- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Phỏng Vấn Cao Xuân Huy Và Tháng Ba Gãy Súng

23 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 112164)

caoxuanhuy_0_147x300_1Tiểu sử:

09-1947 quê nội Bắc Ninh, quê ngoại Hà Nam.

10-1954 di cư vào Nam.

02-1968 đi lính.

03-1975 đi tù.

09-1979 ra tù.

12-1982 vượt biên.

10-1983 đến Mỹ.

1984 định cư tại Nam California.

 

 

Lê Quỳnh Mai: Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt, và văn học Việt Nam hải ngoại vẫn còn xoay quanh chuyện chiến tranh. Theo nhận xét của một số người, đó là một việc làm nhàm chán, gây mâu thuẫn và không lợi ích gì cho người đọc. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Cao Xuân Huy: Tôi không hiểu chữ "mâu thuẫn", mâu thuẫn với cái gì chứ? Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến toàn diện, bị bức tử về mặt quân sự chưa thể coi là chấm dứt. Bị mất đất chưa thể coi là chấm dứt. Bây giờ, nếu có thể gọi là cuộc chiến, thì về văn hóa và chính trị. Cô thấy đấy, mục tiêu tự do dân chủ và nhân quyền vẫn chưa đạt được.

Và,

Tình yêu, cũng như chiến tranh, là hai đề tài muôn thuở của con người. Văn chương ngoại quốc nói về chiến tranh, viết về những trận chiến gần, xa trong lịch sử, chúng ta vẫn thích đọc. Vậy thì tại sao, người Việt Nam viết về chiến tranh Việt Nam lại nhàm chán? Có điều, vấn đề là viết dưới hình thức nào. Nếu viết tiểu thuyết thì tác giả có toàn quyền tưởng tượng, nhưng nếu là viết hồi ký chiến tranh mà tưởng tượng thêm thắt, viết không đúng, bẻ cong sự thật với mục đích tuyên truyền hay chạy tội, thì không những không lợi ích chẳng riêng cho độc giả, mà còn cho lịch sử.

 

LQM: Vậy Tháng Ba Gãy Súng có nói thật không?

CXH: Tháng Ba Gãy Súng là tự viết cho mình để ghi nhớ lại những điều không muốn quên.

 

LQM: Hồi ký Tháng Ba Gãy Súng cho thấy tác giả là một người lính. Trong cuốn Nếu Đi Hết Biển (Trần Văn Thủy) thì Cao Xuân Huy là một người tù. Ông có thể nói thêm về hai tác phẩm trên và hai vai trò Cao Xuân Huy chăng?

CXH: Tôi là dân Bắc kỳ, giống như rất nhiều gia đình di cư khác, gia đình tôi cũng bị "cắt đôi" khi hiệp định Genève cắt đôi Việt Nam năm 1954. Bố tôi ở kháng chiến về Hà Nội. Mẹ tôi chạy Cộng Sản vào Sài Gòn. Chị tôi ở lại Hà Nội với bố. Tôi theo mẹ vào Sài Gòn.

Lớn lên trong thời chiến, đi lính là trách nhiệm chung của thanh niên. Có khác chăng, tôi là một trong số ít người đã kể lại trung thực sự thua bại của mình, của một đơn vị thiện chiến nhất nhì của miền Nam, bị bó tay trước kẻ thù vì… hết đạn. Đó là chuyện Tháng Ba Gãy Súng.

Còn trong Nếu Đi Hết Biển, có hai điều tôi nhắc đến, là chuyện lần đầu gặp gỡ giữa hai bố con từ hai giới tuyến sau chiến tranh: khi tôi bị tù ở Thanh Hóa, bố tôi vào thăm, không được gặp con vì ông dính dáng đến vụ Nhân Văn – Giai Phẩm trong quá khứ. Tôi chỉ được gặp bố mấy năm sau. Cuộc gặp gỡ lần đầu tiên của hai bố con đầy bất ngờ ở trại tù Bình Điền, Huế. Thứ hai, là chuyện đơn vị Thủy Quân Lục Chiến chúng tôi hụt lấy lại đảo Hoàng Sa vì bị bộ đội Cộng Sản cầm chân, ngăn cản bằng những trận đánh vi phạm hiệp định ngưng bắn, khiến chúng tôi phải bận "dẹp giặc" trong lúc đang chuẩn bị xuống tàu tiến quân ra Hoàng Sa, vừa bị Trung Cộng chiếm trước đó vài ngày, vào nửa cuối tháng 1 năm 1974.

