gù, như thể có đồng minh. Ông không nói, hai tay còn bịt miệng như sợ người ngoài nhìn vào, hiểu là ông không thể nói.
 Không tự nhận mình là ta, ta không làm, không nhìn, không nghe, không nói. Tất cả không phải là ta. Bởi nếu là ta, ta đâu muốn làm cho đời mình đau khổ. Nếu là ta. Ta đâu muốn làm những oan khiên trái ý đến với cuộc sống mình. Trong ta lại không có ta. Không có gì hết.
Đoán biết cái luận thuyết lòng vòng, khi ông che miệng cuời. Tôi bịt mắt vẫn thấy hành động của ông. Chỉ tiếc cái ông bạn bịt tai không nghe. Chuyện cần nghe lại không nghe, giương mắt nhìn trân. Như thể cuộc đời nầy ông chưa từng đưa mắt nhìn trộm. Trong ba chúng tôi. Ông bạn bịt miệng không nói, là người có khả năng lưu loát nhất, bởi lúc ban đầu tạo ra ông. Người nghệ sĩ đã cho ông vấp cà lăm trước, cho ông chua chát với lời đàm tiếu, chỉ trích chê bai, trước khi đưa tay bịt miệng, thề với lòng không nói.
 Không nói là không nói to, chứ nói nhỏ, nói thầm một mình ông nghe. Ai biết? Làm sao ông không hé một chút để thở?
 Ông là hiện thân của người nghệ sĩ tạo ra chúng tôi, trong lúc cái hình tượng bịt mắt ở tôi lại là nhân dáng của người chủ nhân gợi ý cho anh làm. Anh là người có tai để nghe, có mắt để thâý. Anh là người có hoài bão lớn, làm chính trị là chính mình làm để trị. Làm văn học hiện đại, là làm những bài thơ học văn. Càng siêu việt, bí hiểm càng tốt. Đã gọi là tự do trong thế giới tự do. Người viết không hiểu, làm gì người đọc hiểu?. Thử hỏi có ai lập lại, ngâm nga được gì khi đọc qua? Phải thật vô tư, lột xác ngôn ngữ, để rồi chính trong cái giao cảm của luồng tư tưởng “vô tư” đó. Người đọc cũng “vô tư” thưởng thức toàn phần, đọc để mà đọc. Tất cả là nỗi trống không, bận lòng chi nhớ tới.
Đối với anh, sống đời nghệ sĩ. Anh biết tự trọng không muốn người khác biết, buồn cái buồn dùm mình, thấy hoàn cảnh mình trong đời sống người khác. Do vậy khi chủ nhân muốn thực hiện cái đề tài nghệ thuật tạo hình. Anh đã gán ghép nhân dạng điệu bộ, người mà anh không muốn nhìn đó vào tôi, người với đôi tay bịt mắt. Anh không muốn nhìn người chủ hay không muốn chủ nhân thấy được anh. Anh cho bịt mắt, sản sinh biết bao người bịt kín đôi mắt, đưa ra thị trường, đưa đi ta bà khắp nơi Âu, Á, Phi châu, phố phường, ngõ hẻm, thị tứ thế giới đại đồng.
 Chính tôi là người trong cuộc sản sinh, mới hiểu được anh. Vả lại, trên bàn tròn họ muốn đưa người bịt mắt ra trước. Làm như vậy anh mới đưa tiếp người bịt đôi tai, khỏi nghe lời chỉ trích phê phán cá nhân mình.
 Không cho nghe, là phải nghe một chiều khi đưa mắt nhìn. Đã không nghe là làm những chuyện lầm lẫn, hay khá hơn là hiểu lầm, ngộ nhận.
 Bịt kín lấy đôi tai khỏi nghe tình nức nở. Một câu thơ anh ngâm nga trong phút bốc đồng sáng tạo ra ba anh em chúng tôi. Tự mình nói tốt cho mình. Có phải là hạnh phúc hơn chăng?