 

LQM: Theo ông cho biết, khi viết Tháng Ba Gãy Súng được một số trang rồi ông không viết tiếp nữa. Lý do nào sau đó thúc đẩy tác giả của nó viết tiếp hồi ký này?

CXH: Tôi ở trại tỵ nạn qua Mỹ được đâu khoảng một năm. Ở nhà của nhà văn Hoàng Khởi Phong, chung với cha con nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Tôi đọc được trên báo lời phát biểu của một ông tướng "làm mất nước là tội chung của mọi người, lớn tội lớn bé tội bé", tôi điên tiết lên. Chỉ có những kẻ bỏ đơn vị mà chạy, chỉ những kẻ có quyền hành trong tay đã đánh lừa thuộc cấp để chạy lấy thân, những kẻ chiến đấu "đến giọt máu cuối cùng của người khác", mới là những kẻ có tội. Tôi viết để chứng minh, tôi và những người lính cầm súng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, không có tội.

Khi viết được khoảng vài chục trang, tự nghĩ là mình chữ nghĩa mình kém nên bỏ ngang, không viết tiếp. Trong bữa nhậu với mấy đồng đội cùng tiểu đoàn, chúng tôi nhắc lại chuyện bị bắt trong cuộc rút quân, kiểm điểm bạn bè đồng đội ai còn ai mất. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác tình cờ ngồi nghe, sau đó hỏi tôi sao không viết lại. Tôi cho biết là đã viết nhưng thấy viết dở nên chưa viết tiếp. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác lấy đọc, rồi tự ý đăng trên một tờ tuần báo mà anh đang làm chủ bút. Thế là sau đó cứ đăng hết từng đoạn, anh Giác lại thúc tôi viết tiếp. Nếu không có anh Nguyễn Mộng Giác tự ý đem đăng và đòi bài như đòi nợ, thì đã không có quyển Tháng Ba Gãy Súng và không có "nhà dzăng" Cao Xuân Huy, vì hồi ký viết cho mình thì lai rai viết tà tà bao giờ chả được!

 

LQM: Một số hồi ký chiến tranh viết từ hải ngoại và trong nước, được nhận định như thiếu trung thực hay có phần xuyên tạc sự thật. Là một nhân chứng và nạn nhân chiến tranh, ông nghĩ sao?

CXH: Cô muốn nói những hồi ký hoặc tác phẩm ở trong nước? Nghề của họ là xuyên tạc sự thật từ xưa đến nay rồi. Lịch sử họ còn viết lại theo ý họ, huống chi chuyện chiến tranh vừa qua. Tôi nhớ là có lần đọc được trên trang web của báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng Sản, có một bài viết lại về trận đánh ở Cửa Việt trước giờ ngưng bắn ngày 28 tháng 1 năm 1973 - trận đánh này tôi tham dự từ đầu đến cuối và đang viết lại - họ bịa đặt mà không cần biết trình độ người đọc bây giờ khác với việc họ có thể tuyên truyền cho những nông dân không biết chữ thời Cải Cách Ruộng Đất năm 1956 nữa. Trong bài này họ viết là đã dùng dây kẽm gai căng làm hàng rào của căn cứ quân sự để thay thế cho dây… điện thoại!

Còn những hồi ký hoặc tác phẩm viết sai sự thật của những người ở hải ngoại, họ viết với mục đích là chạy tội hoặc tự đánh bóng. Cả hai loại đó mình để ý làm gì.

 

LQM: Theo ông, tiểu thuyết lịch sử hay hồi ký lịch sử, có phải chỉ là sự cạnh tranh với tài liệu của sử gia không?

CXH: Không. Lịch sử là sự kiện. Sử gia tìm tòi, nghiên cứu và dựa theo nhận định riêng để đánh giá sự kiện nào thật, sự kiện nào không thật của những tài liệu được viết từ những sử gia trước. Tiểu thuyết lịch sử là dựa vào những sự kiện trần trụi, thô nhám của lịch sử, tô son vẽ phấn theo sự tưởng tượng của tác giả. Còn hồi ký lịch sử hoàn toàn dựa trên hoàn cảnh cá nhân của người viết. Ba lãnh vực tuy cùng mang tính chất lịch sử nhưng hoàn toàn khác nhau, không thể có sự cạnh tranh nào hết.

 

LQM: Giới truyền thông Hoa Kỳ so sánh chiến tranh Iraq với chiến tranh Việt Nam. Với kinh nghiệm trong đời quân ngũ, ông nhận thấy sự so sánh này thế nào?

CXH: Chiến tranh Việt Nam trước kia và chiến tranh Iraq bây giờ tuy có khác nhau ở địa dư, nào có khác gì nhau, đều phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Ngày trước, khi Hoa Kỳ và Trung Cộng còn đối nghịch, thì Việt Nam và Đài Loan là hai con chốt ngăn chặn sự bành trướng thế lực của Trung Cộng. Đến khi hai thế lực đối nghịch đó bắt tay nhau, thì Hoa Kỳ đem Việt Nam ra bỏ ngoài chợ và đá đít Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc để lấy chỗ cho Trung Cộng vào.

Cũng vậy, bây giờ Hoa Kỳ lấy cớ Iraq có vũ khí giết người hàng loạt, đổ quân ào ạt lật đổ chính quyền Saddam Hussein, vậy mà mấy năm rồi, vẫn không chứng minh được Iraq có cái thứ vũ khí ấy.

Quân sự chỉ là cánh tay của chính trị. Mà đám chính trị gia là một lũ tráo trở, lưỡi không xương, ăn không nói có, nói ngược nói xuôi, nói thế nào cũng được. Thành ra, chiến tranh Việt Nam khi trước hay chiến tranh Iraq bây giờ giống nhau ở chỗ đều với mục đích phục vụ cho Hoa Kỳ. Nhưng nói cho cùng, đánh nhau là để cho mình được, chứ chẳng nhẽ cho thằng khác được à?

 

LQM: Có vài quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt đã tử trận trong cuộc chiến Iraq. Cảm nghĩ của tác giả Tháng Ba Gãy Súng về việc này? Ông ủng hộ hay chống (cựu) chính phủ Bush trong chiến tranh Iraq?

CXH: Thế giới không thể không có chiến tranh. Không đang đánh nhau không có nghĩa là đang hòa bình. Giản dị là quyền lợi của các siêu cường đối nghịch, lúc thì có thể hợp tác, lúc thì không. Chiến tranh quân sự hay chiến tranh kinh tế, đều chỉ là những mặt khác nhau của chiến tranh. Chỉ có điều là đánh lớn hay đánh nhỏ, chiến tranh thế giới hay chiến tranh cục bộ. Vấn đề là chiến tranh được chuyển đến vùng đất khốn khổ nào trên quả đất. Như tôi vừa trả lời, đánh nhau ở Iraq hay không ở Iraq, đều nằm trong mục tiêu của cường quốc, khác chăng là chính phủ Bush đẩy chiến tranh ra khỏi đất nước Hoa Kỳ sau vụ 911. Là người Việt Nam, mang quốc tịch Hoa Kỳ, tôi chống lại độc tài và ủng hộ chính phủ Bush trong trận chiến này.

 

LQM: Là một trong những nhà văn hải ngoại có mặt trong cuốn Nếu Đi Hết Biển. Tại sao ông quyết định nhận lời mời phỏng vấn của đạo diễn Trần Văn Thủy?