Lấy ví dụ ở Bình, cái anh chàng khốn khổ nhà cửa ly tán vợ con. Người có tâm hồn văn nghệ, mới đưa đón chúng tôi về trang trí trưng bày, sống với chủ nghĩa bình thân. Khi người ta mệt mỏi, họ muốn nhìn chúng tôi, an ủi cho cái lý bảo hòa. Bây giờ đây một căn phòng nhỏ trú ngụ trong một căn nhà lớn. Anh thu mình lại như xã hội đợi chờ vươn mình đứng dậy. Không thấy, không nghe, không nói. Cứ bình tâm mà sống. Như con ngựa bịt lấy đôi mắt, không nhìn nghiêng ngửa, không có tiếng hí. Con ngựa của anh hùng ngã ngựa.
Đêm nay khi anh về, đậu xe ở trước đường, băng qua nhà. Anh dừng lại lắng nghe tiếng hót của một loài chim rất lạ. Chưa bao giờ ở thành phố trên xứ Mỹ, anh được nghe một giọng điệu của chim lúc nửa đêm như thế nầy. Không dưng, anh hồi tưởng ở quê nhà thuở ấu thời bên hàng cây, bóng khuất. Mới đây hơn mấy chục năm qua, sống nơi xứ người, vợ muộn, con nhỏ, bao nghịch cảnh khó khăn đương đầu, rồi cũng qua đi. Hôm nay còn, mai mất. Ai cũng hiểu điều đó, nhưng ở đây thật tình mà nói, không có gì là của mình, giữ cho mình, ngoài một tấm lòng thiết tha chân thật. Cuộc sống anh đơn độc, kể từ ngày cha anh nằm xuống trước khi chiến tranh kết thúc. Anh lớn lên ở một đời sống mới thiếu thốn mọi mặt. Vì kinh tế gia đình, lý lịch xã hội. Anh đã trải qua năm tháng thanh niên xung phong ở Bình Long với rừng cao su, trồng cây cạo mủ. Ở đó anh đã gặp những người di dân từ miền xa đến, tất cả hòa nhập trong cuộc sống lao động cực khổ, lý tưởng nói theo lời dạy rập khuôn. Cho đến ngày mẹ gọi, anh trốn về. Cha anh, người lính không cấp bậc, mồ mả người chiến sĩ vô danh bị san bằng. Tiếng chim hót ngày đó. Tiếng chim hót lạ kỳ chỉ có tình thân, chỉ có nỗi cô độc không biết mặt, mới cảm thông được tâm trạng của người đứng trong nghĩa trang lạnh lẽo tiêu điều. Qua rồi năm tháng cũ. Kể từ ngày anh xuống con đò nhỏ ra khơi, hòa vào giòng nước lớn. Qua rồi tình thân người mẹ khuất đi. Mẹ chọn lựa tự do cho con ở phương trời xa, hơn là tham dự vào cuộc chiến trang láng giềng. Cuộc chiến mà ở thời nào, mẹ cũng không muốn đợi chờ, chịu đựng đau khổ, như ngày xưa mẹ đã mất chồng.

Bây giờ nghe lại tiếng chim kêu, chạnh nhớ về tình hoài hương thời cũ. Tưởng rằng đã quên, đôi khi đánh thức thật tình cờ, cái sâu thẳm che dấu ngủ quên. Cho nên khi nhìn thâý ba hình tượng. Anh thấy lý thú thật lòng. Anh muốn gởi gắm với vợ anh điều đó nơi chốn tạm dung quê nhà. Sống là sống vậy để yên thân. Nhưng chắc gì vợ anh hiểu. Người vợ trẻ chỉ sống với thực tế nuôi con. Còn giữ lại đây. Hình tượng chỉ là phù phiếm trong đời sống thực nầy.