CXH: Giản dị thôi. Tình trạng sách báo ở hải ngoại không vào được trong nước, đây là dịp để tôi có thể nói cho người trong nước những suy nghĩ của một thằng lính miền Nam về cuộc chiến vừa qua. Rõ rệt là quyển sách này đã được rất nhiều người trong nước đọc. Nhân việc trả lời phỏng vấn này, tôi đã nói được chuyện quân đội miền Nam đang chuẩn bị lấy lại ngay lập tức quần đảo Hoàng Sa, sau khi quần đảo này của Việt Nam bị Trung Cộng chiếm hồi đầu năm 1974. Nhưng cuộc chuyển quân này đã bị quân miền Bắc cố tình ngăn cản, đánh cầm chân để cho Hoàng Sa hoàn toàn lọt vào tay Trung Cộng. Hơn nữa, tôi thích đạo diễn Trần Văn Thủy, dù trước đó chưa gặp mặt, qua hai cuốn phim "tài liệu" Chuyện Tử Tế Hà Nội Trong Mắt Ai. Hai cuốn phim này là hai cái tát vào mặt chế độ độc tài. Tôi cũng muốn nhân đó mà tát vào mặt đảng Cộng Sản độc tài Việt Nam một cái chơi.

 

LQM: Khi Nếu Đi Hết Biển được xuất bản vào thời điểm ấy, đã có nhiều phản ứng dữ dội từ cả hải ngoại lẫn trong nước. Ông nghĩ sao về việc này?

CXH: Trong nước, những người không ưa chế độ đọc rất thích. Ngoài nước cũng rất nhiều người thích. Những người không thích họ cũng đặt vấn đề một cách đàng hoàng, tôi rất quý trọng dù họ có cái nhìn giống tôi hay không. Cũng có một vài người chụp mũ rồi chửi rủa kiểu hàng tôm hàng cá, chẳng có gì đáng bận tâm.

 

LQM: Ông nhắc đến thân phụ trong trả lời phỏng vấn của Trần Văn Thủy. Độc giả chỉ đọc được câu "...Ông già của anh là một tên tuổi quen thuộc, được quí trọng trong giới cầm bút ở miền Bắc...". Xin ông cho biết thêm về hoạt động văn học của ông cụ.

CXH: Bố tôi là một người làm thơ và viết báo. Ông đi kháng chiến từ hồi còn trẻ. Về Hà Nội năm 1954, sau đó vì dính đến vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, ông bị quản thúc và bị cấm sáng tác, chỉ được viết về kịch ảnh. Từ đó, ông chỉ còn làm thơ "chui" cho người thân đọc, và dịch những tác phẩm văn chương ngoại quốc được chỉ định, để kiếm sống.

 

LQM: Thời gian gần đây xảy ra tranh chấp hải phận trong vùng Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông có nghĩ rằng đây là ý đồ xâm chiếm lãnh thổ của Trung Quốc đối với các nước láng giềng, đặc biệt là đối với Việt Nam?

CXH: Suốt một nghìn năm Bắc thuộc, Việt Nam đã bị Tàu coi là quận huyện của họ, và Trung Cộng cũng đang dạy cho học sinh của họ là Việt Nam thuộc về nước Tàu, thì lúc nào mà họ chẳng có ý đồ xâm chiếm.

 

LQM: Theo thống kê cá nhân người thực hiện phỏng vấn, thì trên 80% câu trả lời của người Việt hải ngoại là sẽ ủng hộ Việt Nam (Cộng Sản) trong việc bảo vệ đất nước, chống lại mưu đồ thôn tính của Trung Quốc. Với tư cách là một cựu quân nhân của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, và là một tù binh chiến tranh của chế độ Cộng Sản, ông có đồng ý với 80% câu trả lời kia không?

CXH: Việt Nam lâm nguy trước mưu đồ thôn tính của Trung Cộng, thì chuyện bảo vệ đất nước là bổn phận của tất cả những ai mang dòng máu Việt Nam trong người, ở cả trong lẫn ngoài nước, bất kể là cựu quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa, hay là bộ đội Cộng Sản bây giờ. Đã là bổn phận thì làm gì có chuyện đồng ý hay không. Những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã từng chiến đấu chống Tàu Cộng trước năm 1975 ở Hoàng Sa và những người bộ đội Cộng Sản đã từng chiến đấu chống Tàu Cộng năm 1991 ở biên giới, đều là những người chiến đấu bảo vệ lãnh thổ. Dân tộc ta ở sát cạnh một kẻ thù truyền kiếp khổng lồ thì tinh thần bảo vệ đất nước đã nằm trong máu của từng người.