Nghe anh bạn trẻ tâm sự, phê bình. Bộ ba chúng tôi đòi hỏi được để tay xuống. Hai bàn tay trong tư thế bất động nầy, đã hàng bao lâu. Một, hai, ba năm như bạn nhìn thấy ở nơi nào đó, có chúng tôi xuất hiện. Cứ tưởng tượng, làm một công việc cùng một thao tác mỗi ngày, mỗi buổi, mỗi năm hay cả một đời để được lãnh lương theo nghề nghiệp. Bạn không thấy thích thú, huống gì ở chúng tôi?
 Mỗi một hình tượng cứ tạm cho là một chủ thuyết sống, theo cách nhìn, quan niệm của mỗi người. Người nghệ sĩ tạo ra chúng tôi. Anh ấy chỉ với một lý thuyết suông, bắt chúng tôi làm. Người tạo ra không làm, không hiểu những khổ tâm chúng tôi nhận chịu. Không thấy được những bất mãn nội tại, những ấm ức khuyết tật trên hình hài. Do vậy đôi khi chúng tôi biết nhìn, biết nghe, biết nói, những điều không nên nhìn, không nên nghe, không nên nói. Lúc đó là lúc trong khoảnh khắc, chúng tôi không kềm hãm được chữ Nhẫn, để tay buông xuống trước khi trở lại vị thế cũ.
Nếu ở đời thường, bạn muốn tất cả thoải mái nhẹ nhàng, thì sao không để chúng tôi Buông. Khi cánh tay chúng tôi hạ xuống, chúng tôi trở thành một con người bình thường, đi đứng nằm ngôì, sống đời sống bạn, cùng chung một dòng đời. Tiếc thay cái anh chàng nghệ sĩ tạo hình bây giờ ở đâu?. Hắn còn hậu nhân tiếp tục những sáng tạo nào khác? Hay bây giờ chính người tạo ra chúng tôi, đã ra người thiên cổ. Vậy thời hỡi ôi, tai kiếp nầy một đời chúng tôi gánh chịu. Chỉ còn cách tuỳ theo mưa thuận gió hoà, đưa chúng tôi đi xa, đi thật xa. Khi mà cơ duyên gặp người đàn bà( chờ như trong chuyện thần tiên), một giống cái, một người nữ. Phải là người nữ, chỉ có giống cái mới trị được giống đực, theo luật âm dương, lồi, khuyết. Người nữ mới thực mang một bụng lý thuyết nói nhiều, đi đôi với thực tế, đánh đổi cái lý mà không thuyết ban đầu. Trời sanh người đàn bà có đầu óc lo toan gia đình nhà cửa, quét dọn. Một đầu óc nhìn gần, nhìn trước mặt. Chừng đó. Không nhìn thâý là người mù, không nghe thâý là người điếc, không nói được là người câm. Lúc đó cả ba chúng tôi trở thành những tượng người bất khiển dụng, sống với lòng xót thương của người chung quanh. Và với đất nước nầy, chúng tôi có quyền lợi, được hưởng trợ cấp tàn phế suốt đời. Còn bây giờ, phải đánh động lương tâm với ai, tiếng nói của những sinh vật bị bán buôn, những sản phẩm phục vụ đời thường

Câu chuyện đến đây, tiếc là không có đoạn kết. Cái bản thảo tìm thấy lúc mà từng tờ rời tứ tán, không biết cái còn lại đi về đâu.
Tôi, tác giả ký tên cuối bài. Đọc lại thấy truyện thì ngắn, nhưng kết cấu có nhiều nhân vật, nhiều tình tiết bỏ dở nửa chừng, như điều không thể, không ai sống biết ở ngày mai. Nhìn lại thực tại gần bên. Tôi nghĩ đến anh bạn láng giềng xa gần, rồi gần xa.