Ngày nay, ở trong nước, nhà cầm quyền Cộng Sản công khai cõng rắn Trung Cộng vào đầy Tây Nguyên, vào Biên Hòa vào Thanh Hóa và vào đâu đâu nữa. Thẳng tay đàn áp, bắt bớ giam cầm những người dân nào dám tỏ thái độ chống Trung Cộng dưới bất cứ hình thức dù ôn hòa nào. Vạch trần bộ mặt xâm lược của Trung Cộng cũng bị kết tội y như tội đấu tranh đòi dân chủ cho đất nước. Bộ đội thì đớn hèn, cam tâm nhìn ngư dân bị Trung Cộng sát hại ngay trên phần lãnh hải của mình mà không dám phản ứng. Như vậy thì lời kêu gọi bảo vệ đất nước ở đâu, ai kêu để mà có ủng hộ hay không. Dù vậy, tôi tin rằng với tinh thần bất khuất của dân tộc, người dân không ai cam tâm nhìn đất nước mình biến thành quận huyện của Tàu, sẽ lại có những cuộc kháng chiến giành lại đất nước. Lúc ấy, dù tuổi đời đã ngấp nghé miệng lỗ, tôi cũng sẽ tham gia hết mình.

 

LQM: Đi một vòng thế giới từ Mỹ qua Iraq đến Trung Quốc cũng chỉ loanh quanh về thời sự chính trị, chắc hẳn ông cũng… ná thở rồi (!), bây giờ chúng ta có thể quay về sân chơi văn chương đi dạo thêm một vòng nữa, có được không, thưa ông?

CXH: Vâng, mời cô.

 

LQM: Với tư cách chủ biên, ông có thể cho độc giả biết tại sao tạp chí Văn Học đình bản?

CXH: Tạp chí Văn Học sau khi ra số 235 tháng 11 và 12 năm 2007, tôi bị ung thư mắt, nên tạm thời đình bản. Hơn một năm sau, tôi đã cố gắng thực hiện số tiếp theo 236 phát hành vào tháng 3 và 4 năm 2008, sau đó lại bị đình bản thêm một lần nữa cũng vì cái bệnh quái ác ấy.

 

LQM: Những khó khăn nào gây cho tạp chí Văn Học không thể tồn tại nữa, xin ông cho độc giả biết rõ hơn.

CXH: Các tạp chí văn chương ở hải ngoại đều gặp những khó khăn chung. Người đọc ngày càng ít đi, người viết ngày càng mai một đi. Tiền in và tiền tem ngày một tăng mà quảng cáo thì ít. Riêng trường hợp tạp chí Văn Học, tôi vừa bị bệnh vừa bị thất nghiệp vào ngay thời kỳ kinh tế khủng hoảng, nên không thể tiếp tục cáng đáng tờ báo được nữa.

 

LQM: Tạp chí Văn Học có một đời sống khá dài, nay phải kết thúc sự góp mặt của nó trong dòng văn học hiện đại. Đó là một điều đáng buồn, cũng là một mất mát không nhỏ cho độc giả nói chung và các tác giả nói riêng. Xin ông phát biểu cảm nghĩ về sự kiện này?

CXH: Tôi ví tạp chí Văn Học như một sân chơi, để các tác giả có chỗ "trình làng" những sáng tác của mình cho độc giả thưởng thức. Bây giờ diễn viên thì lèo tèo, khán giả thì thưa thớt. Sân chơi còn đó nhưng hoang phế. Những người đóng góp công sức nuôi nấng tờ tạp chí này, các tác giả, những độc giả buồn một, thì tôi buồn đến mười, cô ơi.

 

LQM: Ông có vài lời dành riêng cho độc giả của Văn Học, cũng như những tác giả đã góp công hợp tác với tạp chí trong thời gian qua không?