 Sao tôi phải dùng mấy danh từ đảo đi đảo lại nầy? Anh bạn tôi đề cập ở đây. Anh là người hoàn toàn trái ngược với ba hình ảnh đôi tay bịt kín trên. Anh thấy, biết, nghe nhiều chuyện, thích nói khi có người chịu nghe. Chỉ cần ngồi lại, nhàn nhã uống trà, uống bia. Điểm đặc biệt là anh không thích đi làm nhiều giờ, nhiều việc, nhiều tiền như người khác. Anh không muốn cực thân, không có ước vọng ham muốn, không cần gì cho tương lai bản thân mình. Anh sống tà tà qua tháng qua năm, một thân một mình. Hơn ba mươi năm trên xứ Mỹ, không vợ. Không thâý có mối tình, hay bóng dáng người đẹp nào anh đeo đuổi. Dạo trước kinh tế còn dễ thở, thở mạnh. Anh đi làm, có đủ trả tiền nhà khoảng ba tháng là anh nghỉ, đi kiếm bè bạn tâm tình chuyện đời, vui thú lấy thân mỗi ngày. Ở đâu anh cũng biết, cũng quen, cũng có giao tình thân thích. Ở đâu anh cũng dễ làm thân, làm khách cơm một buổi qua ngày. Sống qua ba tháng tiền nhà, anh ở lì tháng thứ tư, không đủ tiền trả nữa. Gia chủ nếu để ở thêm, càng kẹt, thôi thì xí xóa tháng thứ tư để anh đi nơi khác. Lúc nầy là lúc anh bắt đầu đi kiếm việc làm, làm bất cứ gì qua ngày để có tiền chi. Vậy rồi đủ ba tháng, anh lại lời một tháng thứ tư. Dần lân như vậy cả mấy chục năm anh sống thảnh thơi, không nghe nói tới chuyện gia đình, song thân ở đâu cả. Với anh, sứ xở nầy không sợ cái ăn, chỉ lo cái ở.
So với khát vọng của ba người với đôi tay bịt kín. Anh là người được tự do nhiều mặt, sống cho chính mình nhiều nhất. Vậy mà có thấy anh làm gì, lý tưởng gì?. Trong lúc tình cảm ở nhân vật nữ dạt dào tìm kiếm đàn ông, để có chỗ chở che nương tựa, thì ngược lại anh là người cô độc. Anh sống vừa đủ trong cái hạnh phúc nín thinh lặng lẽ, bình thường. Hay chính anh, anh cũng không biết mình có điều gì phải làm. Nếu quả thực như một nét dung dị tầm thường trong cuộc sống, thì hình ảnh, người thật, hay tượng người, cũng cùng một phận trong cảnh giới, nói dùm tác giả ở nghệ thuật tạo hình.
Tôi muốn tìm lấy anh, coi anh có đoạn kết cho chính đời sống mình chưa? Từ đó tôi sẽ xếp lại câu chuyện của ba pho tượng. Hay bạn viết tiếp dùm tôi, số phận ở năm tháng dài lâu, của những con người vui sướng, cùng khổ, giai cấp khác nhau. Bạn có thấy hư cấu quá chăng? Không đâu, rõ là mấy mảnh rời ở thực tế trước mặt. Những tiếng nói nầy ở đâu lẫn trong đời sống thật.?. Có bao giờ bạn nhận thức chính mình, sống đời sống mình, ở cõi người ta? Hay lúc nào cũng là cơn dĩ lở nuối tiếc thời gian qua. Huống chi đời người chỉ dài bằng một hơi thở ngắn.
Cứ tưởng trước mắt một khoảng trống không. Một khoảng trống, không chờ không đợi. Không còn gì. Không có gì hết? Nếu cảm nhận nhân vật từ tác phẩm bước ra cuộc đời sống chung cùng. Thì chờ chi không bắt tay cho xong phần cuối.
 
HOÀI ZIANG DUY
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 281)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 408)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 486)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1030)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 904)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1027)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1597)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1626)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1527)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1530)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10440)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17252)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16333)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16783)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1027)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1625)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1639)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2401)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 408)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 903)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1526)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1359)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 281)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1029)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1597)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1529)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 486)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3140)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3062)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3571)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2188)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13949)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30076)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36148)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11639)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13095)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2899)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4103)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4581)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5100)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8333)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7731)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10658)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.