CXH: Tôi xin gửi đến các tác giả cũng như độc giả và thân hữu, lời xin lỗi vì tạp chí Văn Học đình bản bất ngờ, điều đáng buồn xảy ra ngoài ý muốn của tôi.

 

LQM: Ông cho biết ý kiến về nội dung và hình thức của tạp chí Hợp Lưu, bộ mới do nhà thơ Đặng Hiền làm chủ biên?

CXH: Về hình thức, tạp chí Hợp Lưu là một tờ tạp chí đẹp ngay từ những số đầu tiên, và từ khi nhà thơ Đặng Hiền làm chủ biên, tờ báo ngày một đẹp thêm. Đây là tờ báo văn chương đẹp nhất của người Việt ở hải ngoại, là một điểm son. Về nội dung, Hợp Lưu thêm khởi sắc nhờ có nhiều bài của những người viết trẻ và rất mới. Tuy người đọc phải chịu khó gạn lọc, cũng là chuyện thông thường, nhưng ngôn ngữ lạ và tư duy mới, cách viết mới mang lại những sinh động trong sáng tác. Còn giá trị văn chương của Hợp Lưu, tôi tin rằng mỗi độc giả sẽ tìm thấy cho mình một giá trị riêng để thưởng thức. Dù không đồng ý với chủ trương của Hợp Lưu ngay từ số ra mắt, nhưng tôi cũng không phản đối vì đó mới thực là trăm hoa đua nở. Và lúc nhà thơ Đặng Hiền làm chủ biên (từ số 83) cũng là khoảng thời gian tôi phụ trách tạp chí Văn Học trở lại, tôi muốn cùng với Đặng Hiền song song điều hành hai tờ tạp chí với hai chủ trương khác nhau, nhưng bất thành vì Văn Học bị đình bản. May mà Hợp Lưu còn đứng vững, giữ được sân chơi cho người viết và người đọc.

 

LQM: Vẫn là câu hỏi cũ đã dành cho nhiều tác giả, nhà văn Cao Xuân Huy cũng không ngoại lệ: Ông nghĩ sao về sự sống còn của tạp chí in trên giấy, trong khi các báo điện tử, các trang mạng, các blog… ào ào... khoe nhan sắc ngoài (bìa) trong (ruột), chưa kể những nguyệt san, tuần báo, nhật báo đều có ấn bản điện tử riêng, và số lượng độc giả của họ cũng rất đông so với tạp chí in giấy.

CXH: Tôi rất quý những tờ báo in – nói riêng về các tạp chí văn chương – vì nó là một… tờ tạp chí. Những con chữ nằm trong tờ báo được lưu giữ ở tủ sách gia đình, ở thư viện. Còn chữ trên các trang mạng sẽ lần lượt trước sau bị xóa đi hoặc biến mất tùy theo ý thích riêng tư rất cá nhân của người điều hành trang mạng đó. Tuy nhiên, sự ồn ào và đa dạng của các trang mạng hấp dẫn và lôi cuốn người đọc hơn báo in, lại không tốn tiền mua. Theo tôi, báo mạng sẽ giết – tuy không giết chết hẳn – những tờ báo in.

 

LQM: Hy vọng của ông về văn học hải ngoại?

CXH: Câu hỏi to quá. Nếu nói riêng về văn học viết bằng chữ Việt ở hải ngoại, thì hy vọng khá mong manh. Người viết đang vơi dần và người đọc cũng sắp cạn. Đến một lúc nào đó thì văn chương chữ Việt chỉ còn là một ngọn đèn leo lét tắt dần vào quá khứ...

 

LQM: Cám ơn ông đã dành thời gian cho cuộc mạn đàm.

 

 

Lê quỳnh mai

Tháng 9-2009

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 141)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 206)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 323)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 587)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 459)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2645)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1436)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2536)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2036)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1878)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11747)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18349)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17371)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 319)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2536)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2654)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4032)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 587)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2036)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3831)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3324)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2644)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2544)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2918)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2893)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 141)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 459)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1436)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4691)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14919)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31049)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37821)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12757)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14051)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5300)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7852)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6912)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7334)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8292)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 206)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9910)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9103)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi